1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề tài: Ngiên cứu Văn học Việt Nam

7 288 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tiểu luận tìm hiểu về nền Văn học Việt Nam và sự du nhập của các nền văn học qua các giai đoạn.Trong các nước Đông Nam Á thì Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa sân sắc nhất (có người đã xếp văn hóa Việt Nam vào khu vực văn hoá Đông Á) và sự tiếp xúc kéo dài xuyên suốt lịch sử văn hoá Việt Nam, thậm chí tiếp thu văn hoá thế giới cũng qua con đường Trung Quốc.

Trang 1

Câu 1: Trong các nước Đông Nam Á thì Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa sân sắc nhất (có người đã xếp văn hóa Việt Nam vào khu vực văn hoá Đông Á) và sự tiếp xúc kéo dài xuyên suốt lịch sử văn hoá Việt Nam, thậm chí tiếp thu văn hoá thế giới cũng qua con đường Trung Quốc Có hai con đường tiếp xúc: con đường di dân và con đường triều đình Con đường triều đình mà Triệu Đà

và sau này là các thái thú thời Bắc thuộc như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp… mang đến Đó là những thiết chế Nhà nước, chữ Hán, sách Nho học đủ các loại… Con đường di dân là con đường của những người Hoa dưới tất cả các dạng, sang cộng cư với người Việt mang theo các nghề thủ công, các tục lệ thờ cúng, cưới xin, tang ma… Đó là con đường dân gian

Văn học Việt Nam là nền văn học của nhiều dân tộc, trong đó văn học của người Việt (Kinh) đóng vai trò rất quan trọng Văn học của người Việt có hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết.Văn học chữ Hán và chữ Nôm của người Việt đều chịu ảnh hưởng đậm nét của văn học Trung Quốc: từ tư liệu, điển cố văn chương, thể thơ, thể văn đến cả lối khắc bản gỗ để in sách

Ảnh hưởng về chính trị, xã hội: thiết lập các bộ máy nhà nước chuyên chế tập quyền

- Ảnh hưởng về văn hoá, chữ viết, KHKT, tôn giáo (Nho giáo)

+ Nho giáo: ra đời ở Trung Quốc, do Khổng Tử sáng lập Du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc và được nhà Lý chính thức thừa nhận khi cho xây dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử Từ thời Lê trở thành tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị Nho giáo như tam cương (gồm ba mối quan hệ cơ bản là vua-tôi, cha-con, chồng-vợ), ngũ thường (gồm năm chuẩn mực đạo đức cá nhân bất di bất dịch là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín)vừa là chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của con người, vừa là những biện pháp để bảo đảm cho chính trị, nhân nghĩa được thực hiện

Về chế độ khoa cử được tổ chức mộ cách quy cũ ví dụ thời Trần có tất cả 14 khoa thi (10 khoa chính thức và 4 khoa phụ), 3 người đỗ đầu được gọi là Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa (Sau đặt thêm một học vị cấp cao nữa là Hoàng giáp)

+Kiến trúc: Văn Miếu - Quốc Tử Giám, hoàng thành Thăng Long, thành nhà Hồ

và một số công trình đền đài, tượng điêu khắc, tứ linh (long, ly, quy, phượng), …

có sự pha trộn phong cách kiến trúc của Trung Hoa

+ Văn học- nghệ thuật: Cơ sở tư tưởng của văn học nghệ thuật dựa trên Phật giáo

và Nho giáo Trong đó, tư tưởng nho giáo ảnh hưởng đến dòng văn học yêu nước dân tộc

Chữ Hán là chữ viết chi phối rất lớn đến hệ thống văn học nghệ thuật và đời sống văn hoá của nhân dân

+ Ngoài ra, các thành tựu về khoa học tự nhiên như bàn tính, lịch can chi, chữa bệnh bằng châm cứu… đều có tác động sâu rộng đến nền văn minh Đại Việt cũng như nền văn minh nước ta trong giai đoạn hiện tại

- Sự tiếp thu có chọn lọc mang bản sắc đặc trưng riêng của văn minh Đại Việt + Một thành tựu quan trọng của văn học nền văn minh Đại Việt là việc phổ biến chữ Nôm, vừa mang tính dân tộc , vừa mang tính dân gian , cải biến và Việt hóa

Trang 2

chữ Hán Chữ Nôm lúc bấy giờ được gọi là “Quốc ngữ”, “ Quốc âm” Tầng lớp Nho sỹ: tiêu biểu là Nguyễn Trãi

Việc du nhập thơ Đường vào văn thơ dân tộc, trước hết, cần phải nói rằng thơ Đường luật có một kết cấu chặt chẽ, ổn định Tính chất mô hình hóa khá cao, đây

là điểm khó khăn trong sáng tác nhưng lại tạo sự dễ dàng cho sự tiếp thu và

chuyển hóa, mô hình càng chặt thì càng dễ đưa đi xa Cũng như các nước trong khu vực, Việt Nam cũng tiếp thu phần ảnh hưởng của thơ đường.Hơn nữa, thơ Đường luật lại được đưa vào hệ thống thi cử nước ta Ở Việt Nam từ khoa thi Giáp Thìn (1304) đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 12, thơ Đường luật đã được đưa vào khoa cử Thông qua giao lưu giữa các nền văn hóa, các thể loại thơ được tăng dần Từ những cấu trúc đơn giản đến những cấu trúc phức tạp Trong các thể loại thơ ở Việt Nam ta có thể kể đến vài loại như lục bát, song thất lục bát, các thể loại thơ Đường luật như thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát

cú rồi đến các loại thơ mới và thơ tự do Sự khắt khe trong cấu trúc làm cho thơ Đường trở nên gần như một hình loại văn học chỉ dành riêng cho các tầng lớp trung lưu trở lên, là những người có giáo dục đường hoàng Chính vì sự khắt khe này, thơ Đường hiện nay dần dần bị phai nhạt và hầu như không còn ai để ý đến nữa

Câu 2:

Qua chữ viết tiếng Việt theo mẫu tự La Tinh, văn học Pháp thâm nhập vào văn học Việt Nam trên hai mặt:

- Ðem lại những thể loại mới vào văn học Việt Nam như thơ ngụ ngôn, tiểu thuyết văn xuôi

- Cách tân hình thức, thay đổi diễn xuất, phong cách, tạo ra nguồn cảm hứng mới, thoả mãn những thị hiếu mới, đề xuất những tư tưởng mới

Sự thâm nhập sớm nhất của văn học Pháp qua đường dịch thuật được thực hiện từ năm 1884 qua cuốn sách của Trương Minh Ký, Chuyện Phang-sa diễn ra quốc ngữ (16 chuyện ngụ ngôn của La Fontaine).Sự ra đời của lớp trí thức Tây học như: Trương Vĩnh Ký,Huỳnh Tịnh Của,Trương Minh Ký, những nhà nho miền Nam tiên phong trong việc dùng chữ quốc ngữ và có hấp thụ được văn hoá Âu Tây không phải là những tác nhân tích cực cho việc truyền bá văn chương Pháp.Về truyện và tiểu thuyết Pháp dịch ra tiếng Việt thì dịch giả đầu tiên cũng là Trương Minh Ký với cuốn Tê-lê-mạc phiêu lưu ký, Sài-gòn, 1887

Có thể nói việc áp dụng chữ quốc ngữ xuất phát từ trong Nam đã làm một cuộc Bắc tiến, lần hồi lấn át chữ nôm và chữ Hán, và đã thắng lợi hoàn toàn với quyết định năm 1918 của Triều đình Huế bãi bỏ các cuộc thi kiểu xưa của các triều vua chúa Việt Nam mà trong đó chữ viết chính là chữ khối vuông (Hán và nôm).Chữ quốc ngữ ở đây là để chỉ chữ viết, thứ chữ viết tiếng Việt dùng mẫu tự La Tinh Vào những năm đầu của thế kỉ XX, trong văn học Việt Nam, văn xuôi lãng mạn, văn xuôi hiện thực và phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng sâu sắc văn học phương Tây Các nhà thơ mới và các nhà văn Tự lực văn đoàn là những người tiên phong đổi mới theo tư tưởng phương Tây trong nhận thức và phản ánh.Văn xuôi lãnh mạn đã đưa vào văn học Việt Nam những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa lãng mạn

Trang 3

phương Tây Đó là tư tưởng chống phong kiến, đề cao ý thức cá nhân Từ những tiếp thu đối với văn học phương Tây, văn học lãng mạn Việt Nam đã có những bước chuyển biến mới trong kết cấu, cốt truyện và các hình thức phản ánh khác Các nhà văn trong Tự lực văn đoàn như Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nhất Linh, Thạch Lam, Thế Lữ đã “đem phương pháp Thái Tây ứng dụng vào văn chương An Nam”.Bên cạnh văn xuôi lãng mạn, văn xuôi hiện thực trong những thập niên đầu thế kỷ XX đã tiếp thu văn học phương Tây để hiện đại hóa thể loại tự sự Trong một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng (Lục xì, Làm đĩ ) in rõ dấu ấn phong cách

tự nhiên chủ nghĩa của E.Zola.các tiểu thuyết như: Chúa Tàu Kim Quy (phóng tác theoBá tước Monte-Cristo của A.Dumas), Cay đắng mùi đời (phỏng theo Không gia đình của H Malot), Ngọn cỏ gió đùa (phỏng theo Những người khốn khổ của V.Hugo) Những tác phẩm trên nổi bật về xu hướng đạo đức xã hội, ngợi ca cái đẹp, cái tốt, cái thiện và lên án, chống lại cái ác.Có thể nói rằng, thơ ca phương Tây, đặc biệt thơ ca Pháp hiện đại là nguồn mạch quan trọng làm đổi mới thơ ca Việt Nam hiện đại trong những thập niên đầu thế kỷ XX.Những quan niệm của phái tượng trưng về cảm giác cái tôi cá nhân đã in đậm nét trong các bài thơHuyền diệu, Nguyệt cầm (Xuân Diệu), Đi giữa đường thơm (Huy Cận), Đồ mi họa, Sọ người (Bích Khê) Các nhà thơ mới còn tiếp thu tính nhạc điệu, cái tiên nghiệm, tinh thần âm nhạc của thơ tượng trưng

Câu 3 :

Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay.Văn học dân gian Việt Nam mang những đặc trưng:

-Tính nguyên hợp:

-Biểu hiện ở sự hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại của nó

-Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện -nghệ thuật khác nhau

-Biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn , nhạc , diễn xướng , dân

ca v

-Tính truyền miệng:Văn học dân gian tồn tại , lưu hành và được lưu truyền từ đời này qua đời khác thông qua phương thức truyền miệng Đây là điểm khác biệt rất

cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết Quá trình truyền miệng vẫn tiếp tục

kể cả khi tác phẩm văn học dân gian đã được ghi chép lại

Nói truyền miệng là nói đến quá trình diễn xướng dân gian hào hứng và sinh động Người ta có thể kể , nói , hát, diễn tác phẩm văn học dân gian

Tính truyền miệng làm nảy sinh một hệ quả đó là tính dị bản của tác phẩm văn học dân gian

-Tính tập thể:Văn học viết là sáng tác của cá nhân, còn văn học dân gian lại là kết quả của quá trrình sáng tác tập thể

Quá trình sáng tác tập thể diễn ra như sau:

+ Lúc đầu một người khởi xướng, tác phẩm hình thành và được tập thể tiếp

nhận

Trang 4

+Sau đó những người khác( có thể ở những địa phương khác nhau, hoặc ở

những thời đại khác nhau) tiếp tục lưu truyền và sáng tác lại làm cho tác phẩm biến đổi dần phong phú hơn, hoàn thiện hơn cả về nội dung lẫn hình thức

+ Văn học dân gian dần dần trở thành tài sản chung của tập thể Mỗi người

đều có thể tiếp nhận, sử dụng, sửa chữa, bổ xung tác phẩm văn học dân gian

theo quan niệm và khả năng nghệ thuật của mình

-Tính dị bản:Văn học dân gian là sáng tác tập thể , nhân dân cùng tham gia vào công việc sáng tạo, biểu diễn, thưởng thức nên khi chưa có chữ viết các tác phẩm sáng tác và lưu truyền bằng miệng Việc truyền miệng nhau như thế, lâu ngày tác phẩm vhdg có phần biến đổi về hình thức, kết cấu ngôn từ… cho phù hợp với từng vùng miền địa

phương, song về nội dung thì ko thay đổi

Dị bản là đặc điểm của văn học đân gian do: Tính tập thể và tính truyền miệng quy định nên có tính dị bản là tất yếu

-Dị bản là có sự thay đổi về cách dùng từ ngữ cho phù hợp với mục đích sử dụng

vì vậy ở vùng miền nào sử dụng tác phẩm văn học dân gian đó có thể thay đổi từ ngữ cho phù hợp

VD:Râu tôm nấu với ruộc bầu

Chồng chang vợ húp gật đầu khen ngon

Dị Bản:

Râu tôm nấu với ruộc bù

Chồng chang vợ húp gật gù khen ngon

-Tính mô típ:tác phẩm văn học dân gian thường có cốt truyện ngắn gọn và mang những nét đặc trưng riêng biệt Đó là sự đan dệt hàng loạt những môtíp quen thuôc theo một hệ thống nhất định Những mô típ thường bất gặp như: nhân vật ngoài đời thần kì, dũng sĩ diệt đại bàng, diệt rắn, nhân vật chu du vào thế giới thủy cung, trận chiến giữa những kẻ cầu hôn, cây đàn thần, niêu cơm thần kì, nhân vật kết hôn và ngôi báu…Những truyện có một số mô típ giống nhau tạo nên một kiểu truyện, chỉ cần thay đổi vị trí ,các mô típ là đã cộ thể có một truyện mới, Ví

dụ:người ta đã tìm thấy hơn 600 truyện thuộc kiểu truyện Tấm Cám

Câu 4:Xuyên suốt lịch sử hàng ngàn năm của văn học Việt Nam có 2 chủ đề lớn

đó là yêu nước và nhân đạo

Chủ nghĩa yêu nước:đây là nội dung cơ bản của văn học Việt Nam từ thượng nguồn cho đến nay,có lẽ là điều gần như không còn chuyện gì để bàn cãi, tranh luận Bởi đó là một sự thật bao trùm gần như bất cứ niên đại nào, thời đại nào, xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, lịch sử văn hoá văn minh Việt Nam, lịch sử văn học Việt Nam

Văn hóa Ðại Việt, văn chương Ðại Việt khởi nguồn từ truyền thống sản xuất và chiến đấu của tổ tiên, từ những thành tựu văn hóa và từ chính thực tiễn hàng nghìn năm đấu tranh chống giặc ngoại xâm phương Bắc

Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới lại phải liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm như dân tộc Việt Nam Nhà Tiền Lê, nhà Lý chống Tống Nhà Trần chống Nguyên Mông Nhà Hậu Lê chống giặc Minh

Trang 5

Quang Trung chống giặc Thanh Những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại được tiến hành trong trường kỳ lịch sử nhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc không những tôi luyện bản lĩnh dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tin, khí thế hào hùng của dân tộc mà còn góp phần làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam: Chủ nghĩa yêu nước

Quá trình đấu tranh giữ nước tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học, bồi đắp, phát triển ý thức tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ Cho nên, chế độ phong kiến có thể hưng thịnh hay suy vong nhưng ý thức dân tộc, nội dung yêu nước trong văn học vẫn phát triển không ngừng

Các tác phẩm văn học yêu nước thời kỳ này thường tập trung thể hiện một số khía cạnh tiêu biểu như:

- Tình yêu quê hương

- Lòng căm thù giặc

- Yï thức trách nhiệm

- Tinh thần vượt khó, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc

- Ý chí quyết chiến, quyết thắng

- Ðề cao chính nghĩa của người Việt Nam trong những cuộc kháng chiến

Chủ nghĩa nhân đạo: Dù viết về cái gì, viết như thế nào, mục tiêu cuối cùng mà văn chương hướng đến vẫn là con người với ý nghĩa “thể hiện khát vọng làm người mãnh liệt và cao đẹp” Với tinh thần trên, chủ nghĩa nhân đạo luôn là tư tưởng quan trọng của văn học mọi thời đại Ðiều này cũng có nghĩa là, trong xu hướng phát triển chung của văn học nhân loại, văn học Việt Nam vẫn hướng tới việc thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa nhân đạo như:

- Khát vọng hòa bình

- Nhận thức ngày càng sâu sắc về nhân dân mà trước hết là đối với những tầng lớp thấp hèn trong xã hội phân chia giai cấp

- Ðấu tranh cho hạnh phúc, cho quyền sống của con người, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến

- Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động

- Tố cáo mạnh mẽ và đấu tranh chống những thế lực phi nhân

Ở Việt Nam, một trong những giá trị tiêu biểu của văn học giai đoạn 1930 – 1945

là nội dung nhân đạo Yêu nước và nhân đạo là hai mặt hữu cơ biểu hiện sức sống tiềm tàng của mỗi dân tộc Nhân dân ta vốn có truyền thống đùm bọc, yêu thương lẫn nhau từ ngàn xưa Điều đó được thể hiện qua truyền thuyết Bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ, qua các câu thành ngữ, ca dao như “Lá lành đùm lá rách” Trong trào lưu văn học hiện thực phê phán, chủ nghĩa nhân đạo vừa là thái độ đồng cảm, xót thương, trân trọng đối với những kiếp người bé nhỏ bị áp bức, bóc lột, vừa là tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, bạo tàn đang đè nén, áp bức con người.Những tác như:Dì Hảo,Mợ Nhu,Tắt Đèn…

Câu 6: ba cột mốc lớn của văn học việt nam :Từ thế kỷ X-XIX,Từ thế kỷ XX-CMT8/1945 và từ XX-CMT8/1945 đến nay

Văn học trung đại: ( thế kỷ X-XIX)

Trang 6

• Là thời đại văn học được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hóa, văn học vùng Đông Nam Á, Đông Á, có quan

hệ giao lưu với nhiều nền văn học khu vực, nhất là Trung Quốc

• Văn học chữ Hán : nhiều hiện tượng văn học lớn : thơ văn yêu nước và thơ thiền Lí – Trần, văn xuôi ( truyền kì, tiểu thuyết chương hồi, kí sự ) có giá trị nhân đạo và hiện thực

• Tác giả và tác phẩm tiêu biểu :”Bình Ngô đại cáo” – Nguyễn Trãi, “Bạch Vân am thi tập” – Nguyễn Bỉnh Khiêm, “Nhật kí trong tù” – Hồ Chí Minh, )

• + Văn học chữ Nôm : phát triển mạnh từ thế kỉ XV và đạt tới đỉnh cao ở cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX

• Thành tựu : Thơ Nôm Đường luật

• ( Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, … )

• Truyện Nôm bác học ( Sơ kính tân trạng, Truyện Kiều )

• Truyện Nôm bình dân ( Tống Trân – Cúc Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa )

• Khúc ngâm, hát nói,

Văn học hiện đại:tồn tại trong bối cảnh giao lưu văn hóa, văn học ngày càng mở rộng, tiếp xúc và tiếp nhận tinh hoa của nhiều nền văn học thế giới để đổi mới,có

hệ thống thi pháp mới

• - Chữ viết : chủ yếu viết bằng chữ quốc ngữ

Từ XX-CMT8/1945:

giai đọan giao thời văn học truyền thống, lại vừa tiếp nhận ảnh hưởng của văn học thế giới để hiện đại hóa

Văn học Việt Nam vẫn tiếp tục phát huy 2 truyền thống lớn của văn học dân tộc: Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo

=> Nhân tố mới: Phát huy trên tinh thần dân chủ

- Các thể loại văn xuôi phát triển đặc biệt là tiểu thuyết và truyện ngắn

- Thơ ca: Là một trong những thành tựu văn học lớn nhất thời kì này

Lí luận phê bình

- Ngôn ngữ, cách thể hiện, diễn đạt, trình bày

- Dần thoát li chữ Hán, chữ Nôm, lối diễn đạt công thức, ước lệ, tượng trưng, điển cố, qui phạm nghiêm ngặt của văn học trung đại

=> Kế thừa tinh hoa của truyền thống văn học trước đó

- Mở ra một thời kì văn học mới: Thời kì văn học hiện đại

Từ XMT8/1945 đến nay:

- Nền văn học của chế độ mới, vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của

Đảng Cộng Sản Chính đường lối văn nghệ của Đảng là nhân tố có tính chất

quyết định để tạo nên một nền văn học thống nhất về khuynh hướng tư tưởng,

về tổ chưc và về quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ

Hệ thống thể loại mới trong văn học không ngừng được phát triển và hoàn thiện Câu 5:Văn học hình thành hai bộ phận và phân hóa thành nhiều xu hướng

a Bộ phận văn học công khai

Trang 7

- Là bộ phận văn học tồn tại và phát triển được sự cho phép của chính quyền thực dân phong kiến

- Do sự khác nhau về quan điểm chính trị, về quan niệm thẩm mĩ bộ phận này lại được phân hóa thành nhiều xu hướng Trong đó có hai xu hướng chính:

- Xu hướng văn học lãng mạn

Những đặc trưng nổi bật của xu hướng này:

+ Là tiếng nói cá nhân tràn đầy cảm xúc, phát huy trí tưởng tượng, diễn tả khát vọng, ước mơ, coi con người là trung tâm của vũ trụ, khẳng định và đề cao cái tôi

cá nhân

+ Các đề tài quen thuộc: Tình yêu lứa đôi, miêu tả thiên nhiên

+ Các tác giả tiêu biểu: Các nhà thơ mới, nhóm Tự lực văn đoàn

+ Ưu điểm: Thức tỉnh ý thức cá nhân, chống lại những thứ lạc hậu, giải phóng cá nhân

+ Hạn chế: Ít gắn với đời sống chính trị của đất nước

- Xu hướng văn học hiện thực

Những đặc trưng nổi bật của xu hướng này:

+ Phản ánh trung thực hiện thực cuộc sống, phơi bày tình cảnh khốn khổ của người dân, chống sự áp bức bóc lột, lên án sự bất công Thấm đượm tinh thần nhân đạo

+ Các đề tài quen thuộc: Viết về đời sống người nông dân nghèo, viết về đời sống người trí thức nghèo

+ Các tác giả tiêu biểu: Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan

+ Ưu điểm: Phản ánh hiện thực cuộc sống một cách khách quan

+ Hạn chế: Chưa nhận thấy được khả năng làm cách mạng, khả năng tự thay đổi

số phận của người nông dân

b Bộ phận văn học không công khai

- Là những sáng tác của các chiến sĩ, các nhà hoạt động cách mạng

- Quan điểm sáng tác: xem văn học là vũ khí đấu tranh cách mạng

(Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi” của Hồ Chí Minh)

- Các tác giả tiêu biểu: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Sóng Hồng

- Ưu điểm: Nói lên tình yêu nước, khát vọng tự do của dân tộc, cổ vũ phong trào đấu tranh chống giặc ngoại xâm, tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc

- Hạn chế: Một số tác phẩm chưa giàu chất nghệ thuật

Ngày đăng: 16/07/2017, 21:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w