∗ Điện: khoảng 500 kW/tháng từ lưới điện thành phố Móng Cái ∗ Nước: khoảng 200 m3/ngày từ nước máy của thành phố Móng Cái − Các công trình môi trường: Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt
Trang 1
-o0o -ĐỀ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Dự án: ………
CHỦ ĐẦU TƯ
……….
Móng Cái, tháng 5 năm 2009
Trang 3NỘI DUNG ĐỀ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
●●●●●●●●●●●●●●●●●●●●
CHƯƠNG I SƠ LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG
1.1Thông tin chung
− Tên dự án: ………
− Tên chủ dự án: ………
− Địa chỉ liên hệ: ………
− Phương tiện liên lạc với cơ quan chủ dự án:
1.2Tóm tắt quá trình và hiện trạng hoạt động.
Công ty Liên doanh ………… (nay là ………… ) chính thức đưa dự án ……… vào hoạt động từ năm 2002 Khách sạn với tổng số 180 phòng nghỉ và 32 biệt thự với tổng số lao động là 908 người, do nhu cầu về nhà ở cho cán bộ nhân viên trong Công ty nên đến ngày 10/09/2004 Chủ tịch hội đồng quản trịnh đã phê duyệt dự án xây dựng nhà
ký túc xá 7 tầng để giải quyết chỗ ở, nghỉ ngơi cho cán bộ Công nhân viên trong công ty Căn cứ vào Quyết định của Chủ tịch Hội đồng quản trị đến ngày 10/2004 chúng tôi tiến hành xây dựng dự án nêu trên
Tổng diện tích khu vực dự án là 8.104 m2 gồm các hạng mục công trình
+ Nhà ở cán bộ công nhân viên (65m x 20m);
+ Khu văn phòng (25m x 20m);
+ Sân quần vợt (19m x 40m)
∗ Điện: khoảng 500 kW/tháng từ lưới điện thành phố Móng Cái
∗ Nước: khoảng 200 m3/ngày từ nước máy của thành phố Móng Cái
− Các công trình môi trường: Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt bằng bể phốt 03 ngăn theo quy định của Bộ Xây dựng
− Thời gian hoạt động: 24/24 h hằng ngày
Trang 41.2.3 Đặc điểm khí hậu – Tài nguyên thiên nhiên
Khu vự Dự án thuộc thành phố Móng Cái mang đặc điểm trung của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên tương đối ôn hòa, là điều kiện lý tưởng cho môi trường sinh vật và đặt biệt là du lịch và nghỉ dưỡng
∗ Nhiệt độ không khí
o Nhiệt độ trung bình năm là 22,4oC
o Nhiệt độ trung bình cao nhất là 26 oC
o Nhiệt độ trung bình thấp nhất là 26 oC
o Biên độ giao động nhiệt độ năm ở khu vực nghiên cứu khoảng 11 - 12 oC Nhiệt độ không khí trung bình tháng năm 2004 tại Móng Cái (oC)
Nhiệt độ 15.4 19.2 20.5 24.6 27.8 28.5 29.1 27.8 26.8 24.9 22.4 17.1 23.7
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Quảng Ninh, năm 2004)
∗ Lượng mưa:
Thành phố Móng Cái nằm trong vùng mưa lớn thuộc phía đông tỉnh Quảng Ninh Tổng lượng mưa trung bình năm từ 2600 đến 2800 mm, phụ thuộc vào số ngày mưa và cường độ mưa
Có khoảng 140 đến 160 ngày mưa/ năm (35 đến 44%) Tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè, có mưa nhiều nhất là tháng 7 và tháng 8
Mùa đông lượng mưa thấp chỉ chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm, tháng ít nhất vào tháng 12 và tháng 1
Lượng mưa trong ngày có thể lớn tới 350 đến 450 mm trong những ngày chịu ảnh hưởng của áp thấp và bão
Một năm có 5 đến 15 ngày mưa lớn với lượng mưa > 50mm tập trung vào các tháng 7 và 8 Số ngày mưa lớn với lượng mưa > 100mm không quá 06 ngày
∗ Bức xạ nhiệt:
Tổng số bức xạ nhiệt trung bình ở khu vực là 200kcal/cm2/năm
Trong đó, các ngày mùa hè, lượng bức xạ tổng cộng đều > 10kcal/cm2/tháng
Các tháng mua đông đạt khoảng 5 đến 7 kcal/cm2/tháng
∗ Chế độ gió:
Trang 5Mùa đông từ tháng 10 tới tháng 3 hướng của gió mùa Đông Bắc với hướng gió thịnh hành là Bắc và Đông Bắc
Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 8 với hướng gió thịnh hành là Nam và ĐÔng Nam từ biển thổi vào
Ngoài ra còn có gió địa nhiệt ban ngày thổi từ biển vào, ban đêm từ đất liền thôi ra nên rất dễ chịu
∗ Độ ẩm không khí
Khu vực có lượng mưa lớn, lượng bốc hơi trung bình hằng năm thấp lên độ ẩm không khí tương đối cao, đạt tới 83 – 85%
Độ ẩm không khí thấp nhất có thể xuống tới 14% vào tháng mùa khô
∗ Đặc điểm thủy văn
Khu vực biển Trà Cổ - Móng Cái có chế độ nhật triều cách nhau 2 giờ
- Độ cao song trung bình: 0,5 m
- Độ cao sóng cực đại: 2,5 m
Sông Bắc Luân chạy dọc theo biên giới Việt Trung đến Móng Cái, giao nhau hình chữ T với sông Ka Long rồi đổ ra biển Trà Cổ Tổng lưu vực sông là 773km3, lưu lượng mùa lũ là 7.000 m3/s Lưu lượng mùa kiệt là 12,1 m3/s
Về điều khiện tự nhiên
Địa hình: Móng cái có các dạng địa hình đồi núi, trung du và ven biển, địa hình bị
chia cắt khá phức tạp, hình thành 3 vùng rõ rệt: vùng núi cao phía Bắc; vùng trung du ven biển và vùng hải đảo Móng Cái có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của biển nên nóng ẩm và mưa nhiều
Hệ thống song suối của thành phố Móng Cái gồm có hai song chính: Sông Ka
Long, Sông Tràng Vinh
Sông Ka Long bắt nguồn từ Trung Quốc ở độ cao 700m, song dài 700km chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam rồi đổ ra Biển Đông
Sông Tràng Vinh (hay còn gọi là song Thín Cóong): dài trên 20km bắt nguồn từ các đỉnh núi cao 713; 546; 866 chảy qua Hồ Tràng Vinh rồi đổ ra biển
Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất: với diện tích tự nhiên 51.654,76ha, được chia thành 10 nhóm đất
chính: Đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất có tầng sét, đất xám, đất nâu tím, đất vàng đỏ, đất tầng mỏng đất nhân tác
Trang 6Tài nguyên nước: đảm bảo chất lượng cung cấp nước sinh hoạt
- Nguồn nước mặt: lượng nước các con sông ở Móng Cái khá phong phú và phân phối tương đối đều theo không gian
- Nguồn nước ngầm: tổng trữ lượng nước ngầm của Móng Cái cũng rất lớn, có khoảng 1500m3/ngày và phân bố đều trong thành phố
Tài nguyên rừng: hiện có khoảng 18431,71ha đất lâm nghiệp, phong phú về
chủng loại, chiếm 35,68% diện tích tự nhiên của Thành phố
Khoáng sản: trên địa bàn thành phố Móng Cái có các loại khoáng sản sau đây:
Đá Granit (Lục Phủ), cao lanh (Kim Tinh, Vĩnh Thực), Titan (Trà Cổ, Bình Ngọc, Vĩnh Thực) và cát sỏi dùng cho xây dựng
Tài nguyên biển: Với chiều dài bờ biển 50 km, có vùng biển rộng, diện tích bãi
triều lớn, thuận lợi cho việc phát triển nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế biển thủy, hải sản (hiện nay đã khoanh nuôi được 410 ha) Nằm trong quần thể du lịch sinh thái Hạ Long, Cát Bà, Trà Cổ có bãi cát mịn, sóng được gió lớn mang từ biển vào một nét riêng biệt, độc đáo tạo nên tài nguyên biển ở Móng Cái hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển các điểm
du lịch biển lý tưởng
Tài nguyên du lịch và nhân văn: Móng Cái là nơi có nhiều phong cảnh đẹp nổi
tiếng, khí hậu trong lành, có bờ biển trải dài 17km bằng phẳng với bãi cát mịn màng; có cửa khẩu Quốc tế nên có khả năng thu hút nhiều du khách trong nước và nước ngoài Trên địa bàn Thành phố còn nhiều chùa triền: chùa Khánh Linh, chùa Xuân Lan, nhà thờ Trà Cổ, cùng với các danh thằng khác với những nét đặc trưng riêng biệt tạo nên một quần thể du lịch độc đáo, đa dạng mà ít nơi có thể sánh kịp, làm tăng them sự chú ý đối với du khách
Thiên nhiên ban tặng cho Móng Cái nhiều phong cảnh đẹp, ở địa đầu Tổ quốc, có nhiều di tích lịch sử, văn hóa lại nằm trong địa bàn trong điểm phát triển du lịch của cả nước Nhân dân Móng Cái đa dạng về thành phần dân tộc mang đậm nét văn hóa đặt sắc,
có đức tính cần cù , đoàn kết, mến khách Điều này đã làm phong phú tài nguyên du lịch
và nhân văn của nơi địa đầu tổ quốc biên cương này
Thực trạng môi trường
Móng cái là thành phố Cửa khẩu nằm dọc theo bờ biển, hầu hết dân cư sinh sống dọc theo đới bờ, trên hạ lưu các con sông Như vậy tất yếu các hoạt động sản xuất – kinh doanh, du lịch, sinh hoạt dân cư đã và sẽ làm ô nhiễm các vùng cửa sông, nước biển ven
bờ, dần ô nhiễm môi trường sinh thái của Thành phố Do vậy, cùng với việc tăng cường khai thác có hiệu quả nguồn lời một cách tối đa nhằm phát triển kinh tê – xã hội, thì việc đầu tư tái tạo, bảo vệ cảnh quan môi trường tương xứng với mức độ đầu tư khai thác và yêu cầu đảm bảo cho phát triển bền vững là điều hết sức cần thiết
Trang 71.2.4 Điều kiện kinh tế, xã hội khu vực dự án và Thành phố Móng Cái
∗ Dân số:
Tính đến tháng 7 năm 2007, dân số toàn Thị xã Móng Cái là 79.015 người, 17.724
hộ, bao gồm 5 dân tộc chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm khoảng 90%, dân tộc thiểu số Nùng, Mán, Sán Chỉ… chiếm gần 10%, có nguồn gốc sinh sống lâu đời Trong đó dân số
đô thị có 42.134 người, chiếm 53,32%, dân số nông thôn là 36,881 người, chiếm 46,68%
Số người trong độ tuổi lao động là 50.176 người (chiếm 63,5% dân số)
∗ Tình hình kinh tế
Cơ cấu phát triển kinh tế của thành phố Móng Cái là thương mại, du lịch dịch vụ
và nông nghiệp
Hoạt động thương mại dịch vụ du lịch phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây do lưu thông hàng hóa tham quan du lịch giữa hai nước Việt Trung qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái Kết quả phát triển kinh tế hằng năm như sau:
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân tăng từ 12 đến 14%
- Giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN tăng từ 10 – 15%/ năm
- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5%/ năm
- Sản xuất lương thực đạt trên 17.000 tấn/năm
- Tổng giá trị đầu tư xây dựng cơ bản: 25 – 40 tỷ đồng/năm
∗ Hiện trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
a) Hiện trạng giao thông
Hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy Móng Cái tương đối tốt:
- Đường quốc lộ 18A nối từ Thành phố Hạ Long tới trung tâm Thành phố Móng Cái dài 175km, đã và đang được cải tạo, nâng cấp mở rộng
- Tuyến đại lộ Hòa Bình qua sông Ka Long đã được hoàn thiện và đưa vào sử dụng; tuyến đường từ trung tâm thành phố Móng Cái đến Trà Cổ dài 12km đã được đưa vào sử dụng với chất lượng mặt đường tương đối tốt
- Cảng Thọ Xuân, Dân Tiến, Vạn Gia là nững cảng phục vụ nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách trong và ngoài tỉnh
b) Hiện trạng cấp nước
Hiện tại, nước sinh hoạt cho thành phố được lấy từ nhà máy nước với công suất Q
= 5.4m3/ngày đêm, nguồn nước từ hồ Tràng Vinh, Quốc Đông và Đoan Tĩnh Phần lớn người dân trung tâm thành phố dùng nước máy bơm, số còn lại dùng nước giếng đào, nước trong nhưng về mùa khô dễ xảy ra tình trạng khan hiếm nước, tại khu vực Trà Cổ thường xảy ra tình trạng nước bị nhiễm mặn
Trang 8Khu vực dự án chưa có đường ống dẫn nước, chủ đầu tư tiến hành đấu nối vào hệ thống ống chung dọc đường 18A
c) Hiện trạng cấp điện
Điện lưới quốc gia 110KV khu vực miền Bắc thông qua trạm biến áp 11KV Móng Cái: 110/22/10 KV – 1x16MVA và 95 trạm biến áp lưới 22-10/0,4KV với tổng dung lượng mỗi máy là 15.000KVA
d) Công trình thủy lợi
Cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất cho thành phố Móng Cái gồm 4 hồ chính:
- Hồ Tràng Vinh: Tổng dung tích 53.000.000 m3
- Hồ Đoan Tĩnh: dung tích 1.500.000 m3
- Hồ Quất Đông: dung tích 1.500.000 m3
- Hồ Kim Tinh
Kênh Tràng Vinh được bê tong hóa, cung cấp nước sản xuất nông nghiệp cho thành phố Móng Cái
Trang 9CHƯƠNG II THỐNG KÊ, ĐÁNH GIÁ CÁC THẢI PHÁT SINH
Các nguồn thải của Công ty hầu hết là chất thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên và một phần ít chất thải nguy hại được chúng tôi thống kê như sau:
2.1 Đối với khí thải, tiếng ồn và độ rung
Các nguồn phát sinh khí thải, tiếng ồn và độ rung tại ký túc xá và sân chơi thể thao bao gồm:
- Khí thải từ phương tiện giao thông ngoài đường Tuệ Tĩnh, các loại xe cơ giới ra vào khu ký túc…
- Tiếng ồn và rung từ sân tennis
a. Khí thải từ phương tiện giao thông
Phương tiện giao thông bao gồm xe hơi, xe gắn máy ra vào trong khuôn viên Ký túc xá và đi lại trên đường Tuệ Tĩnh chủ sử dụng nhiên liệu là xăng, dầu DO Khi nhiên liệu bị đốt cháy sẽ phát sinh các chất ô nhiễm là: bụi, SO2, NO2, CO Tuy nhiên, lượng xe được phép lưu thông trong khuôn viên dự án rất ít nên tải lượng ô nhiễm từ nguồn này không đáng kể và không có khả năng gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng
b. Tiếng ồn và rung
Do đặc thù là chỗ nghỉ ngơi cho cán bộ công nhân viên nên có thể nói đây là một trong những hoạt động đòi hỏi độ yên tĩnh cao nhất, do đó các hoạt động bên trong luôn hướng tới việc giảm thiểu tiếng ồn đến mức thấp nhất có thể, thậm chí ngay cả việc giao tiếp giữa cán bộ nhân viên cũng đòi hỏi giữ trậ tự
Mặc dù vậy, xét một cách tổng thể, hoạt động của dự án vẫn có một số nguồn gây
ra tiếng ồn với các mức ồn khác nhau Các nguồn gây ồn điển hình có thể là:
- Hoạt động của các phương tiện lưu thông được phép lưu hành trên đường, trong khuôn viên dự án
- Tiếng ồn từ hoạt động chơi thể thao
- Hoạt động của con người trong ký túc
Các nguồn gây ồn kể trên đều có mức độ ồn rất thấp và thực tế không gây ảnh hưởng đến môi trường bên trong dự án cũng như môi trường xung quanh
Trang 102.1.2 Tác động do ô nhiễm môi trường không khí
Nguồn ô nhiễm không khí trong quá trình hoạt động Dự án chủ yếu là do các tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường khô khí hoạt động giao thông trên đường 18A, đường Tuệ Tĩnh: trong trường hợp này là các sản phẩn cháy như dầu DO (hỗn hợp khí SOx,
NOx, CO, CO2 v.v.) Ngoài ra còn có các khí gây mùi như H2S, NH3, CH3SH và các khí khác như CH4, CO2 phóng thích do sư phân hủy kỵ khí của các hợp chất hữu cơ có trong rác thải và nước thải Tất cả các loại khí thải, bụi và các chất gây mùi này đều có khả năng gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, mức độ tác động sẽ còn phụ thuộc vào nồng độ của chúng trong không khí, thời gian tác đụng và đặc điểm vi khí hậu
tạ khu vực Dự án Xét cụ thể các chất ôn nhiễm không khí do Dự án thải vào khí quyển,
có thể đánh giá được một số tác động chính như sau:
a. Tác động đối với sức khỏe con người
Các chất ô nhiễm không khí có thể tác động lên sức khỏe cộng đồng trong vùng chịu ảnh hưởng của các nguồn thải từ Dự án, đặt biệt là những đối tượng chịu tác động ở gần khu vực gây ô nhiễm Các tác hại đối với sức khỏe phụ thuộc vào các chất ô nhiễm
cụ thể như sau:
Khí SO x : là những chất ô nhiễm kích thích, thuộc vào loại nguy hiểm nhất trong
số các chất khí gây ô nhiễm không khí, ở nồng độ thấp SO2 có thể gây co giật ở cơ trơn của khí quản Mức độ lớn hơn sẽ gây tăng tiết dịch niêm mạc đường hô hấp trên Cao hơn nữa làm sung niêm mạc Tác hại của SO3 còn ở mức cao hơn và có khi cả SO2 và SO3
cùng tác dụng thì tác hại lại càng lớn, SO2 có thể gây nhiễm độc da, làm giảm nguồn dự trữ kiềm trong máu, đào thảo ammoniac ra nước tiểu và kiểm tra nước bọt Độc tính chung của SO2, thể hiện ở rối loạn tiêu chuyển hóa protein – đường, thiếu các vitamin B
và C, ức chết enzyme oxydaza Sự hấp thụ lớn hơn SO2 có khả năng gây bệnh cho hệ tạo huyết và tạo ra methemoglobin, tăng cường quá trình oxy hóa Fe(II) thành Fe(III) Những vùng dân cư xung quanh các nguồn thải khí SOx thường có tỷ lệ dân chúng mắc bệnh hô hấp cao
Khí NO 2 : là một khí kích thích mạnh đường hô hấp Khi ngộ độc cấp tính bị ho dữ
dội, nhức đầu, gây dối loạn tiêu hóa Một số tường hợp gây rat hay đổi máu, tổn thương
hệ thần kinh, gây biến đổi cơ tim Tiếp xúc lâu dài có thể gây viêm phế quản thường xuyên, phá hủy răng, gây kích thích niêm mạc, ở nồng độ cao 100 ppm có thể gây tử vong
Oxit cacbon CO: đây là một chất gây ngạt, do có ái lực với Hemoglobin trong
máu mạnh hơn oxy nên nó chiếm chỗ của oxy trong máu, làm cho việc cung cấp oxy cho
cơ thể bị giảm, ở nồng độ thấp CO có thể gây đau đầu, chóng mặt Với nồng độ bằng 10 ppm có thể gây gia tăng các bệnh tim, ở nồng độ 250 ppm có thể gây tử vong Con người sống trong các khu vực nhiều Co thường bị xanh xao, gầy yếu
Trang 112.2 Đối với nước thải
Nước thải Dự án bao gồm 02 nguồn: nước thải sinh hoạt và nước thải bề mặt (nước mưa chảy tràn bề mặt)
a. Nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt phát sih từ các hoạt động sinh hoạt của cán bộ nhân viên đang làm việc, nghỉ ngơi tại khu văn phòng và ký túc xá phát snh từ việc tắm rửa, giặt giũ, nước từ các nhà bếp, nhà vệ sinh, v.v
Loại nước thải này có chứa các cặn bã, các chất rắn lơ lửng (SS), các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, cấc hợp chất dinh dưỡng (N, P), BOD, coliform, vi khuẩn, v.v
b. Nước thải bề mặt
Nước mưa chảy tràn trên bề mặt dự án với tổng diện tích là 8.104 m2 sẽ lôi cuốn theo một lượng nhất định đất cát, các chất thải khác trong khi thi công các hạng mục công trình khu vực dự án Mặc dù trong quá trình hoạt động dự án được bê tong hóa mặt bằng đào các cống rãnh thoát nước và đều được che đậy nhưng do sự gia tăng nồng độ các chất
ô nhiễm trong nước mưa dẫn đến làm tăng nồng độ các chất trong mương thoát nước tràn
ra Sông Ka Long có thể làm đục môi trường nước sông, gây ô nhiễm hệ sinh thái ven bờ
a. Tác động đến môi trường nước
Khi thải ra môi trường nước mặt, chỉ cần một hợp phần gây ô nhiễm có trong nước thải Dự án cũng gây ô nhiễm môi trường nước mặt tiếp nhận nó và gián tiếp gây ảnh hưởng đến các thành phần môi trường khác xung quanh như các thủy vực lân cận Đồng thời một phần không nhỏ của nước thải Dự án theo con đường mao dẫn thẩm thấu vào nước ngầm gây ô nhiễm môi trường nước ngầm
Các nguồn phát sinh khác sẽ có đặc tính nước thải khác nhau và từ đó có tác động khác nhau đến môi trường nước
Tác động do nước thải sinh hoạt
trong thành phần của nước thải sinh hoạt có chứa các hợp chất ô nhiễm rất đặc trưng và điển hình là BOD, fecal coliform cao Dòng này chứa chủ yếu các chất cặn bã, chất rắn lơ lửng, các chất hữu cơ, dầu mỡ, vi sinh vật gây bệnh, khi đi vào môi trường nước mặt sẽ gây ra các tác động chủ yếu: