1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích truyện ngắn: Vợ nhặt (2)

12 1,2K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích truyện ngắn: Vợ nhặt (2)
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Bình luận phân tích
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 73,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ đề: vợ nhặt không tập trung đi sâu vào nỗi khổ vật chất mặc dù cũng có đủ các biểu hiện của tình trạng thê thảm của sự nghèo đói mà nêu lên một khía cạnh hết sức độc đáo: một tình hu

Trang 1

Vợ nhặt

Phân tích truyện ngắn của Kim lân

I – Nội dung t Nội dung t tởng

1 Đề tài: vợ nhặt viết về mảng đời sống nông thôn trong thời kỳ nạn đói

khủng khiếp diễn ra năm 1945 làm cho 2 triệu đồng bào ta chết đói Câu truyện diễn ra ở một xóm dân ngụ c qua cảnh ngộ của một gia đình cụ thể mà cái nghèo khó vốn đeo bám họ suốt cả một đời ngời

2 Chủ đề: vợ nhặt không tập trung đi sâu vào nỗi khổ vật chất mặc dù cũng

có đủ các biểu hiện của tình trạng thê thảm của sự nghèo đói mà nêu lên một khía cạnh hết sức độc đáo: một tình huống gần nh có một không hai, gây bất ngờ sửng sốt đối với tất cả mọi ngời là hiện tợng “vợ nhặt” nh tiêu đề thiên truyện ngắn Câu truện hông nhân thành vợ thành chồngtrong lúc ngày mai không biết sống chết ra sao, giữa lúc thiên hạ chết đói đầy đờng đầy chợ Nói cách khác, sự sống ló ra trong cái chết, cái sống và cái chết và cái sống đang tranh chấp với nhau

Ngời ta vẫn lấy nhau trong bóng tối của tử thần quả là một ngịch lý, nghịch

lý mà có thật – Nội dung t dù là h cấu song vẫn là thật nếu xét tới cội nguồn bản chất của con ngời

3 T tởng – Nội dung t Khẳng định bản chất ham sống của con ngời Sự sống mạnh hơn cái chết Xét cho cùng, đó chính là bản chất lạc quancủa con ngời trong quá trình tồn tại của mình, thứ bản chất mà văn học dân gian đã từng thể hiện:

Đừng có chết mất thì thôi

Sống thời có lúc no xôi chán chè”

Hay: chớ than phận khó ai ơi

Còn da: lông mọc, còn chồi nảy cây”

Cái chổi của lòng ham sống vẫn không bị thui chột trong lòng ngời ngay trong thời điểm gần nh tuyệt vọng

II – Nội dung t hình thức nghệ thuật

1.Yếu tố tạo hình – Nội dung t tác giả truyện “vợ nhặt” bằng vốn sống và tài năng độc

đáo của mình đã tạo ra một tình huống đặc biệt, trong đó các nhân vật bộc lộ số phận của mình một cách nổi bật Một cô gái không phải loại đờ đẫn gì, cũng có nét khôn ngoan nào đó, mà dễ dàng theo anh Tràng, dáng ngời thô kệch sau khi đợc đãi bốn bát bánh đúc mà nàng ăn ngấu nghiến với một câu nói tầm phào của Tràng; một số phận bi thảm của một đời con gái mà tác dỉa kgông nỡ gọi tên mà chỉ gọi là thị Một anh Trành, xấu xí đã đành, mà nghèo suốt đời không thể lấy ai làm vợ nếu

Trang 2

không có cái vụ đói khủng khiếp xảy ra Cả đời cha bao giờ cảm thấy mình nên

ng-ời mà chỉ cảm thấy điều đó vào sáng hôm sau cái đêm tân hôn Và từ đó mới thấy mình có một trách nhiệm với gia đình, với vợ con – Nội dung t một điều hết sức bình dị và tự nhiên, song đối với anh nh một khám phá thế giới mới Một bà mẹ già từng trải,

tr-ớc việc bất ngờ con mình nhặt đợc vợ, từ không hiểu đến lúc hiểu ra rồi thì trào lên bao nhiêu là cảm xúc đan xen: mừng lòng đấy nhng tủi nhiều, lo nhiều hơn, thơng con thơng dâu nhiều hơn, ân hận về trách nhiệm của ngời mẹ không làm tròn nghĩa

vụ nên xót xa cho đời mình, cho con Song, bà cầu mong một ngày maivới một niềm tin cố hữu “ai goầu ba họ ai khó ba đời” và chính bà nghĩ ra bao nhiêu là truyện vui sau này cho con cho cháu, và mặt mày cũng đỡ héo hon, cặm cụi quét dọn nhà cửa vờn tợc với ýa nghĩ cuộc sống tốt lành sẽ tới

Bên những nhân vật ấy, là cái bóng của tử thần lảng vảng, nh một lỡi gơm tro trên đầu các nạn nhân: mùi dấm trấu xua tử khí của ngời chết, tiếng hờ thê thảm theo gió lan tới các gia đình khốn khổ

2 Kết cấu.- Câu truyện đợc thuật theo một trật tự tự nhiên của thời gian,

không có sự sáo trộn nào đặc biệt Song kết cấu triệt để sử dụng pháp tơng phản: Tràng ngày trớc là nguồn vui của lũ trẻ nhỏ mỗi khi anh đi làm về qua đem lại tiếng cời cho cái xóm ngụ c vốn đã im lìn trong mệt mỏi và nghèo khổ thì nay, Tràng lầm lũi và lũ trẻ nhỏ cũng ru rú ở xó nhà chứ không bám níu lấy anh nh hồi trớc Một không khí cgết chíc đậm nét dần, chìm vào cái im lìm buồn thảm Sự tơng phản còn thể hiện ở chỗ việc Tràng có vợ nh là một nghịch lý gây nên sự ngạc nhiên của hết thảy từ xóm giềng, bà mẹ và cả ngời trong cuộc là Tràng Sự tơng phản còn cả trong

sự đan xen, đối trọi trong từng chi tiết: cùng với tiếng cời khúc khích của đôi vợ chồng trẻ trong tối tân hôn là tiếng hờ khóc ngời thân vọng đến, cùng đồng hiện

Ngôn nghữ, kết cấu ấy phục tùng việc biểu đạt nổi bật chủ đề và câu truyện

3 Ngôn từ -Điểm nổi bật của lời văn nghệ thuật của vợ nhặt là thứ ngôn

nghữ đậm nét chất đời sống thực

Đây là vài nét khắc hoạ hình ảnh nhân vật Tràng:” hắn vừa đi vừa tủm tỉm cời , hai con mắt nhỏ tí , gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho bộ mặt thô kệch của hắn cũng nhấp nhính những ý nghĩ gì vừa lý thú vừa dữ tợn Hắn có tật vừa đi vừa nói Hắn lảm nhảm những điều hắn nghĩ” Vài nét

mà phác hoạ ra một số phận bơn trải vật lộn với cuộc sống gần nh bế tắc, vừa nh chịu đựng, nhẫn nhục, vừa nh muốn có sự chống chọi, phản ứng với cuộc đời Song con ngời ấy lại hiền khô, bọn rẻ thấy Tràng thì “đừa túm đằng trớc, đứa túm đằng

Trang 3

sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi Tràng chỉ ngửa mặt lên trời cời hềnh hệch ”

Ngôn ngữ tạo hình thật sống động, in dấu ấn của số phận bị cuộc đời làm cho mệt mỏi

Và ngôn từ cũng báo hiệu sự biến chuyển vào một thời điểm đen tối, nạn đói

ập đến “ Trong buổi chiều nhá nhem, Tràng đi từng bớc mệt mỏi … Cái đầu trọc Cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trớc Hình nh những lo lắng chật vật trong một ngày đè xuống cái lng to rộng nh lng gấu của hắn” Và cái đói cũng đợc hình tợng hoá, tạo hình cụ thể qua cái “bớc chân ngật ngỡng trên con đờng khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những ngời ngụ c vào trong bến”

Cuộc đối thoại giữa Tràng và thị trên đờng về nhà cũng rất sống động và hóm, góp phần bộc lộ cái chất phác mộc mạc của Tràng và cái khôn ngoan dí dỏm của thị:

“Sắp đến cha? – Nội dung t Ngời đàn bà chợt hỏi

Sắp

Nhà có ai không?

Có mình tôi mấy u

Thị tủm tỉm cời

Đã một mình lại còn mấy u, Bé lắm đấy

Hắn bật cời

à nhỉ

Câu chuyện xem chừng đã thân thân Hắn đi sát gần bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lúc, chợt hắn giơ cái chai vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe:

Dỗu tối thắp đây này

Sang nhỉ

Khá thôi Hai hào đấy, đắt quá Cơ mà thôi chả cần

Hoang nó vừa vừa chứ

Hắn chặc lỡi:

Vợ mới vợ miếc gì cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chả nhẽ ch a tối đã rúc vào ngay, hì hì … Cái đầu trọc

Khỉ gió

Thị đánh đét vào lng hắn, khoặm mặt lại

Hắn thích chí ngửa cổ cời khanh khách

Đó là một mảng sáng , có tiếng cời hạnh phúc, và phút giây ngời ta quên bẵng lo âu Lối nói đối đáp mang tính khẩu ngữ, trống không, lấp lửng đã tái hiện

Trang 4

rất đặc sắc cảnh đôi vợ chồng mới tình cờ này Ngòi bút Kim Lân vừa hóm vừa hiểu ngời, hiểu cảnh và chân trọng nâng niu cái tia sáng cuộc đời giữa cái nện xám xịt của tình thế ở cái xóm ngụ c nơi dệ sông trong cơn bĩ cực

Đối thoại thì sinh động và đúng giọng điệu, lời ăn tiếng nói của nhân vật Lời

kể của tác giả tơng hợp với chất giọng và tâm trạng nhân vật mình sáng tạo ra Và

đây, những diễn biến tâm trạng bà mẹ Tứ đúng là một độc thoại nội tâm đầy xúc

độngvà bộc lộ bản chất một ngời mẹ nông dân nghèo khổ Việt nam Lời trần thuật của tác giả về ý nghĩ của bà nh toát ra từ dòng suy t của bản thân nhân vật, nh có

ánh sáng rọi chiếu từ bên trong tâm khảm của nhân vật làm nên cái đậm đà , chân thực có sức lay động tâm hồn ngời đọc

“Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Lòng ngời mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa sót thơngcho con cái số kiếp đứa con mình Chao ôi, ngời ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Con mình thì … Cái đầu trọc trong kẽ mắt kèm mhàm của bà rủ xuống hai hàng nớc mắt … Cái đầu trọc Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua đợc cơn đói khát này không?”

Lời kể của tác giả và nội tâm nhân vật nh một thứ độc thoại nội tâm, hào quyện với nhau làm một Cũng cùng thủ pháp ngôn từ ấy, ngòi bút tác giả lách vào những biến đổi tâm trạng của các nhân vật trong cái gia đình tội nghiệp ấy khi họ dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và quang quẻ với ý nghĩ thầm tin rằng “thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi , làm ăn có cơ khá hơn Hay bữa sáng ăn cái món chè khoán mà bà mẹ cố tình an ủi là “ngon đáo để”, sau cái chun mặt của Tràng vì vị đắng chát và nghẹn bứ trong cổ thì nh tác giả viết “Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau Một nỗi tủi hờn len vào trong tâm trí mọi ngời” Không còn là chữ nghĩa nữa

mà là vị chua chát của cuộc đời Lời văn nghệ thuật đạt đến mức ấy, nghĩa là không chê vào đâu đợc

Kim Lân con tỏ ra làm chủ hoàn toàn ngòi bút của ông khi ông điều khiển các con chữ, và giọng điệu Chẳng hạn, đoạn thuật dòng suy nghĩ của bà mẹ tứ, hay câu văn hàm xúc sau đây: “hắn cời khì khì, vơn cổ thổi tắt phụt ngọn đèn Trong

đêm khuya tiếng hờ khóc tỉ tê nghe càng rõ … Cái đầu trọc”

* Giá trị nhân đạo của chuyện ngắn Vợ nhặt của Kim lân

1 Vợ nhặt, thiên truyện ngắn không nhằm mục đích chủ yếu là tố cáo tội ác

của bè lũ thống trị gây ra nạn đói khủng khiếp 1945, mà ý nghĩa nghệ thuật của những nét phác hoạ cái không khí bi thảm của đời sống nhằm nói một vấn đề sâu

Trang 5

sắc hơn phát lộ, khám phá ra một điều ẩn tàng trong chiều sâu của thế giới tâm linh của con ngời có ý nghĩa nhân văn sâu sắc

2 Nh tiêu đề thiên chuyện, Vợ nhặt là một hiện tợng nghịch lý của đời sống.

Xa nay, chuyên dựng vợ gả chồng vốn là việc thiêng liêng đối với mỗi ngời, mỗi gia tộc và có ý nghĩa cộng đồng Đó là vấn đề tình cảm, vván đề duy trì nòi giống thuộc

về lẽ sinh tồn của tự nhiên, của tạo hoá Dân tộc ta là một dân tộc trọng nghĩa tình , qua trờng kỳ lịch sử đã hình thành cả một tập tục trang trọng và đẹp đẽ của hôn nhân Thế mà, cái nạn đói khủng khiếp xảy ra, ngời ta lại nh vớ đợc cái hạnh phúc trời cho mà tởng nh nằm mơ giữa ban ngày

Có lẽ trên đời này, chẳng có đôi vợ chồng nào lại có một hoàn cảnh chớ trêu

đến vậy

Câu chuyện giữa anh Tràng và thị Tràng là một ngời lao động ngụ c, kiếm sống bằng nghệ phu phen, ngời thô kệch, vập vạp, có cái lng nh lng gấu, bản tính hiền khô đến lũ trẻ còn dám bâu vào anh nh một thú vui mỗi buổi chiều về, song hình nh do sống cuộc đời bơn trải, thăng trầm nơi đất khách mà trong đầu luôn

“nhấp nhính những ý nghĩ vừa ký thú vừa dữ tợn” khiến Tràng hay lẩm bẩm một mình Con ngời đó có cái gì u ẩn ở trong lòng

Nghèo thì đã đành rồi, cả xóm ngụ c cũng cùng một cảnh thế thôi xong Tràng vào hạng đặc biệt hơn cả Ngời ta nghèo, nhng còn có đôi có lứa, có con trẻ

bi bô Tràng suốt một đời nghèo đén nỗi không thể lấy nổi vợ Cái nghèo của gia

đình anh nh một truyền kiếp Đùng một cái, nạn đói ập đến, ngời ta chết đầy đờng, nhờ xó sức Tràng còn kéo xe chở thóc cho ngời, còn có một đồng, còn cha chết hẳn.Thế mà chỉ mội câu chuyện tầm phào và đãi “thị”một bữa quà bốn bát bánh đúc

mà “thị”ng ý theo về làm vợ sua khi cắm đầu ăn ngấu nghiến Một cuộc đời chua chát đến cực điểm Ta không nghĩ nhiều đến tập tục hôn nhân trang trọng và đẹp đẽ,

mà có nghĩ đến thì cũng thêm thông cảm với những số phận hẩm hiu, càng thơng hai con ngợi bất hạnh ấy Ta hớng sự suy t về cái giá trị một con ngời Thực chất,

“thị “không phải đến nỗi nào, thị cũng là ngời sắc sảo, ý tứ nh ai, mà so với Tràng còn có vẻ nhỉnh hơn về sự hóm hỉnh, thế mà chỉ vì cái đói mà cái giá về nhà chồng chỉ là bốn bát bánh đúc Và bữa cơm đầu chỉ là món chè khoán đắng ngắt và bứ đến nghẹn cổ Đúng nh mẹ Tứ nghĩ, có đói kém thế này ngời ta mới lấy đến con mình!

Số phận con ngời thật đắng cay!

Chỉ riêng số phận của “thị”với cái giá rẻ mạt nh vậy đã đủ là một lời cáo trạng

đanh thép đối với kẻ thù, là tiếng nói vừa chua chát vừa căm hờn ẩn chứa trong lời

Trang 6

kể có vẻ khách quan của Kim Lân Một giọng điệu khách quan để ghi lại một tấn bi hài kịch của số phận con ngời trong hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc ấy

Đối với Tràng, “thị”theo anh về qua câu nói tầm phào, gọi là đùa cho vui, thế mà thành sự thật Anh cũng chẳng có thể tin đợc điều đã xảy ra Ngay khi dẫn thị về nhà rồi “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ không phải thế” Và sáng hôm sau cái đêm tân hôn, “việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng nh không phải” Việc có cô vợ nhặt đối với Tràng quả là một quả phúc từ trên trời rơi xuống, cái quả phúc đi tìm cả một đời ngời và chỉ thành hiện thực trong một hoàn cảnh trớ trêu thiên hạ chết đói đầy đờng và bản thân mình ngày mai

ra sao cũng không còn biết nữa Một hạnh phúc của nghịch lý, của đắng cay Nhng cũng chính từ cảnh ngộ đặc biệt đó mà bộc lộ nỗi khát khao hạnh phúc của con ngời Lòng ham sống của con ngời nh một thứ chồi cây mạnh mẽ im lìm trong lòng

đất, không thể gì có thể làm thui chột đợc Cái đói là đáng sợ, bóng đen tử thần làm con ngời lo âu song bản chất con ngời là lòng ham sông, yêu đời, và luôn luôn hớng tới một niềm hy vọng Sự sống qua cảnh ngộ này chứng tỏ mạnh hơ cái chết Tràng sau đêm tân hôn cũng nh từ thế gới khác bớc ra, “trong ngời êm ái lửng lơ nh ngời vừa ở trong giấc mơ đi ra”

KL đã tạo ra một cảnh vật đặc biệt cho nhân vật của mình là gặp hạnh phúc

đúng vào thời điểm bất ngờ, tuyệt vọng nhất để phát lộ ra bản chất ham sống của con ngời Ngòi bút của ông không chỉ thần tình mà con tỏ ra nâng niu ớc vọng chân chính của con ngời, lhẳng định sức sống tiềm tàngvà mạnh mẽ của tình yêu cuộc sống, cụă sống Đó là tiếng nói nhân văn cao cả và sâu sắc

Đắc biệt gây xúc động trong “vợ nhặt” là hình ảnh bà mẹ Tứ Trớc giây phút ngạc nhiên, khi đã hiểu sự tình, tâm trạng bà mói lên tất cả KL bằng một lối văn xác thực và chân thực, bằng sự hiwur đời và hiểu ngời, đã tái hiện một khoảng khắc chứa cả nỗi nhọc nhằn của cả một đời ngời., một kiếp ngời, cùng phẩm chất cao đẹp rất ngowif của một bà mẹ nghèo khổ Việt nam:

“Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão ấy hiểu rồi Lòng ngời mẹ nghèo khổ ấy hiểu

ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thơng cho số phận đứa con mình Chao

ôi, ngời ta dựng vợ gả chồng nh con là lúc nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Con mình thì … Cái đầu trọc trong ke mắt kèm nhàm của bà rủ xuống hai dòng nớc mắt … Cái đầu trọc Biết rằng chúng có nuôi nổi nhau qua đợc cơn đói khát này không?”

Một ngời đàn bà từng trải, hiểu biết và giầu đức hy sinh, một lòng thơng con thơng con và xót xa ân hận về nghĩa vụlàm mẹ cha tròn của mình Bao nhiêu lo âu

Trang 7

chỉ để dành cho cuộc sống của con cháu sau này, còn với mình bà tịnh không nghĩ

đến, chỉ giữ lại một nỗi xót xa vì bổn phận cha tròn

Ngoài ra ở bà mẹ Tứ vốn có một niềm tin cố hữucủa ngời nông dân đã trải qua cuộc sống thăng trầmb đầy nớc mắt, lo toan không mấy có niềm vui, một niềm tin tự ngừy xửa ngày xa, niềm tin voà ngày mai xuất phát từ lòng ham sống của con ngời “ai giầu ba họ, ai khó ba đời” Nói cách khác, bà mạ Tứ là hiện thân của thứ chủ nghĩa lạc quan dân dã, cố hữu đó cũng là nét nhân vắnau đậm trong tâm hồn dân tộc

3.Mỗi nhân vật, mỗi số phận trong “vợ nhặt” làm sáng tỏ khía cạnh có ý

nghĩa nhân văn khác nhau Ngay “thị” một số phận hẩm hiu không có đến một cái tên khiến ta nghĩ đến giá trị của con ngời rẻ mạt đến mức nào trong cái thời nạn đói tháng ba khủng khiếp ấy đã đày đoạ nhân dân ta trong vực thẳm Còn Tràng, làm ta cảm nhận thấm thía nỗi cơ sực của một kiếp ngời và lòng ham sống vốn là bản chất của con ngời Bà mẹ Tứ làm sáng lên bản chất cao đẹơ cua những con ngời bị đày

đoạ trong nghèo khó, một bà mẹ giầu đức hy sinh

Tất cả những con ngời ấy trong cuộc hôn nhân tội nghiệp mặc dù không có

đ-ợc một niềm vui đúng nghĩa song trong lòng họ vẫn tìm lại đđ-ợc sinh khí của cuộc

đời để kgỏi gục ngã trong giờ phút gian nguy, để còn nghị lực mà đi tiếp mà hy vọng Tràng nh thành một con ngời khác Sau cái đêm tân hôn, anh cảm thấy một cái gì êm ái lan toả trong lòng và nh từ cõi mộng bớc ra Và đến buổi sáng ấy, khi bắt đầu nếm mùi hành phúc anh mới cảm thấy mình là một con ngời và mới thấy trách nhiệm làm ngời, rồi đây anh có nhiệm vụ với vợ với con Hạnh phúc tới, cả một chân trời mới mở ra trớc mặt mà Tràng thấy rõ ở trong lòng Và “thị” vợ anh cu Tràng, cũng trở nen một nàng dâu ý tứ, dịu dàng Và đặc biệt, bà mẹ Tứ cái mặt bủng beo cũng rạng rỡ ra Những con ngời đó , ra sức quét dọn quang quẻ vờn tợc, nhà cửa, với ý nghĩ cuộc đời sẽ khác hơn

Thế mới biết, sự sống mạnh hơn cái chết Đối với con ngời ngoài nhu cầu vật chất còn có nhu cầu sống, cuộc sống của con ngời Và chính lòng ham sống và ý thức, tiềm thức về quyền sống là nguồn nội lực làm nên sức sống dẻo dai, bền bỉ trong con ngời để tòn tại và phát triển ý thức đó, nhu cầu tự thân đó càng rõ rệt trong những giờ phút điển hình nhất của nỗi gian truân, trong giây phút giáp danh giữa cái sống và cái chết Con ngời luôn luôn hớng về sự sống

Âm điệu của vợ nhặt là là âm hởngcủa một bi kịch lạc quan Là bi kịch bởi

nó là bàn cáo trạng đói với những lực lợng đen tối đẩy số phậnnhwngx ngời lơng

Trang 8

thiện vào đáy sâu của sự khốn cùng Là lạc quan vì nó là tiếng nói của ớc vọng và

hy vọng

Giá trị chủ yếu cua rvợ nhặtlà ở tinh thần nhan đạo sâu xalà vì vậy/

Phân tích tâm trạng bà mẹ Tứ trong “vợ nhặt”

1.Trong vợ nhặt, gia đình mẹ Tứ có lẽ là vào loại gia đình khốn cùng nhất.

Nơi ở của họ cũng là nơi heo hút nhất của cái xóm ngụ c Cái đói khổ truyền kiếp

đeo bám họ gần nh suốt cuộc đời Nghèo đén mức ngời con trai độc nhất của gia

đnhf là Tràng không thể nào lấy đợc vợ trong điều kiệnbình thờng nh những ngời nghèo khổ khác Thé nhng ngời đau khổ nhất, buồn tủi nhất, lo âu nhất lại chính là

bà mẹ Tứ; bà là kết tinh của những cuộc đời bất hạnh và ớc vọng đổi đời của những con ngời nghèo khổ Và trong bà , cũng bộc lộ rõ nét nhấtnhwngs phẩm chất cao

đẹp của những kẻ khốn cùng, của ngời mẹ nghèo khổ Việt nam

2.Trớc việc con trai mẹ Tứ – Nội dung tanh Tràng dẫn cô vợ nhặt về và giới thiệu ra

mắt bà, bà ngạc nhiên, hết sức bất ngờ và mãi không hiểu ra sao cả Mắt bà tự nhiên

cứ nhoèn ra Mãi sau, Tràng nói rạch ròi bà mới vỡ lẽ

Võ lẽ rồi thì “Bà lão cúi đầu nín lặn Bà lão hiểu rồi Lòng ngời mẹ nghèo khổ ấy hiểu ra biết bao cơ sự, vừa ai oán vừa xót thơng cho số kiếp đứa con mình Chao ôi, ngời ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc nhà ăn nên làm nổi, những mong con sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì … Cái đầu trọc”

Tràng thế là có vợ , là mẹ nhng bà lại không mừng rỡ trái lại chỉ chào lên nỗi xót thơng cho số kiếp đứa con mình Bà tủi cho con và tủi cả cho mình Bà ân hận, chua xót vì không làm tròn bổn phận của ngời mẹ, cha làm đợc cái việc dựng vợ cho con, một thiên chức của mẹ cha Thơng con, thơng mình, tủi cho con và tủi cả cho mình Trong kẽ mắt kèm nhèm rủ xuống hai hàng nớc mắt Nớc mắt của buồn tủi

Đó là tâm trạng của bà về quá khứ, những năm tháng nghèo khó không cất

đầu lên đợc, trăm cay nghìn đắng đã từng, không những thế, ba flo cho con bà những ngày hiện tại có sống nổi qua cơn đói này không Buồn tủi cha qua, lo âu vội tới trong lòng bà lão

Thơng con , lo cho con, bà thơng lây cả ngời đàn bà đã theo Tràng đến cửa nhà bà Bà là ngời từng trải và hiểu biết, Bà nhìn đăm đăm ngời đàn bà nh cố tìm một lời giải đáp Bà nghĩ “ngời ta có gặp bớc khó khăn, đói khổ này, ngời ta mới lấy

đến con mình Mà con mình mới có vợ đợc ” Nghĩ vậybà cũng thấy vui lên một

Trang 9

chút, thấy trong cái nguy lại con vớt vát đợc cái may, điều mà bà chẳng lo đợc cho con Con bà đã có gia đình, có vợ đó là việc đại sự., không mừng làm sao đợc, dù mừng trong lo âu thì cũng lag mừng

ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng

“Thôi thì” – Nội dung t sự việc đã rồi bà phải đành lòng thôi vì đâu có phải là lúc ăn nên làm nổi, lúc ngời ta đang chết đầy đờng và mình thì cha biết ra sao nhng là chuyện “phải duyên phải kiếp” thì lẽ nào lại không là may mắn nên bà mừng là hợp

lẽ Song bà mừng lòng song nghe trong cái mừng đõen lẫn cái âu lo, và có pha chút gì tủi phận cho mẹ con bà, với cả ntình thơng đôi vợ chông tình cờ bất hạnh, về với nhau đâu có thế này bao giờ Trong tâm t bà bao nhiêu là cơ sự: Ngời ta cới nhau ít

ra cũng phải có cơi trầu, có cúng gia tiên và bây giờ đây ít ra cũng phải có dăm ba mâm gọi là … Cái đầu trọc chứ đâu chỉ có lng cháo loãng và món chè khoai đắng ngắt và bứ nghẹn cổ Trong lời bà lão, cái mừng lòng sao mà tội nghiệp Mừng tủi lo âu, thơng con, thơng dâu, thơng mình, hận mình đan xẻntong một nỗi lòng bà lão bởi bà là ngời từng trải, ngời hiểu biét

Có thể nói , ngòi bút KL thấu lý đạt tình, rất timh tế khi mô tẳnhngx trạng thái cảm xúc đan xen trong nội tâm nhân vật , đó là một ngòi bút hiểu thấu sự đời, nhất là đối với nông dân ở nông thôn – Nội dung t những ngời ông quen thuộc và chính bản thân ôngcung đã từng sống qua những xảnh đời nh vậy trong cái đận tháng ba khủng khiếp ấy

Sau cái mừng lòng ấy là một sự chấp nhận Và bà nghĩ đến tránh nhiệm và thực hiện cái trách nhiệm ấy của ngời mẹ Bà khuyên các con “chúng mày liệu bảo nhau mà làm ăn”; với một niềm tincố hữu “ai giầu ba họ, ai khó ba đời”, bà nghĩ xa

đến lũ cháu của bà “có ra thì rồi con cái chúng mày về sau” Một bà mẹ chu toàn

Không chỉ có lời khuyên, bà chăm sóc các con với khả năng của mình: Bà dặn Tràng kiếm nứa ngăn cái nhà ra cho đôi vợ chồng chúng nó, bà chuẩn bịbữa

đầu tiên đón cô dâu mới với món chè khoán “ngon đáo để”, bà thu dọn vờn tợc, nhà cửa cùng con dâu với ý nghĩ cuộc đời sẽ khác, bà toàn nói chuyện vui, chuyện sung sớng sau này… Cái đầu trọc

Bà nghĩ về tơng lai cho con cháu, riêng bà lão “cũng nhẹ nhõm tơi tỉnh khác mọi ngày, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”

Qua nét tâm trạng này, hiển hiện lên một điều: càng trải qua những bớc thăng trầmcủa cuộc đời nghèo khổ, gặp lúc bĩ cực khôn lờng, thì chính những ngời già lại

có niềm tin và hy vọng Không phải ngẫu nhiên mà KL lại dành cho bà mẹ Tứ – Nội dung t

Trang 10

nhân vật già cả của ông lại là ngời nói toàn chuyện vui, lại vẽ ra cái tơi sáng giữa trời đêm mù mịt cua bóng tối tử thần đang trùm xuống xóm làng

3.Nhân vật bà mẹ Tứ xuất hiện chỉ trong khoảng khắc: chiều hôm trớc và sáng hôm sau khi con dắt cô vợ nhặt về trình diện với bà Song KL đã cho ta một nhân vật có chiều dày cuộc đời và chiều sâu tâm lý trong giờ phút tối tăm nhất cuộc

đời, cho ta một hình ảnh điển hình về một ngời mẹ nghèo khổ nông dân việt nam với phẩm chất cao đẹp: thơng con và giầu đức hy sinh, hiểu biết và thấu lý đạt tình, lạc quan Nhân vật mẹ Tứ thấm đợm tình cảm nhân đạo sâu xa vốn có trong truyền thống dân tộc Và là một sáng tạo xuất sắc của KL

Nét đặc sắc trong nghệ thuật viết truyện ngắn của kim lân

1.Truyện ngắn không phải là thứ chuyện dài rút gọn Nhiều nhà tiểu thuyết giỏi viết chuyện dài mà viết chuyện ngắn lại tỏ ra khó khăn Truyện ngắn đòi hỏi một dung lợng sự kiện và nhân vật không nhiều, song không phải vì thế mà hàm l-ợng và chất ll-ợng nội dung t tởng không cần có sức khái quát cao và sâu Cái khác rõ nét nhất giữa chuyện dài và truyện ngắn là ở chỗ rộng hrpj của không gian hiện thực, độ dài ngắn của thời gian hiện thực, và ở các mối quan hệ giữa các nhân vật đa tuyến hay đơn tuyến Còn về yêu cầu chất lợng t tởng và nghệ thuật thì không thể

định mức khác nhau

Không gian chuyệnngắn thờng hẹp, thời gian chỉ thờng là khoảng khắc của một quá trình, tập chung mâu thuẫn và chứa nhiều kịch tính, số lợng nhân vật có hạn, xoay quanh một biến cố hay sự kiện, cho nên việc tạo ra tình huống chuyện có

ý nghĩa đặc biệt

Tài năng của ngời nghệ sỹ ngôn từ trong quá trình sáng tạo truyện ngắn chính

là ở khâu then chốt này “Vợ nhặt” của KL là một tác phẩm tiêu biểu của thể chuyện ngắn ở khâu then chốt , đó là tác giả đã tạo ra đợc một tình huống chuyện hết sức độc đáo và có ý nghĩa nghệ thuật cao

Dĩ nhiên, nghệ thuật truyện ngắn còn bao hàm nhiều mặt, song tạo tình huống là một mặt cơ bản, then chốt nhất

2.Tình huống chuyện ngắn trong “vợ nhặt” là một tình huống hết sức đặc biệt, đặc biệt tới mức hầu nh sự dãn nở tự do của trí tởng tợng cũng khó lòng mà nghĩ đến Nhng một khi nó đợc sáng tạo ra thì không đem lại một cảm tởng về một cái gì kỳ quặc không thể có, nghĩa là ngời ta vẫn có thể chấp nhận sự việc xảy ra trên cơ sở một căn nguyên nào đó nằm mgay trong bản thân cuộc sống

Ngày đăng: 05/07/2013, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w