Sự sụt giảm trong thị trường chứng khoán có thể làm tổng giá trị tài sản của các công ty đi vay bị giảm sút.. Trong môi trường đó, sự sụt giảm bất ngờ của mức giá chung sẽ làm giảm giá t
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CAO HỌC KHÓA 22 – LỚP NGÀY 4
MÔN HỌC: TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
“Is The 2007 US Sub-Prime Financial Crisis So Different?
An International Historical Comparision”
Nhóm thực hiện – Nhóm 3: Giáo viên hướng dẫn:
2 Trần Ngọc Hiền
3 Bùi Thị Thương
4 Lê Thị Diễm Thuỳ
5 Nguyễn Thuỷ Vi
6 Nguyễn Thị Hồng Minh
7 Nguyễn Thị Hồng Vân
UEH, ngày 02 tháng 11 năm 2012
Trang 2Các nội dung chính:
I Các tác nhân gây ra khủng hoảng tài chính
II Các cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ
III Diễn biến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn ở Mỹ năm 2007-2008
IV Khủng hoảng tài chính ở thị trường mới nổi
V So sánh khủng hoảng cho vay dưới chuẩn & năm cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới
VI Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính đến Việt Nam & biện pháp của chính phủ
Trang 3I Các tác nhân gây ra khủng hoảng tài chính:
Khủng hoảng tài chính xuất hiện khi gia tăng sự bất cân xứng thông tin từ sự đình trệ trong hệ thống tài chính tạo nên sự lựa chọn đối nghịch (người tưởng mình lựa chọn tốt nhưng lại là không tốt do thông tin không đầy đủ) và những vấn đề rủi ro đạo đức Điều đó được biểu hiện là sự bất lực của các dòng vốn hiệu quả từ những người gửi tiết kiệm đến các
cổ đông, nó không đến được các công ty có cơ hội đầu tư hiệu quả trong thị trường tài chính Sáu yếu tố quan trọng trong một cuộc khủng hoảng tài chính:
1 Asset market effect on Balance sheet
2 Deterioration in financial institutions’ balance sheets
3 Banking crisis
4 Increase in uncertainty
5 Increase in interest rates
6 Government fiscal imbalances Chúng ta sẽ phân tích từng nhân tốt và ảnh hưởng của nó đến cho vay, đầu tư và các hoạt hoạt động kinh tế
1 Asset market effect on Balance sheet: Bảng cân đối kế toán của những người đi vay
ảnh hưởng lớn đến vấn đề mất cân đối thông tin trong thị trường tài chính
* Stock Market Decline: sự sụt giảm của thị trường chứng khoán
Sự sụt giảm trong thị trường chứng khoán có thể làm tổng giá trị tài sản của các công ty
đi vay bị giảm sút Lần lượt làm gia tăng những lựa chọn bất lợi và các nguy hại về vấn đề đạo đức trong TTTC, tiềm ẩn một cuộc KHTC
Giá cổ phiếu dùng để đo giá trị tài sản ròng của một DN, do đó giá CP giảm chính là giá trị tài sản ròng của DN giảm Lúc đó những người cho vay sẽ không sẵn lòng cho DN vay nữa, vì với họ giá trị TS ròng DN là vật thế chấp Điều này làm ảnh hưởng đến việc xoay vòng vốn cho các hoạt động đầu tư và tổng sản lượng suy giảm
Bên cạnh đó, các vấn đề rủi ro về đạo đức sẽ tăng lên DN cung cấp những thông tin sai lệch để thu hút nhà đầu (nhà cho vay), làm gia tăng rủi ro đầu tư, điều này khiến cho thị trường kém hấp dẫn, thị trường cho vay và các hoạt động kinh tế giảm
* Unanticipated Decline in the Price Level: sự sụt giảm bất ngờ của mức giá
Trong nền kinh tế với tỷ lệ lạm phát vừa phải, điểm đặc trưng của các nước công nghiệp, rất nhiều hợp đồng vay nợ đã được cố định lãi suất trong những kỳ hạn dài (10 năm hoặc hơn) Trong môi trường đó, sự sụt giảm bất ngờ của mức giá chung sẽ làm giảm giá trị tài sản ròng của các công ty
Trang 4* Unanticipated Decline in the Value of the Domestic Currency: sự sụt giảm bất ngờ của
đồng nội tệ
Giá trị của đồng nội tệ trong tương lai không được đảm bảo nên tại các nước đang phát triển (và cả 1 vài các nước công nghiệp) rất nhiều công ty phi tài chính, ngân hàng và chính phủ thể hiện các khoản nợ bằng ngoại tệ Điều này có thể dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính do mức giá chung sụt giảm Với những hợp đồng vay nợ bằng ngoại tệ, khi giá nội tệ bất ngờ giảm, gánh nặng trả nợ sẽ tăng cao Bởi vì tài sản thì chủ yếu được định giá bằng nội
tệ, nên giá trị tài sản sụt giảm trong bảng cân đối kế toán, điều này về sau sẽ làm tăng nguy
cơ các lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Sự gia tăng bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến suy giảm trong đầu tư và các hoạt động kinh tế
* Asset Write Down: bút toán giảm tài sản
Sự sụt giảm giá tài sản dẫn đến 1 bút toán giảm giá tài sản trên bảng CĐKT của các cơ quan tài chính Điều này có thể khiến hoại động cho vay co lại, tác nhân tiếp theo sẽ chỉ ra điều này
2 Deterioration in financial institutions’ balance sheets: Sự sụt giảm giá trị trong bảng
CĐKT của các cơ quan tài chính
Các cơ quan tài chính, cụ thể là các Ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong thị trường tài chính vì nó điều phối hoạt động cung cấp thông tin giúp đầu tư hiệu quả Bảng CĐKT của
NH nhà nước và các tổ chức tài chính trung gian ảnh hưởng rất đến đến hoạt động cho vay Giả định bảng CĐKT của các tổ chức tài chính giảm giá trị thì nguồn vốn của họ sẽ bị co lại Nguồn cho vay giảm, dẫn đến sự sụt giảm trong đầu tư & làm chậm các hoạt động kinh tế
3 Banking crisis: Khủng hoảng Ngân Hàng:
Nếu bảng CĐKT của các tổ chức tài chính bị sụt giảm nghiêm trọng, thì các tổ chức tài chính bắt đầu lâm vào tình trạng phá sản Những khoản tiền được gửi tại các NH có thể được rút ra ồ ạt do những lo ngại của người gửi, và những lo ngại này thường lan tràn rất nhanh Một cơn hoảng loạn tại các NH xuất hiện khi cùng lúc nhiều NH rơi vào hoàn cảnh trên Nguồn gốc chính cũng là do thông tin thiếu chính xác Một lượng lớn NH phá sản trong một thời gian ngắn, dẫn đến thông tin không tốt trong thị trường tài chính và làm mất vai trò trung gian tài chính của các NH
Trong cuộc khủng hoảng NH, khi cho vay giảm sẽ làm cung vốn giảm, khiến lãi suất tăng cao Xuất hiện các hình thức lừa đảo trong tín dụng để được vay, làm suy giảm các hoạt động kinh tế khác
4 Increase in uncertainty: Mất niềm tin vào thị trường
Trang 5Sự thất bại của các tổ chức tài chính khiến người cho vay không còn lạc quan trước những rủi ro tài chính Không có khả năng can thiệp nên người cho vay sẽ hạn chế cho vay, điều này làm giảm tín dụng, đầu tư và các hoạt động kinh tế khác
5 Increase in interest rates: Tăng lãi suất
Như chúng ta đã biết, dự án càng rủi ro thì lãi suất mà các nhà cho vay đòi hỏi càng cao Nếu đòi hỏi các hoạt động tín dụng tăng và nguồn tiền cung ứng giảm thì lãi suất tăng, lúc này nhóm có khả năng tín dụng tốt không thích đi vay trong khi nhóm rủi ro tín dụng lại sẵn sang vay Do đó, người cho vay cũng e dè khi cho vay Sự suy giảm đáng kể trong hoạt động vay sẽ làm giảm đầu tư và các hoạt động kinh tế
Sự gia tăng lãi suất cũng đẩy mạnh ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thông qua việc tác động đến dòng tiền Một công ty có đủ dòng tiền sẽ tự tài trợ cho các dự án của mình, như vậy sẽ không có sự sai lệch thông tin vì tự bản thân công ty phải biết dự án của mình tốt xấu ra sao Tuy nhiên lãi suất tăng sẽ khiến cho lãi của các khoản trả theo kỳ hạn tăng và làm giảm dòng tiền của họ Dòng tiền giảm, công ty phải cần đến những nguồn vốn
từ bên ngoài Nhưng làm thế nào để NH biết chắc rằng công ty đó đang đầu tư những dự án
an toàn hay rủi ro lớn, có khả năng trả nợ hay không? Có thể do nhiều tác động trái chiều,
NH sẽ từ chối cho vay những dự án tốt, tiềm năng
6 Government fiscal imbalances: sự mất cân bằng ngân sách chính phủ
Đối với các thị trường mới nổi, mất cân bằng ngân sách chính phủ có thể tạo ra mối đe dọa vỡ nợ của chính phủ - giống sự mất cân đối trong Bảng CĐKT của DN – dẫn đến một cuộc khủng hoảng ngoại tệ (do giá đồng nội tệ giảm đột ngột, các nhà đầu tư chuyển tiền ra nước ngoài) Giá trị đồng nội tệ giảm sẽ phá hủy cân bằng trong bảng CĐKT của các công ty với một khoản nợ lớn bằng ngoại tệ
II Các cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ:
Các cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ thường trải qua hai hay thỉnh thoảng là ba giai đoạn như sau:
1 Giai đoạn 1: khởi đầu của các cuộc khủng hoàng tài chính
Có nhiều yếu tố khiến một cuộc khủng hoảng bắt đầu Chúng ta sẽ điểm qua một vài yếu
tố tiêu biểu
* Mismanagement of Financial Liberalization/ Innovation: Quản lỷ yếu kém khi tự do
hoá, toàn cầu hoá thị trường tài chính:
Về lâu dài sự tự do hóa và toàn cầu hoá thị trường tài chính mang lại nhiều lợi ích, khiến
hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả do phân phối nguồn vốn tốt hơn Tuy nhiên, chúng có
Trang 6mặt hạn chế: Khi một sản phẩm tài chính mới được giới thiệu, các cơ quan tài chính thưởng đẩy mạnh việc cho vay, được gọi là “credit boom” (quả bom tín dụng), và mở rộng việc cho vay với tốc độ nhanh chóng Đáng tiếc là các nhà quản lý chưa có khả quản lý rủi ro trong lãnh vực mới này Thậm chí cho dù họ có kinh nghiệm nhưng với tốc độ phát triển tín dụng quá nhanh, nguồn thông tin có sẵn của các tổ chức tài chính không đủ giúp họ kiểm soát các rủi ro tín dụng vượt mức
Hầu hết chính phủ luôn cố gắng ngăn chặn các cuộc khủng hoảng ngân hàng, khuyến khích các NH giữ vững mức cho vay khi nền kinh tế tệ bằng cách cung cấp một mạng lưới bảo vệ Nếu nhiều người đến rút tiền thì chính phủ sẽ bơm tiền vào NH để tránh việc phá sản Điều này lại khiến các NH ỷ lại NH huy động vốn ngay cả khi vượt quá khả năng chịu đựng rủi ro của nó (vì rủi ro càng cao, lãi suất càng cao và NH sẽ kiếm được rất nhiều tiền), và người gửi tiền cũng tin rằng họ không mất gì dù cho NH phá sản Nếu NH phá sản, người gửi tiền sẽ được trả bằng tiền thuế người dân đóng vào Nói cách khác, NH có thể chơi trò chơi
“Heads, I win:tails, the taxpayer loses”
Cuối cùng, điều tất yếu liên quan đến sự tự do hóa cũng đến, các khoản cho vay bắt đầu khó thu hồi hoặc bị giảm giá trị (giảm giá trị của tài sản trong bảng CĐKT), khiến nguồn vốn của các NH và cơ quan tài chính đều giảm Lúc đầu, các tổ chức tài chính sẽ cắt giảm việc cho vay, quá trình này được gọi là deleveraging (giảm nợ) Hơn nữa chúng sẽ trở nên rủi ro hơn, khiến người gửi tiền và người có ý định cho vay e ngại, rút vốn Ít vốn có nghĩa là ít khoản vay và đóng băng tín dụng
NH và các tổ chức tài chính đóng vai trò trung gian, rất thích hợp cung cấp thông tin về các hoạt động kinh doanh và các nền công nghiệp Từ đó có thể phân biệt khoản vay nào tốt, khoản nào xấu Khi các tổ chức này cắt giảm cho vay, không ai làm việc thu thập tin tức này nữa, dẫn đến các quyết định bất hợp lý & hành vi vô trách nhiệm của các tổ chức tín dụng Khoản vay trở nên khan hiếm, các DN khó tìm nguồn vốn cho các dự án đầu tư hấp dẫn, chúng làm giảm tốc độ và các hoạt động kinh tế co lại
* Asset Price Boom and Bust: Quả bom giá tài sản và sự nổ tung
Giá tài sản, trong thị trường cổ phiếu và bất động sản có nhiều tác động đến giá trị cơ bản của nền kinh tế bởi tâm lý của các nhà đầu tư, kết quả là một asset-price bubble (bong bóng giá tài sản)
Bong bóng giá tài sản thường kéo theo quả bom tín dụng Phần lớn các khoản tín dụng được dùng để mua tài sản, do đó liên quan đến giá Khi bong bóng nổ tung và tài sản được định giá lại, sẽ làm giảm giá trị tài sản ròng giảm và bất cân xứng thông tin, làm khả năng tín dụng của người đi vay giảm
Trang 7* Spikes in Interest Rates:
Rất nhiều cuộc khủng hoàng tài chính tại Mỹ vào thế kỷ 19 là do lãi suất tăng Lãi suất cao làm giảm dòng tiền mặt của các công ty, xuất hiện những người có khả năng tín dụng muốn đi vay, và lại làm tăng các quyết định bất hợp lý & hành vi vô trách nhiệm của các tổ chức tài chính, dẫn đến các hoạt động kinh tế sụt giảm
* Increase in uncertainty: Mất niềm tin vào thị trường
Hầu hết các cuộc khủng hoảng ở Mỹ xuất hiện khi niềm tin giảm sút, do suy thoái bắt đầu hay thị trường chứng khoán sụp đổ Sự thất bại của các tổ chức tài chính lớn làm giảm độ tin cậy và ảnh hưởng nổi bật đến các cuộc khủng hoảng
Ví dụ trong lịch sử nước Mỹ: The Ohio Life Insurance and Trust Company năm 1857, Jay coole and Company năm 1873,…
2 Giai đoạn 2: Khủng hoảng ngân hàng
Tiêu biểu cho các khủng hoảng tại Mỹ, là sự đào thải các công ty vỡ nợ, tương tự cho các
NH Khi quá trình đào thải hoàn tất, niềm tin trên thị trường tài chính tăng, thị trường chứng khoán hồi phục, lãi suất giảm Kết quả chung là các quyết định bất hợp lý & hành vi vô trách nhiệm của các tổ chức tài chính trong thị trường tín dụng giảm, dẫn đến khủng hoảng tài chính giảm nhiệt Nếu thị trường tài chính được vận hành tốt trở lại, giai đoạn tiếp theo sẽ hồi phục nền kinh tế, mở ra một giai đoạn tươi sáng hơn
3 Giai đoạn 3: Debt Deflation - Giảm phát nợ
Vỡ nợ dẫn đến giảm phát và sau đó vỡ nợ kết hợp với giảm phát để tạo ra đình đốn Khi
đòn bẩy nợ lên quá cao, số lượng những người mất khả năng thanh toán trở nên phổ biến Các tài sản (bất động sản, chứng khoán, tài sản phái sinh) giảm giá vì khu vực tư nhân phải cắt giảm đòn bẩy nợ Sự tháo chạy diễn ra ở nhiều thị trường hay gọi là giai đoạn thanh
lý Đầu tư quá mức và đầu cơ quá mức thường xảy ra nhưng hệ lụy của chúng là ít nghiêm trọng hơn nếu nguồn tiền không đến từ vay nợ Nghĩa là, nếu có quá nhiều con nợ có thể dẫn đến tình trạng đầu tư quá mức và đầu cơ quá mức Đồng thời hệ quả cũng lớn hơn rất nhiều
vì người nắm giữ tài sản buộc phải bán tài sản để trả nợ
III Diễn biến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn ở Mỹ năm 2007-2008:
1 Các công cụ tài chính ra đời trong Thị trường cho vay thế chấp
Bắt đầu từ những công ty cho vay bất động sản trực tiếp (mortgage originators), người dân đi vay mua nhà được phân loại thành dưới chuẩn (subprime), cận chuẩn (Alt-A), chuẩn (prime), và được nhà nước bảo đảm (ví dụ được Fannie Mae hay Freddie Mac bảo đảm) Từ tổng số tín dụng này, các công ty tài chính "chứng khoán hóa" (securitize) khoảng 1200 tỷ thành một loại công cụ tài chính có thể mua bán được gọi là RMBS (residential mortgage
Trang 8backed securities) Các nhà đầu tư khi mua RMBS sẽ được bảo đảm và trả lãi bằng chính nguồn thu từ các khoản cho vay mua nhà ở nói trên
Số MBS này được gộp với các loại chứng khoán tín dụng khác như cho vay bất động sản thương mại, vay thẻ tín dụng, vay mua xe hơi, vay tiền học đại học…nói chung là ABS (asset backed securities) Từ đây, các công ty tài chính chế tạo ra một loại công cụ tài chính mới gọi
là CDO (collateralized debt obligations) bằng cách kết hợp các ABS vào thành các portfolio rồi chia nhỏ các portfolio này theo các mức độ rủi ro từ cao đến thấp: senior, mezzanine and equity
Đến một lúc nào đó nhu cầu CDO trở nên quá lớn vì ai cũng nghĩ rằng đây là một hình thức đầu tư tốt ít rủi ro, người ta quyết định thay ABS trong các portfolio để tạo ra CDO bằng chính các CDO, nghĩa là CDO của CDO Rồi sau đó là CDO của CDO của CDO Những loại CDO được xây dựng từ các portfolio cấu thành từ các CDO khác này gọi là sythetic CDO, để phân biệt với cash CDO là các CDO truyền thống cấu thành từ ABS
Những công cụ tài chính như CDOs, CDO2s và CDO3s trở nên quá phức tạp để xác định giá trị thật sự của tài sản hay ai mới là người sở hữu thật sự của tài sản
2 Bong bóng giá nhà ở
Thuật ngữ “bong bóng” trong lĩnh vực tài chính thường dùng để chỉ một tình trạng trong
đó giá một loại hàng hóa hay tài sản bị bơm phồng, cao hơn nhiều so với giá trị thực của nó Thị trường nhà ở của Mỹ phát triển thành bong bóng từ năm 2001 Người Mỹ tích cực đi vay mua nhà ở cho dù lãi suất các khoản vay đã được đẩy lên rất cao vào những năm 2004–
2005 Điều này kích thích sự sự phát triển của Thị trường cho vạy thế chấp, giá nhà càng cao nghĩa là những người đi vay dưới chuẩn có thể thế chấp lại nhà cho một khoản vay lớn hơn Khi tình hình kinh tế khó khăn, giá nhà hạ mạnh Từ cuối năm 2005, bong bóng nhà ở bắt đầu xẹp hơi
Khi giá nhà ở vượt quá xa so với mức giá trị gốc thì bong bóng nhà ở phải vỡ Giá trị của ngôi nhà còn thấp hơn cả giá của khoản vay thế chấp
3 Khủng hoảng lan ra toàn cầu
Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century Financial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính thức nổ ra
Trang 9Từ Mỹ, rối loạn này lan sang các nước khác Ở Anh quốc, ngân hàng Northern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng đòi rút tiền gửi của mình ra
4 Hậu quả
Nền kinh tế Mỹ trì trệ, tỉ lệ thất nghiệp gia tang, các ngân hang và công ty lớn phá sản Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là General Motors, Ford Motor và Chrysler LLC.Tháng 3/2008 Bear Stearns, ngân hang đã đầu tư rất mạnh vào chứng khoán lien quan đến khoản thế chấp dưới chuẩn, là ngân hang đầu tư lớn thứ 5, bị bán cho JPMorgan với giá thấp hơn 5% giá trị của nó cách đó 1 năm Tháng 8/2008, sau sự thua lỗ trong thị trường cho vay thế chấp dưới chuẩn, Lehman Brother, ngân hang đầu tư lớn thứ 4 trên TG với tổng tài sản hơn 600 triệu USD và 25,000 nhân viên đã phá sản
IV Khủng hoảng tài chính ở thị trường mới nổi
1 Giai đoạn 1: Giai đoạn đầu của khủng hoảng tài chính
Khủng hoàng tài chính ở thị trường mới nổi xảy ra tại hai xuất phát điểm cơ bản:
• Quản lý yếu kém khi tự do hoá, toàn cầu hoá tài chính
• Sự mất cân bằng tài chính nghiêm trọng
a Quản lý yếu kém
Cũng tương tự như tại Mỹ, nguồn gốc của khủng hoảng tài chính ở thị trường mới nổi thường xảy ra khi tự do hoá hệ thống tài chính
Thị trường mới nổi có nhân viên ngân hàng giám sát yếu, thiếu chuyên môn đối với việc kiểm tra người vay Kết quả dẫn đến việc cho vay bùng nổ, mức rủi ro cao Toàn cầu hoá như
đổ thêm dầu vào lửa, nó cho phép ngân hàng trong nước vay nợ của nước ngoài Các ngân hàng trả lãi suất cao để thu hút vốn đầu tư của nước ngoài & đẩy mạnh hoạt động cho vay Dòng vốn được kích thích bởi chính sách của chính phủ - giữ tỷ giá đồng nội tệ cố định so với đồng dollar – để cho nhà đầu tư nước ngoài cảm giác ít rủi ro
Việc cho vay rủi ro cao sẽ gây tổn thất đối với khoản cho vay, dẫn đến sự suy giảm trong bản cân đối kế toán của các ngân hàng, dẫn đến việc họ phải cắt giảm khoản cho vay Cũng như ở những nước phát triển mà điển hình là Mỹ, bùng nổ cho vay kết thúc bằng sự sụp đổ của thị trường cho vay Ở thị trường mới nổi, ngân hàng đóng vai trò quan trọng hơn ngân hàng ở nước phát triển, vì chứng khoản & các tổ chức tài chính khác thì chưa phát triển tốt
Vì vậy, sự suy giảm trong bảng cân đối tài khoản của ngân hàng tác động tiêu cực đến việc cho vay nhiều hơn ở nước phát triển
Trang 10Dẫn chứng trên dường như cho thấy bùng nổ cho vay như là không thể tránh khỏi khi tự
do hoá, toàn cầu hoá tài chính ở thị trường mới nổi, nhưng thật sự nó không phải là nguyên nhân Bùng nổ cho vay chỉ xảy ra khi quản lý yếu kém, chính điểm này đã ngăn chặn con đường đi đến thành công của một quốc gia trong quá trình tự do hoá, toàn cầu hoá Cụ thể hơn, nếu quy định & giám sát đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro tốt hơn thì bùng nổ cho vay & phá sản đã không xảy ra Tại sao quy định & giám sát lại trở nên yếu kém? Câu trả lời là vấn
đề cốt yếu đã được thảo luận ở những chương trước là các chính sách khuyến khích kinh doanh trong nước quá mạnh mẽ làm hư hỏng quá trình tự do hoá tài chính
b Mất cân đối tài chính nghiêm trọng:
Sự mất cân bằng tài chính nghiêm trọng của chính phủ dẫn đến thâm hụt ngân sách, cần tài trợ cho khoản thâm hụt này, đây chính là con đường thứ 2 dẫn đến khủng hoảng tài chính Những cuộc khủng hoảng tài chính trước đây như là ở Argentina năm 2001-2002, ở Nga năm
1998, Ecuador năm 1999, nguyên nhân do sự mất cân bằng tài chính của chính phủ
Khi Willie Sutton, một tên cướp ngân hàng nổi tiếng, được hỏi rằng tại sao hắn lại cướp ngân hàng, thì hắn trả lời, “Bởi vì đó là nơi có tiền” Chính phủ ở các nước thị trường mới nổi cũng vậy, khi họ đối mặt với sự mất cân đối tài chính lớn & không có tài trợ, họ thường buộc các ngân hàng thanh toán nợ cho mình Dẫn đến nhà đầu tư mất niềm tin vào khả năng trả nợ của chính phủ, đây là nguyên nhân khiến giá trái phiếu giảm mạnh Vì vậy tài sản ròng của
ngân hàng giảm mạnh dẫn đến hoảng loạn ở ngân hàng
Nhân tố khác:
• Tăng lãi suất từ nước ngoài
• Giảm giá trị của tài sản
• Nền chính trị bất ổn
2 Giai đoạn 2: Khủng hoảng tiền tệ
Những nhà đầu cơ trên thị trường có thể dự báo trước đồng tiền sẽ mất giá & nhanh chóng bán chúng để có thể thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ Đồng nội tệ lúc này tràn ngập thị trường, cung vượt xa cầu Chính phủ dùng lượng dự trữ ngoại tệ mua đồng tiền đang mất giá để có thể ổn định tỷ giá Khi cạn kiệt nguồn dự trữ này, chính phủ không còn khả năng kiểm soát nữa & khủng hoảng tiền tệ sẽ nổ ra
* Sự suy giảm trong bảng cân đối tài khoản của ngân hàng có dẫn đến khủng hoảng tiền
tệ hay không?
Khi ngân hàng & hệ thống tài chính gặp vấn đề, chính phủ có rất ít giải pháp để lựa chọn Nếu chính phủ tăng lãi suất, thì ngân hàng phải trả nhiều hơn để có được nguồn vốn, làm