Tại 2 quốc gia trên, những ngân hàng được biết đến với mảng dịch vụ bán lẻ và cho vaythương mại, đáng kể nhất là Land được sở hữu bởi chính phủ Đức Landesbanken LB và những ngân hàngtươn
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CAO HỌC KHÓA 22 – LỚP NGÀY 4
MÔN HỌC: TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
“Die Krise but not La Crise? The Financial Crisis and the Transformation of German and French Banking Systems”
1. Hà Huy Hoàng TS Phạm Quốc Hùng
2. Nguyễn Công Tiến
3. Chương Minh Luân
4. Nông Đức Đạt
5. Phan Nguyễn Kim Ngân
6. Lâm Thúy Nhi
7. Võ Trung Nhân
UEH, ngày 10 tháng 11 năm 2012
Trang 2MỤC LỤC
Phần A: Bài Nghiên Cứu
Tổng Quan
Giới Thiệu
I.Hệ Thống Ngân Hàng Đầu Những Năm 2000
II.Tài Chính Hóa Và Khủng Hoảng Tín Dụng
III.Phản ứng Của Chính Phủ
IV.Kết Luận
Phần B: Mở Rộng Bài Nghiên Cứu
B1.Bài Học Rút Ra Cho Chính Sách Khu Vực Châu Âu
B2.Tái Cấu Trúc Hệ Thống Ngân Hàng Việt Nam – Những Vấn Đề Đặt Ra Và Giải Pháp
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DN: Doanh Nghiệp
NH: Ngân Hàng
NHTM: Ngân Hàng Thương Mại
NHTMNN: Ngân Hàng Thương Mại Nhà Nước
NHTMCP: Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần
NHNN: Ngân Hàng Nhà Nước
NHVN: Ngân Hàng Việt Nam
HTTC: Hệ Thống Tài Chính
HTNH: Hệ Thống Ngân Hàng
HTNHVN: Hệ Thống Ngân Hàng Việt Nam
HTNHTM: Hệ Thống Ngân Hàng Thương Mại
TTTC: Thị Trường Tài Chính
TCTD: Tổ Chức Tín Dụng
VN: Việt Nam
Trang 5Những thiệt hại trong các công cụ tài chính phức tạp khiến cho một số ngân hàng lớn của Đức bị yếu
đi và kéo theo nguy cơ đổ vỡ Những thiệt hại của các ngân hàng Pháp ít hơn nhưng vẫn rất đáng kể Cụ thểvào tháng 8/2008, 12 Ngân hàng Đức và 6 Ngân hàng Pháp đã ghi bút toán giảm hơn 1 tỷ USD, Tổng cộngnhững Ngân hàng ở Đức giảm giá trị 55,9 tỷ USD, những Ngân hàng ở Pháp giảm 23,3 tỷ USD(Bloomberg) Số liệu từ IMF cho thấy sự bút toán giảm tại Đức gấp 3 lần so với tại Pháp ( 9% của Đức sovới 3% tại Pháp) Tại 2 quốc gia trên, những ngân hàng được biết đến với mảng dịch vụ bán lẻ và cho vaythương mại, đáng kể nhất là Land được sở hữu bởi chính phủ Đức Landesbanken (LB) và những ngân hàngtương hỗ tại Pháp – đã bộc lộ những thiệt hại lớn thông qua những hoạt động chính của mình Bài nghiên cứunày cho thấy cuộc khủng hoảng ngân hàng dẫn đến sự thay đổi gì trong hệ thống ngân hàng Đức và Pháp, hai
hệ thống ngân hàng lớn nhất tại Châu Âu Chúng ta sẽ đi làm nổi bật quá trình “Financialization” - được địnhnghĩa là sự gia tăng trong rủi ro giao dịch Chúng ta tập trung vào việc làm sáng tỏ mâu thuẫn: “ Tại sao hệthống ngân hàng bảo thủ và bảo hộ của Đức lại phải chịu sự thiệt hại nặng hơn so với hệ thống ngân hàng tự
do của Pháp Bài nghiên cứu này cũng xem xét phản ứng của những ngân hàng và chính phủ hai nước Đức
và Pháp đối với khủng hoảng và việc đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế “Financialization” và sự đổ vỡtrong hệ thống ngân hàng
Tài chính hóa - được định nghĩa là sự gia tăng trong các giao dịch thể hiện sự rủi ro Nó được địnhnghĩa bằng các cách thức khác nhau ( see Epstein, 2005; Krippner, 2005) Cách định nghĩa ở đây giống nhưcủa Aglietta and Breton (2001, p 437) Họ cũng liên kết sự thay đổi từ một ngân hàng làm cơ sở đến hệthống thị trường tài chính, đến sự tự do hóa tài chính và cải thiện tài chính được liên kết với công nghệ tiêntiến Họ cũng nhận ra cách thức mà những ngân hàng thêm vào danh mục thị trường mới đến danh mục tíndụng truyền thống (Aglietta and Breton, 2001, p 441) Tầm quan trọng của “thị trường” tăng lên có liênquan đến danh mục tín dụng, và có quan hệ mật thiết đến hoạt động của những ngân hàng đầu tư tại Đức vàPháp, đây là phần quan trọng trong việc phân tích của chúng ta Tài chính hóa thực tế bao hàm luôn cả quốc
tế hóa Chúng ta hiểu tài chính hóa của hệ thống ngân hàng ở đây trong giới hạn hoạt động của nó, từ dịch vụ
Trang 6bán lẻ quốc tế ( liên quan không nhiều đến rủi ro), đến giao dịch tài chính phái sinh, và việc đầu tư chứngkhoán phức tạp.
Hệ thống tài chính của Đức và Pháp bao hàm việc tăng lên số lượng tổ chức tài chính phi ngân hàng,nhưng ngân hàng vẫn chiếm phần lớn Khoản tiền gửi tại Đức chiếm 78,3% tài sản vào tháng 12/2002, chỉmột sự giảm xuống năm 1980, và cổ phần đảm bảo đến năm 2007 Tại Pháp điều này làm cho suy giảm có ýnghĩa hơn so với các thập kỷ trước Nhưng trong tháng 12/2003 tổ chức tín dụng chiếm 64% Con số này đãtăng lên 70% vào năn 2007 Tài chính hóa tại những ngân hàng Đức và Pháp, thay vì tăng hoạt động của cácyếu tố trên thị trường tài chính, sự thay đổi tại hệ thống tài chính của 2 Quốc gia qua 2 thập niên trước, đặcbiệt chúng ta sẽ thảo luận ở phần dưới, những năm trước khi khủng hoảng xảy ra
Chúng ta làm nổi bật tất cả các ngân hàng tại Đức và Pháp, tầm quan trong được tăng lên qua 2 khíacạnh đó là quốc tế hóa và hoạt động giao dịch trong những năm 2000 Ý nghĩa của sự thay đổi này trong hệthống ngân hàng tại Đức và Pháp trong bản chất của hoạt động ngân hàng, do đó sẽ mang lại lợi ích chotương lai
Cuộc tranh luận về những thực tại, bản chất, yếu tố quyết định và nhịp độ của sự thay đổi trong ngânhàng Đức thì lâu dài (Theo Deeg, 1999; Krahnen and Schmidt, 2004) Công việc của chúng ta trong cuộctranh luận này rất tỉ mỉ theo Hackethal (2004) trong việc xem xét sự thay đổi trong hoạt động của nhữngngân hàng, qua việc đánh giá bản cân đối kế toán của Ngân hàng Chúng ta so sánh giữa các ngân hàng Đức
và Pháp, để thấy được những sự thay đổi lúc trước thì rất ít
Những sự thay đổi trong hệ thống ngân hàng có sự liên hệ mật thiết đến mô hình của CN Tư Bản củaĐức và Pháp Đặc biệt với hệ thống tại Đức, ở đó những ngân hàng được cung cấp vốn là chủ yếu Đặc biệtnhững hoạt động của ngân hàng có cuộc khủng hoảng tín dụng, ở đó doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trongvấn đề tiếp cận vốn vay, chứng tỏ tầm quan trọng trong sự phát triển gần đây của chủ nghĩa tư bản tài chính,
đó là tập trung phần lớn vốn vào những tập đoàn nhà nước Trong khi đó sự mở rộng của những sự thay đổinày thì nó vượt quá phạm vi nghiên cứu của bài báo này, chúng tôi sẽ thảo luận tóm tắt này trong phần tổngkết
I.HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRƯỚC 2000
Mặc dù cả hai hệ thống Ngân hàng Đức và Pháp đã trải qua quá trình tài chính hóa từ những năm
1980 và 1990, nhưng quá trình này vẫn tiếp tục tăng một cách nhanh chóng từ năm 2002 đến 2007 Mô hìnhtruyền thống tại Đức được miêu tả là một trong ba trụ cột của hệ thống ngân hàng (Zysman, 1983; Deeg,1999) với những ngân hàng tư nhân lớn, và những ngân hàng khu vực công (Sparkassen and regional LB)
Trang 7Có 3 yếu tố chính: Cấu trúc tài chính, tình trạng pháp lý, chính phủ Có một thời gian dài có sự can thiệp củachính phủ về vấn đề cho vay và quyền sở hữu khu vực công vượt xa so với những nền kinh tế khác.(IMF,2003) Trong những năm 1990 có 40 ngân hàng thương mại bán lẻ hoạt động tại đức thuộc sở hữu nhà nước,đặc biệt là ngân hàng Mittelstand, tổ chức kinh doanh có quy mô vừa và nhỏ tại đức Ở khu vực thương mạiđược chi phối bởi 3 ngân hàng lớn: Deutsche, Dresdner and Commerzbank Deeg (1999) and Krahnen andSchmidt (2004) nhấn mạnh sự tiếp tục tập trung vào mảng nội địa của những ngân hàng khu vực công Tuynhiên thị trường nội địa bị hạn chế sự về cạnh tranh và lợi nhuận Do đó cả những ngân hàng tư nhân vàNgân hàng khu vực công mở rộng đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm lợi nhuận.
Trước đây, những ngân hàng lớn của Pháp thuộc sở hữu của chính phủ, thì đều đã được tư nhânhóa từ năm 1987 đến năm 2002, vơi sự gia tăng nhanh chóng những năm 2002 Hệ thống các ngân hàngthương mại này được chi phối bởi 2 ngân hàng thương mại lớn BNP Paribas and Société Générale và 4 ngânhàng Crédit Agricole, Banque Populaire, Caisse d’Epargne and Crédit Mutuel Những ngân hàng tương hỗ(Hỗ tương) hầu hết được chi phối bởi những người gởi tiền, ít nhất là về nguyên tắc, hoạt động vì lợi ích của
họ Thay vì những ngân hàng thương mại lớn như BNP Paribas and Société Générale thì được sở hữu bởi các
cổ đông tư nhân Các ngân hàng có thể lựa chọn để trở thành những ngân hàng hoạt động trên lĩnh vực bán
lẻ, hợp tác và đầu tư Vào khoảng giữa năm 1980 những quy định được cân đối qua kiểu ngân hàng, sựchuyên môn về tín dụng, hạn chế việc loại bỏ sự cạnh tranh Những mối quan hệ của những ngân hàng tạiPháp với các công ty phi tài chính có khoảng cách ngày càng xa ( Bertero, 1994; O’Sullivan, 2007) khônggiống như với các ngân hàng tại Đức, để Pháp chuyển từ một mạng lưới tài chính đến thị trường tài chínhhình thức của Chủ Nghĩa Tư Bản ( Morin, 1998, 2000) Tầm quan trọng của tài chính ngân hàng tại Pháp đãgiảm rõ rệt, và những ngân hàng lớn tại Pháp đã được bù đắp bằng sự phát triển của những ngân hàng đầu tư,như tại Đức Tuy nhiên điểm mạnh của ngân hàng tại Pháp đó là ngân hàng bán lẻ nội địa, và sự sụt giảm lợinhuận cũng dẫn đến xu hướng mở rộng dịch vụ bán lẻ ra nước ngoài Điều này dẫn đến sự quốc tế hóa, vàđiều ngược với các ngân hàng tại Đức Sự quốc tế hóa của chúng hầu hết là sự hợp tác của ngân hàng đầu tư
và cho vay Sự trái ngược này có ý nghĩa quan trong dẫn đến những sự tác động khác nhau giữa 2 quốc gia,
và là một phần quan trọng trong lịch sử của hệ thống ngân hàng Đức
Hệ thống ngân hàng Pháp là một trong những hệ thống tập trung nhất tại Châu Âu, còn tại Đức nằmtrong số hệ thống ngân hàng ít tập trung nhất Vào cuối năm 1990 thì 4 ngân hàng tại Pháp được xếp vào Top
15 ngân hàng có quy mô tài sản lớn, nhưng tại Đức chỉ có 1: Deutchebank Những số liệu gần đây đã chỉ rarằng 5 ngân hàng lớn nhất tại Pháp chiếm 52,3%/Tổng tài sản, so với 22% tại Đức, 26% ở Ý, 36% ở Anh,40% ở Tây Ban Nha.(ECB 2006)
Trang 8Hệ thống ngân hàng tại Đức thì có nhiều sự bảo hộ và hạn chế sự cạnh tranh hơn tại Pháp Từ năm
2005, sự bảo hộ để chống lại sự phá sản cho phép LB (Ngân hàng địa phương) cho vay với lãi suất rẻ hơn sovới đối thủ kinh doanh Hơn nữa LB và Sparkassen không có sự cạnh tranh với nhau, mỗi tổ chức chiếm lĩnhmột khu vực riêng Chính phủ Đức, hiệp hội ngân hàng Đức, Ủy ban châu âu, Ngân hàng trung ương Đức hỗtrợ nhằm loại bỏ 3 trụ cột lớn trong hệ thống tại Đức, nhưng sự thay đổi này gặp phải sự kháng cự lớn từChính quyền địa phương Với một khung pháp lý đơn giản, và cạnh tranh công bằng, hệ thống ngân hàngPháp tương đối mở Tuy nhiên những quy định và thuế suất của một số sản phẩm tiết kiệm được sự ưu đãi(Candida, 2000)
Việc cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ Pháp cũng khiến việc thâm nhập của những ngân hàng nướcngoài gặp khó khăn Việc thâm nhập nước ngoài vào thị trường ngân hàng tại Đức và Pháp thấp nhất tại Châu
Âu Tại Pháp vào cuối năm 2003 những ngân hàng nước ngoài chỉ chiếm 12% tài sản ngân hàng (IMF, 2004,
p 103), với mức tương tự tại Đức Quyền sở hữu cổ phần tại các ngân hàng thương mại Pháp và Đức thể hiệnnhững bức tranh khác nhau Bởi vì sở hữu chéo và đặc biệt trong trường hợp của Pháp, đã cảm nhận được sự
ác cảm của chính phủ đến sự sở hữu nước ngoài, trong khoảng những năm 1990, cả 2 hệ thống ngân hàngPháp và Đức đã tăng sự sở hữu nước ngoài mặc dù các cổ đông trong nước đã duy trì để ngăn chặn sự giatăng sơ hữu nước ngoài Vào năm 2002 các cổ đông nước ngoài đã sở hữu 67% cổ phần của ngân hàng BNPParibas và 50,8% Société Générale Developments, tại Đức tương tự sở hữu nước ngoài tại Deutsche Bank là46% trong năm 2002, và của Commerzbank là 35% Dresdner được mua lại bởi hãng bảo hiểm khổng lồAllianz, 32 % vốn được sở hữu bởi nước ngoài Những ngân hàng công tại Đức và ngân hàng tương hỗ tạiPháp hầu như không tăng vốn, nhưng Crédit Agricole – Một trong những ngân hàng bán lẻ lớn nhất tại Châu
Âu đã mở rộng vốn đến cổ đông tư nhân, như là LB Berlin and HSH Nordbank tại Đức Sự phát triển vàocuối năm 1980 giải thích sơ bộ về một sự thay đổi trong lĩnh vực ngân hàng tại Đức và Pháp Vì những ngânhàng trước đây thường tập trung vào sự bảo thủ, chống lại rủi ro, tìm kiếm đến những hoạt động của nhữngngân hàng đầu tư và tăng lợi nhuận Ngân hàng Đức đầu tiên đã tham gia vào ngân hàng đầu tư ở LondonDeutsche Bank đã mua Morgan Grenfell của London vào năm 1989 Sau đó ngân hàng công Westdeutsche
LB đã mua West Merchant Bank Ltd, một công ty tư vấn tại London về tư nhân hóa và sáp nhập Trong năm
1999 Deutsche Bank đã được xếp hạng đầu, Dresdner xếp thứ 2, Commerzbank xếp thứ 4 trong số nhữngngân hàng trong liên minh châu âu EU Có những điều khoản một phần trong vốn cổ phần được phân bổ đếnnhà bán buôn, và ngân hàng đầu tư (Hackethal, 2004, p 77) Trong năm 1987 Société Générale đã tiến hànhgiao dịch các công cụ phái sinh trong vòng 2 tháng, đâu tiền được nhà nước sở hữu sau đó chuyển qua tưnhân hóa Những ngân hàng tương hỗ tại Pháp tham gia vào ngân hàng đầu tư tương đối trễ, với việc BanquePopulaire tiếp quản Natexis vào năm 1999, gây ra những thay đổi trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư, và trong
Trang 9năm 2006 cuộc sáp nhập của nó với Caisse d’Epargne’s IXIS một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất ởPháp Trong năm 2004 Crédit Agricole đã thiết lập ngân hàng hợp tác và đầu tư chi nhánh Calyon.
Hai điểm quan trọng từ sự phát triển này Đầu tiên là những ngân hàng đầu tư đã được phát triển và
mở rộng bởi cả những ngân hàng trên với sự tăng lên những cổ đông cá nhân, và có thể không phải nhữngngân hàng đó, vào giữa những năm 2000 những ngân hàng tương hỗ tại Pháp hoạt động không có sự phânbiệt với những ngân hàng thương mại LB tại Đức, với những cổ đông chính phủ lớn, đã được quan tâm đểgia tăng lợi nhuận, LB có lẽ là một tổ chức việc không hoàn toàn có thể tối đa hóa lợi nhuận, nhưng điều nàykhông có ý nghĩa quan trọng đến hành vi của họ trong vấn đề này Thứ 2, Bản chất của những tổ chức mà gọi
là ngân hàng đầu tư thì thay đổi qua thời gian Sự thúc đẩy ban đầu về việc mở rộng ra những ngân hàng đầu
tư nước ngoài, cỏ thể thu được những kỹ năng để hỗ trợ về phục vụ khách hàng nội địa Những công ty nướcngoài đã thu được phần lớn các phí tư vấn, kinh doanh không độc quyền, nó sẽ được thảo luận một cách chitiết hơn phần dưới, giao dịch độc quyền bị chi phối ngày càng tăng bởi ngân hàng đầu tư
II TÀI CHÍNH HÓA VÀ CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG TÍN DỤNG
Dưới đây chúng tôi phân tích các báo cáo và các tài khoản của các ngân hàng chính ở Pháp và Đức.Đầu tiên chúng ta xem xét sự thay đổi trong các hoạt động của ngân hàng từ năm 2002 đến 2007 Chúng tôiđưa ra những thay đổi quan trọng trong những hoạt động giao dịch nói chung cũng như những giao dịch trênthị trường phái sinh nói riêng Thứ hai, chúng tôi tập trung vào những thua lỗ của các ngân hàng bởi các cuộckhủng hoảng Chúng tôi tập trung vào giai đoạn khi mà các hoạt động của ngân hàng vẫn còn minh bạch thểhiện trên phân tích bảng cân đối kế toán của các ngân hàng Những thua lỗ do khủng hoảng cho thấy các hoạtđộng phái sinh này không được thể hiện trên bảng cân đối kế toán Mặc dù những phần đầu tư phái sinh nàykhông nhất thiết phải được che giấu (LB Baden-Württemberg, for example, discusses its StructuredInvestment Vehicles [SIVs; see Deutsche Bundesbank, 2007, p 24] in its 2004 accounts), tuy nhiên nhưnghiện nay các chi tiết lớn hơn của các hoạt động này đã đựơc làm sáng tỏ
Từ những dữ liệu có được, chúng tôi đã rút ra được ba kết luận Thứ nhất, các hoạt động giao dịch đãgia tăng đáng kể, đặc biệt tại các ngân hàng ở Đức cũng như ở Pháp Trong đó, số lượng giao dịch phái sinhtăng rất mạnh, điển hình là tại Đức Các giao dịch phái sinh được sử dụng để giảm thiểu rủi ro cả cho nhữngkhoản tín dụng (ví dụ, Krahnen và Schmidt, 2004, p.510) và trong những lệch kỳ hạn lãi suất (Memmel andSchertler, 2009), nhưng hầu hết tại các ngân hàng khối lượng sản phẩm phái sinh được giao dịch một cách ồ
ạt vượt quá các mục đích phòng ngừa rủi ro Hầu hết các ngân hàng đều xem các giao dịch phái sinh nhưmục đích giao dịch chính Thứ hai, tuy vậy, không có sự liên quan nào giữa việc sử dụng sản phẩm phái sinh
và những tác động của những khoản lỗ đã được thông báo Một trong những nạn nhân lớn nhất của cuộc
Trang 10khủng hoảng, Bayerische LB, Industrie Kreditbank (IKB) va LB Sachsen, không phải là những ngân hànggiao dịch sản phẩm phái sinh với số lượng rất lớn, tuy nhiên họ tham gia vào những hoạt động không có lợinhuận khổng lồ nhưng lại được xem là an toàn, đáng chú ý là việc đầu từ vào AAA và những chứng chỉ cógiá liên quan đến ABCP và SIVs Thứ ba, các ngân hàng Pháp đã tham gia trong nhiều hoạt động tương tựnhư các ngân hàng của Đức và gánh chịu đáng kể những tổn thất (nhưng nhỏ hơn) Trong khi những ngânhàng chịu ít tổn thất hơn có lẽ được xem như là “những nhà giao dịch khôn ngoan hơn”, thực sự sự khác biệtchính nằm ở một trong những mức độ chứ không phải là việc thực hành nhiều hơn Rõ ràng nhất là, nhữngngân hàng Pháp là những nhà đầu tư nhỏ hơn rất nhiều vào các tài sản mà sau này trở nên độc hại, và ít thamgia vào việc thiết lập những công cụ ngoài bảng cân đối Ngoài ra, một bộ phận lớn các ngân hàng bán lẻtrong số các ngân hàng ở Pháp đã làm giảm bớt tác động tổng thể của cuộc khủng hoảng tài chính.
1.Sự thay đổi trong hoạt động của ngân hàng trước cuộc khủng hoảng: những hoạt động giao dịch
Các báo cáo của ngân hàng không chỉ đưa ra chỉ một cách để theo dõi sự gia tăng của những hoạtđộng giao dịch, nhưng tất cả các cuối cùng đều chỉ cùng một hướng Các dữ liệu có sẵn bao gồm cả phầntrăm tổng tài sản dưới dạng tài sản giao dịch, hay một cách hẹp hơn, là tỷ lệ chứng khoán được dùng cho
“mục đích giao dịch” Bảng 1 tóm tắt lại các dữ liệu của các ngân hàng tại Pháp vá Đức
Đối với German LB, những con số cho thấy mức độ tập trung tăng cao trong giao dịch, mặc dù không
có sự nhất quán trên toàn bộ LB Khối lượng sản phẩm phái sinh trung bình ở German NordLB cũng tăng từ3.5 lần tài sản vào năm 2002 lên 4.3 lần trong năm 2006 và 2007 Như dự kiến, tầm quan trọng của việc giaodịch nói chung cũng như phái sinh nói riêng đối với Deutsche và Dresdner cao hơn những ngân hàng Đứckhác, tài sản giao dịch của Commerzbank lại thấp hơn rất nhiều so với những con số của LB; như là một dấuhiệu cho thấy nhiều thay đổi hoạt động LB cũng như những cảnh báo tương đối của Commerzbank Mặc dùDeutsche và Dresdner đã gia tăng những giao dịch phái sinh nhưng lại không đại diện cho khối ngân hàng tưnhân và không đáng kể nhưng bản chất của các ngân hàng đầu tư như Deutsche và Dresdner tập trung hơn rấtnhiều trong việc tự doanh (đầu tư vào phái sinh) hơn là vào việc cung cấp nhiều dịch vụ cho khách hàng Các
số liệu cho LB là rất lớn Cả Hackethal (2004) và IMF (2009a,p.18) đều lưu ý tầm quan trọng của chi phí bánbuôn cho các LB Tuy nhiên, việc kiểm tra phía bên tài sản của bảng cân đối cũng cho thấy một lỗ hổng giatăng đối với biến động của thị trường Lúc bấy giờ ngân hàng tại Đức thường được xem như đang tiến dầnđến mô hình Anglo-Saxon Những dữ liệu cho thấy rằng trong những năm gần đến khủng hoảng, sự thay đổi
đã diễn ra từng bước một Trong giai đoạn đó, đây là một chiến lược thành công Kết quả kinh doanh điềuchỉnh rủi ro lớn nhất các ngân hàng được xem là cải thiện từ năm 2005 cho đến giữa năm 2007 Tuy nhiên,sau đó, những thua lỗ nặng nề đã diễn ra (Deutsche Bundesbank, 2007, p 67)
Trang 11Ngân hàng Pháp nhìn chung không tham gia quá nhiều vào các giao dịch so với tổng tài sản mà chủyếu tham gia các hoạt động bán lẻ; cũng giống như tại Đức cũng không ghi nhận được sự gia tăng trong hoạtđộng giao dịch Chỉ có một trường hợp đặc biệt là BNP Paribas nhưng hoạt động của sản phẩm phái sinh của
nó so với tổng tài sản trong năm 2007 cũng thấp hơn so với 2003 và số lượng giao dịch phái sinh trong năm
2007 chỉ chiếm 60% trong tổng lượng giao dịch của Deutsche Bank Tuy nhiên, ở những nơi khác thì khôngnhư vậy Société Générale (nơi chịu thua lỗ khá lớn trong giao dịch phái sinh) có tổng lượng tài sản giao dịchthấp hơn, và những hoạt động phái sinh so với tổng tài sản thì gần Commerzbank hơn và ít hơn 1/3 củaDeutsche Crédit Agricole được so sánh với cả WestLB và DZ Bank Vấn đề ở Natixis thì nghiêm trọng,nhưng tài sản được giao dịch ở Caisse d’Epargne thì thấp (mặc dù những hoạt động phái sinh thì cao hơn hầuhết LB) Crédit Mutuel có rất ít tài sản giao dịch, và hoạt động phái sinh giảm mạnh trước cuộc khủng hoảng.Trong khi những ngân hàng tương hỗ Pháp đã trở thành những ngân hàng toàn cầu, họ vẫn đòi hỏi phải hoạtđộng chính phải bắt nguồn từ bán lẻ và hoạt động ngân hàng thương mại hơn là những ngân hàng thương mạiPháp hay LB
Tuy nhiên, các ngân hàng Pháp đóng vai trò hàng đầu trong những giao dịch phái sinh nhất định Họ
đã trải qua khoảng 2 thập kỷ nắm giữ khoảng ¼ các giao dịch phái sinh toàn cầu (Fédération Bancaire deFrance, 2007) Trong nhiều năm liền, Société Générale đã đạt được những lợi nhuận rất lớn từ những giaodịch phái sinh so với những ngân hàng toàn cầu khác Khi sự việc nhận tài sản thế chấp từ những khoảng tíndụng hoán đổi bởi AIG (được chính phủ Mỹ hỗ trợ) đựơc tiết lộ, Société Générale đứng đầu danh sách, nhận
11 triệu $, chiếm 22% tổng số Calyon, công ty con của Crédit Agricole, nhận hơn 2.3 triệu $ Những ngânhàng tên tuổi ở Đức nhận 7.7 triệu $ Tuy nhiên, so với độ lớn của các ngân hàng Pháp, số lượng giao dịchphái sinh ở Đức thì thấp hơn Không giống như ngân hàng Đức, lượng giao dịch phái sinh trung bình ở Pháp
có vẻ như tăng lên từ năm 2002 đến năm 2007 (mặc dù số liệu chưa được kiểm chứng) đây là một giao đoạn
mở rộng rất nhanh của BNP Paribas và Société Générale, nhưng sự mở rộng các hoạt động giao dịch pháisinh ít nhất cũng bằng so với trong hoạt động ngân hàng bán lẻ quốc tế
Table 1: Increased Bank Trading Activity
Commerzbank Trading assets peaked at 24.0 per cent in 2004 and fell thereafter
Notional derivatives volume* 10.9 times total assets in 2007 (9.6 times in 2003)
Deutsche Trading assets 45.9 per cent of total assets in 2006 (30.9 per cent in 2000).
Notional derivatives volume 24.5 times total assets in 2007 (35.4 times in 2006,19.3 times in 2002)
Dresdner Trading assets 32.0 per cent of total assets in 2007 (21.4 percent in 2000).
Notional derivatives volume 13.4 times total assets in 2007 (7.7 times in2002).
Bayerische LB 93.7 per cent of derivatives activity for trading purposes in 2007 (76.4 percent in 2003).
Notional derivatives volume 3.3 times total assets in 2007(3.3 times in 2002).
Helaba Notional derivatives volume 3.4 times total assets in 2007 (3.1 times in 2003).
HSH Nordbank Proportion of securities held for trading purposes 55.7 per cent in 2006 (11.0 percent in 2002).
Trading assets 13.4 per cent of total assets in 2006.
Notional derivatives volume 3.7 times total assets in 2007 (1.5 times in2002).
LBBW Proportion of securities held for trading purposes 30.9 per cent in 2006 (12.5 percent in 2002).
Trang 12Notional derivatives volume 4.4 times total assets in 2007 (2.1 times in 2002).
LB Sachsen Proportion of securities held for trading purposes 15.3 per cent in 2007, more than triple 2003 figure.
Notional derivatives volume 0.7 times total assets in 2007(1.1 times in 2003).
Derivatives mostly to hedge.
NordLB Notional derivatives volume 1.7 times total assets in 2007 (1.7 times in 2002).
WestLB Proportion of securities held for trading purposes 41.7 per cent in 2006 (28.4 per cent in 2000).
Trading assets 32.5 percent of total assets in 2007
Securities held for trading purposes peaked in 2002 at 51.3 per cent
Notional derivatives volume 9.0 times total assets in 2007 (8.5 times in 2002) Peak 10.3 times in 2005
DZ Bank Proportion of securities held for trading purposes 58.0 per cent in 2007 (21.2 percent in 2002).
Trading assets 30.1 per cent of total assets in 2007.
Notional derivatives volume 3.2 times total assets in 2008 (2.0 times in 2002).
Hypo Real Estate Notional derivatives volume 2.8 times total assets in 2007 (1.6 times in 2003).
IKB Notional derivatives volume 1.0 times total assets in 2007 (0.8 times in 2004).
BNP Paribas Trading assets 51.8 per cent of total assets in 2007 (14.2 per cent in 2002).
Notional derivatives volume 17.4 times total assets in 2007 (23.4 times in 2003)
Société Générale Trading assets peaked at 31.9 per cent of total assets in 2006 (more than double 2002)
Fall to 28.6 per cent in 2007
Notional derivatives volume 15.0 times total assets in 2007 (10.4 times in 2002)
Crédit Agricole Trading assets 30.2 per cent of total assets in 2007
Notional derivatives volume 11.1 times total assets in 2007 (7.8 times in 2002)
Caisse d’Epargne Trading assets 10.5 per cent of total assets in 2007
Notional derivatives volume 5.3 times total assets in 2007.
Crédit Mutuel Trading assets 13.8 per cent of total assets in 2008 (3.1 times total assets in 2007).
Notional derivatives volume 1.5 times total assets in 2007 (3.6 times in 2004).
Source: Bank annual reports
Note: * Notional volumes indicate only the absolute volume of derivative transactions
undertaken They do not represent risk taken The positive value of derivative contracts
appears in the bank’s assets, and, where they have been entered into for trading purposes, this
positive value will be included in trading assets (see Banking Commission, 2007, p 56)
2.Sự quốc tế hóa
Sự quốc tế hóa tại ngân hàng Đức cũng giải thích cho sự thay đổi nhanh chóng trong những năm gầnđây Bản chất của sự quốc tế hóa một phần bị che khuất bởi sự trình bày trên các báo cáo tài chính, đặc biệt làkhi các báo cáo này không tách Đức ra khỏi phần còn lại của Tây Âu Chúng ta tập trung vào rủi ro tín dụng(bao hàm trong các báo cáo rủi ro trên các báo cáo thường niên) hơn là tập trung vào thu nhập,bởi vì thu nhậpđược phân loại bởi các thực thể địa lý mà rủi ro thực sự được ghi nhận Rủi ro dưới chuẩn tại Mỹ của LBSachsen phần lớn được phát sinh bởi một công ty con của Dublin
Dữ liệu có sẵn hỗ trợ cho 2 quan sát Thứ nhất, sự quốc tế hóa trên mục tài sản của bảng cân đối ngàycàng quan trọng và đang tăng nhanh trong những năm gần đây Thứ hai, mặc dù hội nhập tài chính ở Châu
Âu được dự báo sẽ làm gia tăng mức độ bao phủ ở ngoài khu vực Châu Âu, nhưng tăng trửơng cho vay ở khuvực Euro lại cao hơn so với ngoài khu vực Euro, đặc biệt là ở Bắc Mỹ Các dữ liệu có sẵn được thể hiện ởBảng 2
Trang 13Table 2: Bank Internationalization
Commerzbank 25.3 per cent of international exposure outside Europe in 2004 (with Turkey included in Europe)
Later figures not available
Deutsche Exposure outside western Europe from 25.8 per cent of total in 2000 to44.7 per cent in 2007
Dresdner 18 per cent loan portfolio outside Europe in 2004 Later figures notavailable.
Bayerische LB International exposure 50.4 per cent of total in 2007 (exposure outside Europe 34.9 per cent of international).
Helaba International exposure 52.2 per cent of total in 2007.
HSH Nordbank Country exposure outside western Europe from 32.7 per cent in 2002 to 41.0 per cent in 2007.
LBBW Exposure outside Europe 29.9 per cent of total in 2006, before falling significantly
LB Berlin Credit risk outside Germany 41.2 per cent of total in 2006, up from 31.7 per cent in 2002.
LB Sachsen 2004-07 on balance sheet credit exposure to its ‘home’ Land of Saxony never exceeded 16.9 per cent of total exposure.
NordLB Exposure outside western Europe 15.0 per cent of total in 2007 (8.7 percent in 2003).
WestLB In 2007 71.3 per cent of exposure outside Germany, 20.3 per cent to ‘industrialized America’.
DZ Bank In 2007 exposure outside Germany 40.2 per cent of total.
Hypo Real Estate In 2007, country risk outside Germany 76.9 per cent of total In 2003, 38 per cent of loan portfolio outside Germany.
IKB In 2005 exposure outside Germany 67 per cent of total.
BNP Paribas 57.2 per cent of assets in France in 2007, 20.9 per cent outside Europe.
Société Générale Commitments in France 50 per cent of total in 2007 (65 per cent in 2003) Exposure outside Europe from 10 per cent in 2003 to 19
percent of total in 2007.
Crédit Agricole In 2007, 48 per cent of commercial lending exposure in France, 24 per cent outside western Europe In 2002, 84.8 per cent in
France, and 10.1 per cent outside EU.
Banque Populaire 83.6 per cent of assets in France in 2007.
Caisse d’Epargne Over 90 per cent of customer risks in France in 2007.
Crédit Mutuel 95 per cent of customer risks in France in 2007.
Source: Bank annual reports
Trong số các ngân hàng tư nhân lớn, các giới hạn dữ liệu đã gây cản trở cho một sự so sánh đầy đủ.Commerzbank và Dresdner tập trung vào các hoạt động của họ nhiều hơn tại Châu Âu, nhưng Deutsche cógần một nửa bảo phủ bên ngoài Tây Âu thể hiện ở sự bảo phủ tại Đức phải ít hơn 50% bao phủ trên toàn thếgiới
Trường hợp của Société Generale cũng tương tự, nhưng hơn 50% tài sản của BNP Paribas vẫn còn ởPháp Sự quốc tế hóa của các ngân hàng Pháp đã bao hàm sự mở rộng trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, đặcbiệt là ở Ý, trong các trường hợp này là Credit Agricole và Societe Generale BNP Paribas với 6000 chinhánh bên ngoài nước Pháp cũng sở hữu BNL – ngân hàng lớn thứ 6 tại Ý and BancWest – một ngân hàngbán lẻ ở Mỹ Credit Agricole đã coi Hy Lạp và Ý là các thị trường “nội địa” từ khi họ tiếp quản phần lớn thịtrường ngân hàng bán lẻ tại đây năm 2006 Như là kết thúc năm 2008, thị trường ngân hàng bán lẻ quốc tếcủa Societe Generale bao gồm 40 thực thể khác nhau với 3700 chi nhánh Hoạt động ngân hàng bán lẻ ởPháp đặc biệt là hoạt động ngân hàng quốc tế tiếp tục sự tăng trưởng nhanh chóng của họ trong suốt giaiđoạn khủng hoảng (IMF 2009b p.11) Theo hướng ngược lại, sự mở rông quốc tế ở các ngân hàng Đức lại tậptrung vào lĩnh vực ngân hàng đầu tư (mặc dù Commerzbank cũng tham gia vào lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ởTrung và Đông Âu) Sự tập trung ngày càng nhiều hơn của các ngân hàng Pháp trong hoạt động bán lẻ khôngloại trừ các vấn đề trong tương lai, đặc biệt là ở Tây Âu nhưng mức độ tổng thể tài chính hóa(financialization) trong sự quốc tế hóa này là thấp hơn
Trang 14Một lần nữa, những thay đổi mạnh mẽ nhất là ở LB (mặc dù có sự đa dạng hóa đáng kể) Cho vay đốivới their home Land không thể bị biệt lập ngoại trừ LB Sachsen có những bất quy tắc, nhưng các số liệu sẵn
có lại cho thấy quá trình quốc tế hóa tăng trưởng đáng kể Những điểm nổi bất trong quá trình quốc tế hóaDeeg (1994) vẫn tiếp tục tăng tốc Những số liệu này một lần nữa cho thấy rất khó để phù hợp với bối cảnhcủa LB như là dành ưu tiên cho các nhu cầu nội địa Những điều đó cũng khó khăn song song với rất nhiềucác hoạt động được nhấn mạnh ở đây để phù hợp với LB như “các thực thể không hoàn toàn tối đa hóa lợinhuận” “not strictly profit maximizing entities” (Hackethal, 2004, p.74) Sự thiếu vắng của áp lực đến từ các
cổ đông là cá nhân không cản trở LB Sachsen 2003 thiết lập một mục tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sỡ hữu caohơn so với sau khi đã đạt được bởi Ngân hàng Deutsche (Kirchfeld và Simmons 2008) Cũng không có bất
kỳ lý do nào để xem xét các ngân hàng tương hỗ của Pháp như một tổ chức không tối đa hóa lợi nhuận nhưngcác ngân hàng này vẫn áp đảo các tổ chức trong nước
Phân tích này cho thấy sự bảo thủ của các ngân hàng Đức (hệ thống tài chính dựa trên một ngân hàng
là không còn giá trị nữa) Các ngân hàng Đức ít nhất đã được tài chính hóa hơn so với tài chính hóa tại cácngân hàng Pháp, do đó tài chính hóa ở Pháp chỉ được coi như là một sự bãi bỏ quy định hơn là hệ thống dựatrên thị trường Đòn bẩy cao ở các ngân hàng Đức đã được dẫn chứng bởi những số liệu và khoảng cách giữađòn bẩy và các yêu cầu vốn là cao nhờ vào thuận lợi của các tài sản giá trị cao và các vị thế của phái sinh(IMF, 2009a, p 14) Đòn bẩy cao tự nó tạo ra các lỗ hỗng trong khủng hoảng hiện tại Tuy nhiên, những phântích trên sẽ đưa điều này đi xa hơn Các ngân hàng cũng có tham gia nhiều hơn vào các giao dịch phái sinhchứ không phải chỉ cho vay và các ngân hàng này cũng đóng góp đáng kể vào quá trình quốc tế hóa Hiệnnay có một xu hướng toàn cầu trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư đến kinh doanh đầu cơ, nhưng chính LB cónghĩa là “the same as everyone else”, các thách thức của chính nó đến với nhận thức truyền thống của nó
Chúng ta đã tập trung nhiều hơn vào các thay đổi trong các hoạt động ngân hàng như được thể hiệntrên bảng cân đối của các ngân hàng Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính cho thấy nhiều rủi ro nằm ẩn dướibảng cân đối hoặc hoàn toàn không hiện diện trên bảng cân đối Trong khu vực này, sự khác biệt giữa ngânhàng Pháp và Đức cũng được đánh dấu
3.Phân tích thua lỗ của các ngân hàng
Gần đây thua lỗ của các ngân hàng ở Châu Âu tạo ra một cơ hội để kiểm tra bản chất của các ngânhàng Rõ ràng, cuộc khủng hoảng là một bất ngờ quá lớn, nhưng “các ngân hàng Đức bảo thủ truyềnthống”đó đã thực hiện gần 1/4 bút toán giảm ở Châu Âu lại một cú sốc hơn nữa Bảng 3 cho thấy thiệt hạicủa các ngân hàng Đức và Pháp cho đến cuối tháng 8 năm 2008 và công bố các thiệt hại của các ngân hàngnày ở nhiều khu vực, nguồn từ các báo cáo và các tài khỏan của các ngân hàng Do đó các nguồn này cho
Trang 15thấy các ngân hàng nghĩ rằng đã có đủ số liệu để làm nổi bật Các số liệu này có thể chỉ là một phần, nhưngrất có khả năng làm nổi bật thua lỗ của các lĩnh vực chính Rõ ràng, các con số có thể chỉ cho thấy một cáinhìn sơ bộ Bị rò rỉ số liệu bởi cơ quan quản lý của Đức, Bafin, gợi ý rằng vẫn có các thiệt hại cao hơn trên
“các tài sản độc hại” và các ngân hàng Pháp vẫn tiếp tục công bố thua lỗ Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng đãtiết lộ quá nhiều về các hoạt động của ngân hàng, nó cũng có khả năng mang lại những thay đổi đáng kể
Cuộc khủng hoảng đã không đánh đòn mạnh nhất vào các ngân hàng lớn nhất hay các ngân hàngphức tạp nhất Sự ảnh hưởng nặng nề nhất, Hypo Real Estate (HRE), IKB và LB Sachsen (tất cả tổ chức nàyđều đã sụp đổ hoàn toàn) đều là tương đối nhỏ và được đo lường bởi các hoạt động của họ trên thị trườngphái sinh, ít tham gia vào việc giao dịch các mặt hàng phức tạp nhất HRE có thể là một trường hợp điểnhình, bởi vì nhiều vấn đề của nó xuất phát từ sự tài trợ của ngân hàng Depfa, nhưng hai thiệt hai chủ yếukhác của nó lại đến từ ABCP và SIVs (xem Deutsche Bundesbank, 2007, p 49; Tett, 2009) Đây là một lĩnhvực mà các ngân hàng Pháp không có kinh nghiệm phải gánh chịu các thiệt hại đáng kể nhất (mặc dù BNPParibas có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực phái sinh) Mặc dù không bao gồm LB Sachsen, thiệt hại trungbình của LB bao gồm 0.645% tổng tài sản, cao hơn đáng kể so với các ngân hàng tư nhân lớn của Đức hoặcPháp (lần lượt là 0.4% và 0.28%) Các dữ liệu đánh dấu phạm vi hoạt động của ngân hàng trên cả 2 quốc gia.Nhiều nguồn thua lỗ ở các ngân hàng thương mại lớn là hiển nhiên nhưng tiếp tục chứng minh rằng “ngânhàng đầu tư” ngày càng giao dịch đầu cơ Điều này là đúng ở các ngân hàng thương mại của Pháp nhưngthiệt hại của Pháp lại thấp hơn đáng kể Đôi khi, các ngân hàng Pháp xuất hiện trên đầu cuộc khủng hoảng ởChâu Âu 8/2007 BNP Paribas đóng băng ba quỹ đầu tư 1/2008 Societe Generale đã công bố khoản thua lỗlớn nhất trong lịch sử ngân hàng 4.9 tỷ euro thông qua các giao dịch phái sinh giả mạo Tuy nhiên trong 2008
cả BNP Paribas và Societe Generale đều báo cáo lợi nhuận Tổng tổn thất ngân hàng của Pháp 8/2008 thấphơn nhiều so với tổn thất của Citigroup (55.1 tỷ USD) và UBS (44.2 tỷ USD) (Bloomberg, 2008) Đó là tổnthất của LB mà đặt dấu hỏi nhiều nhất trên nhiều quan điểm chuẩn, và hơn nữa củng cố cho các đòi hỏi về sựthay đổi Tổn thất được tạo ra trong lĩnh vực này rõ ràng cao hơn so với nếu chỉ dựa vào lĩnh vực cho vay.Một ước tính LB ra khỏi bảng cân đối tổng cộng là 45.3 tỷ USD 10/2006 Phần lớn chúng là từ thị trường vaythế chấp ở Mỹ Ngược lại, mặc dù các ngân hàng Pháp chịu tổn thất qua một loạt các hoạt động cộng thêmvấn đề ở Natixis gây tác động sâu sắc, thiệt hại cho đến khi được báo cáo lại thấp hơn Điều này là phù hợp
so với các mong đợi từ việc tài chính hóa thấp hơn Các ngân hàng Pháp (hoặc bất kỳ ngân hàng nào) không
dự báo khủng hoảng là tốt hơn, nhưng rủi ro đã được đa dạng hóa, đặc biệt là sự tham gia nhiều hơn vào lĩnhvực ngân hàng bán lẻ, làm giảm tác động tổng thể (IMF 2009b) Trong khi đó, các ngân hàng Đức không tậptrung vào cho vay trong nước nhưng thực tế lại cho thấy những chuyển động thị trường của các ngân hàngĐức này là lớn hơn so với các đối tác Pháp của họ Thay đổi trong các hoạt động của họ thậm chí rõ rệt hơn
so với được công nhận
Trang 16Table 3: Bank Losses
Total Write-down Write-down/ CDO/MBS LBOs Mono- ABCP/ Other Iceland/Lehman/ Madoff
to 8/08 ($ billion) Total Assets (end line a SIVs b Trading Washington
Caisse d’Ep 1.2 + impact of Natixis 0.14 X X X X X X
Banque Pop Impact of Natixis No figure X X X X X X
Source: Bloomberg, 2008 for write-down figures Bank annual reports for other data
Notes: a Exposure to insurance companies that provided guarantees for various types of securities; b Asset Backed Commercial PaperConduits These vehicles, generally off balance sheet, bought longer-term assets, frequently CDOs and MBS, and issued short-termcommercial paper They were often backed by credit commitments from one or more sponsoring banks if the commercial paper couldnot be sold This is the main source of problems at IKB and LB Sachsen; c LBBW took over LB Sachsen, and so there may be anelement of double counting
Trang 17III HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ
Vực dậy những ngân hàng yếu và gia tăng sự tin tưởng, lạc quan vào khu vực ngân hàng, Đáp ứng
sự bảo lãnh tín dụng, cứu trọ thông qua các khoản vay,mua một phần hay quốc hữu hoá hoàn toàn, phốihợp hoặc bắt buộc sáp nhập, quy định về trả công, sự điều tiết chặt hơn và thúc đẩy việc tăng cườngkhuôn khổ quản lý ở chuẩn Châu Âu và quốc tế là những biện pháp can thiệp của chính phủ, trong trườnghợp của Đức và Pháp, họ chưa từng sử dụng biện pháp nào
Hành động chính phủ Pháp thì chủ động hơn, giống như chủ nghĩa can thiệp trước đó ở Pháp Mộtvài trường hợp ngoại lệ, phương pháp của Đức đến nay thì tự nguyện hơn, nhưng cũng có thể chuyển theohướng bắt buộc Bất châp những lời lẽ của sự quay lại “đạo đức chủ nghĩa tư bản” (tại Pháp), sự điều tiếtđược đẩy mạnh ở cả hai quốc gia và các biện pháp can thiệp, tác động của hành động của chính phủ lên
sự tài chính hoá dường như bị giới hạn
Giống như các nước châu Âu khác, Pháp và Đức cũng tiến hành bảo lãnh tín dụng và cung cấp cáckhoản vay nhằm làm dịu thị trường Đức cho phép các ngân hàng tự quyết định tài chính và sử dụng quỹ
ổn định thị trường (FMSF) được thành lập từ tháng 11 năm 2008 Nhưng rất nhiều ngân hàng có vấn đề
đã tìm đến các cổ đông và do đó, việc sử dụng FMSF bị hạn chế Nhưng các LB vẫn sẵn sàng sử dụng kếhoạch “bad banks” của chính phủ nếu các thỏa thuận có thể đạt được Các thương vụ đạt được đáng chú ýnhư Comerzbank và HRE Chính phủ Pháp quyết định vốn hóa lại tất cả các ngân hàng nội địa có quy môlớn vào tháng 11 năm 2008, ép họ chấp nhận vốn và tăng cho vay một cách hiệu quả Đợt cấp vốn thứ hai
đi cùng các điều kiện như: hạn chế chi trả cổ tức, cấm thưởng cho quản lý cấp cao (2008), và tăng chovay xuất khẩu Tuy nhiên, không có điều kiện nào hạn chế được hoạt động của các ngân hàng Pháp
Cả hai chính phủ đều mở rộng sở hữu ở một vài ngân hàng Ở Đức, tổ chức thuộc sở hữu chínhphủ, KfW trở thành cổ đông lớn trong IKB và phối hợp cứu trợ liên quan đến các ngân hàng khác.Comerzbank đã sử dụng FMSF hai lần để tránh khỏi sáp nhập với ngân hàng Dresdner , tổng vốn và nợđảm bảo lên đến 33.2 tỷ EUR Một sự quốc hữu hoá bằng một cái tên khác, với một nguyên tắc là, bằnggiá trị, sự nắm giữ lớn nhất liên quan đến cuộc khủng hoảng của bất kì chính phủ dẫn đầu Châu Âu nàotrong ngân hàng tư nhân và các gói cứu trợ đưa đến chính phủ 25% +1 cổ phần trong thực thể mới vàquyền phủ quyết trong một vài quyết định quan trọng Chính phủ Đức chọn cách quốc hữu hoá toàn phầnHRE, chống lại ưu tiên của các nhà đầu tư Mỹ trong HRE, JC Flowers, nhưng tình hình của HRE nghiêmtrọng khác thường, và chính phủ cung cấp giá mua cổ phần trên giá thị trường hiện hành
Tuy nhiên, với ngoại lệ của HRE – một tổ chức tương đối nhỏ - sự tham gia của chính phủ Đứcvào quản lý ngân hàng không đáng kể, và cổ đông tư nhân đã không phải đối mặt với sự pha loãng như làkết quả của hành động của chính phủ liên bang ở Anh Trong nhiều tác phẩm tài chính, phương pháp tự
do và tự nguyện được chính phủ Đức thực hiện được nhấn mạnh và đánh giá tốt Chính phủ Đức thíchhành động theo một kiểu mẫu Ở Pháp, gia tăng sở hữu của chính phủ ở các ngân hàng ít nhắm đến giải