Những sắc màu bình dị ấy pha với dung dịch hồ nếp cổ truyền tạo cho tranh một vẻ óng ả và trong trẻo mà các loại màu hiện đại không thể nào có được.. Tranh khắc gỗ in trên giấy dó - Q
Trang 1Tranh Hµng Trèng Hån d©n gian ng – êi hµ néi
Vốn tranh dân gian nằm trong một mảng
lớn của hội hoạ Việt nam cổ vẫn như một tia
sáng mảnh mai nhưng không kém phần chói
lọi Tranh dân gian gắn liền với cuộc sống,
với lễ giáo người Việt Và hiện tại, cho dù
cuộc sống có thay đổi, xô bồ, nhưng trong
dòng tranh ấy vẫn tồn tại những con người,
những nghệ nhân có đôi bàn tay vàng, đau
đáu với nghề và vẫn luôn hy vọng duy trì
được một vốn cổ của dân tộc
Nói tới tranh dân gian của người Việt, ta
không thể không nói tới Tranh Hàng Trống
Là một dòng tranh kết hợp từ kỹ thuật tranh
khắc gỗ với vờn màu thủ công Tranh Hàng
Trống có từ lâu đời và phát triển cùng nền
văn hoá của thành cổ Hà nội xưa Chủ yếu là
tranh thờ như những bức Hương chủ , Ngũ
hổ, Độc hổ, Sơn trang, Ông Hoàng Ba, Ông
hoàng Bẩy Ngoài ra cũng có những bức
tranh chơi như : Tố nữ, Bốn mùa, (mỗi bản
bốn vế), Tranh Kiều, Nhị độ mai; hoặc những
bức phỏng theo các vở tuồng Có những bức
dùng để chơi Tết như tranh Gà , Cá chép
trông trăng Nhưng tựu chung lại, Tranh
Hàng Trống vẫn có một bản sắc riêng biệt,
mầu sắc chói lọi nhưng không kém phần hài
hoà, phong cách diễn tả sâu sắc Đường nét
chuyển động về hình hoạ thật tài tình, nhuần
nhị Kỹ thuật làm tranh Hàng Trống về căn
bản cũng giống kỹ thuật tranh khắc gỗ nói
chung Ván bằng gỗ lồng mực hoặc gỗ thị
Mực in truyền thống dùng bằng những chất
liệu dân dã nhưng cầu kỳ và tinh xảo trong
chế tác Màu đen làm từ tro rơm nếp hay tro
lá tre được đốt và ủ kỹ, màu vàng của hoa
hoè, màu chàm của núi rừng, màu son của
sỏi đồi tán nhuyễn.
Những sắc màu bình dị ấy pha với dung
dịch hồ nếp cổ truyền tạo cho tranh một vẻ
óng ả và trong trẻo mà các loại màu hiện đại
không thể nào có được Để tạo ra được một
loại màu cổ truyền, các nghệ nhân phải ủ,
phải sắc như sắc thuốc bắc, phải cô đặc dần
bằng cách đun nhỏ lửa liên tục mấy ngày trời
rồi lại lắng cặn, chắt nước Cầu kỳ là vậy,
nên những bức tranh không những có hồn
của dân tộc mà còn in lên cả một sự khổ
công của người vẽ.
Một bức tranh Hàng Trống thường được
bồi bằng ba đến bốn lớp giấy vì đặc thù của
tranh khắc gỗ chỉ cho những đường nét đẹp
trên một nền giấy mỏng (thường là giấy báo
xước hay giấy xuyến chỉ, cao cấp hơn là nền
lụa) Những chất liệu này sẽ cho một hiệu
ứng màu chuẩn mực mang đậm dấu ấn của
thiên nhiên.
Một bức tranh thông thường như bức " Ông
Hoàng Ba ", nếu là một nghệ nhân lành nghề
thì sẽ phải lao động cật lực khoảng mười
Tố nữ Trang Hàng Trống
Ở tranh "Tô nữ" không có thần thánh nào cả, chỉ có cái đẹp dịu dàng, mới mẻ mà quen thân Chỉ có niềm vui của múa và hy vọng của âm nhạc với bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông Thật là một lời chúc
Tết, đón xuân rất sâu sắc cho tất cả mọi người.
Thơ Hồ Xuân Hương vịnh tố nữ, người đẹp hát xương:
"Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh".
Hổ Tranh hàng Trống
Các tranh "Hổ", "Tố nữ", tranh "Lý ngự vọng nguyệt" - (Cá chép trông trăng) và tranh "Thất đồng" là những tranh nổi tiếng nhất của dòng tranh Hàng Trống - Hà Nội Nét khắc quý phái, tinh vi uyển
Trang 2đến mười hai giờ đồng hồ liên tục Ông
Hoàng Ba, theo truyền thuyết là con trai của
Long vương, dân thuyền chài hay mua để
thờ, hy vọng ngài sẽ xua đi những sự không
may trong cuộc đời sông nước Có những
bức cầu kỳ hơn như " Tứ phủ công đồng "
(khổ rộng 105 cm x 130 cm) sẽ mất của
nghệ nhân sáu ngày làm việc liên tục, mỗi
ngày từ mười đến mười hai tiếng Công phu
như vậy nên Tranh Hàng Trống cũng dần bị
mai một và đến nay chỉ còn duy nhất một
nghệ nhân Ông là Lê Đình Nghiên (sinh
năm 1950) con trai cụ Lê Đình Liệu (sinh
năm 1912) Gia đình ông đã làm tranh Hàng
Trống từ đời cụ tổ từ khoảng cuối thế kỷ XVI
Hiện tại ở gia đình ông còn khoảng 30 mặt
ván và ông nói với một chất giọng hơi đau
xót: " Nếu khôi phục được tất cả số vốn cổ
truyền của ông cha để lại thì cũng phải ngót
nghét 100 bản " Đấy là nỗi đau lòng của
ông, nhưng suy cho cùng, mỗi người chúng
ta mang trong mình một dòng máu đỏ da
vàng của người Việt, nghĩ đến câu nói đó,
liệu có khỏi ngậm ngùi?./.
chuyển Nghệ sĩ chỉ khắc một bản nét In nét trước lên giấy rồi dùng phẩm tô màu Màu tô có đậm nhạt làm nổi khối nuột nà cho người
và cảnh vật.
Trang 3" bớt giận làm lành", hàm ý khuyên răn.
Hứng dừa
Cảnh hái dừa cũng hoạt
kê
Bộ tranh tứ bình "Truyện Kiều" thật là hoành tráng Các diễn biến chính được dàn ra
từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, liên hoàn, đan lồng vào nhau Người và cành trong cốt truyện ở bên Tàu, nhưng Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải, Mã Giám Sinh, Sở Khanh
ở đây lại vô cùng Việt Nam Tranh dân gian Việt Nam có nhiều bộ tranh truyện khác nữa Một thể loại độc đáo đã không được phát huy đầy đủ.
Trang 4Tranh khắc gỗ in trên giấy dó - Quen mà lạ.
Phố cổ Hà nội và phong cách sinh hoạt cũng như sản xuất của người Việt nam
dường như là một nguồn cảm hứng sáng tạo vô cùng, vô tận cho bất cứ một thời
đại nghệ thuật nào Những chủ đề ấy có sức hút kỳ lạ với người nghệ sỹ Những
ngôi nhà cổ chứa đựng sự bí ẩn và phong vị của thời gian Những đường cong
uốm lượn quyến rũ của bờ vòm, bờ mái Những hẻm phố liêu xiêu, cô tịch Khi là
sự hiu hắt của mái chùa chiều Những chiễc xích lô, những gánh hàng rong vẫn
thong thả với công việc thường nhật và những bóng người vẫn khép nép đi ngược
dòng lịch sử Tất cả những hình ảnh sinh động ấy được thể hiện một cách tài tình
trong một dòng tranh mới mà cũ, đó là tranh khắc gỗ , in đen trên nền giấy dó Bưởi,
Đông hồ.
Vỏ dó mang từ rừng chở về những làng nghề, ngâm trong nước vôi thật lâu , sau
đó được nấu trong những chiếc vạc lớn trong khoảng 24 - 30 giờ đồng hồ Khi dó
đã " chín ", thợ dó vớt ra ngâm trong nước lạnh và được bàn tay của các bà, các cô
bóc, phân loại từ lớp vỏ sần sùi đến lớp tơ vàng nõn nà phía trong Sau đó dó được
giã nhuyễn thành một thứ bột mịn màng Tiếng chày canh khuya một thời ấy đã in
đậm trong tâm khảm của người Hà nội:
" Mịt mù khói toả ngàn sương, Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây hồ "
Bột dó sau khi được giã nhuyễn sẽ trộn với một dung dịch nhựa của một loại cây
rừng; Đó là nước ngâm từ những phoi bào của gỗ mò Nước mò láng khắp, bột dó
tơi ra và dưới cái lắc tay uyển chuyển của các chị thợ seo, những tờ giấy dó cứ lần
lượt, lần lượt ra đời, nhẫn nại như bản tính hiền hoà của các cô gái Việt, đời này
qua đời khác.
Mặt giấy dó trong trẻo Xơ dó tạo thành những đường ganh kỳ diệu và trên nền
vàng ngà của chất liệu cầu kỳ ấy, phố cổ Hà nội, những cảnh sinh hoạt của đời
thường hiện ra như mơ, như thực Và nếu bạn có trong tay một bức tranh khắc gỗ
in trên nền giấy đó, bạn sẽ cảm nhận được nhiều điều Và chất thơ ấy sẽ mãi mãi ở
lại với bạn như một hồi ức đẹp về Việt nam, về Hà nội, cho dù bạn chưa từng đến
bao giờ./.
Làm đồ sơn mài
Trang 5Dệt vải
Đây cũng là ước mơ lãng mạn nhất của anh học trò và của cả bạn gái anh ta nữa.
Nét vẽ và khắc luôn gọn gàng, liền mọt mạch, khép kín khuôn hình và đều đặn dù có khi to khi nhỏ.
Chợ lớn
Thị nghĩa là chợ Tới một đô thị hãy đi xem chợ Nơi đó tấp nập các loại người khác nhau.Thật vui, thật nhốn nháo
Người bán chuối
Trang 6Khắc gỗ
Tranh in khắc gỗ: Rồng trên đỉnh Fuji, Hokusai
Trang 7Khắc gỗ là một kỹ thuật in đồ họa sử dụng một bản in bằng gỗ có hình nổi Khắc gỗ được
dùng để diễn đạt ý tưởng của các nhà nghệ thuật trước nhất là trong thế kỷ 16 và sau đó là
bởi các nhà nghệ thuật theo trường phái biểu hiện (tiếng Anh: expressionism).
Để tạo nên một bản in gỗ người ta dùng dao cắt các phần không in ra khỏi một mảnh gỗ đã được bào nhẵn, các phần nổi sau đó được quét màu lên và mang đi in hoặc bằng tay dùng một búa là (tiếng Đức: Falzbein) chà lên hay bằng máy in.
Cách tạo bản khắc gỗ
Chế tạo bản in
Thông thường gỗ được cắt thành một mảnh dầy từ 2 đến 4 cm có sợi chạy theo chiều của hình (cắt dài) Mảnh gỗ được bào, mài và làm nhẵn cho đến khi bề mặt hoàn toàn phẳng có thể được phủ một lớp sơn nền, thường là một lớp phấn trắng mỏng Theo thông lệ bản vẽ trước của nghệ sĩ được mang đặt lên lớp phấn này rồi dùng nhiều loại dao cắt theo các đường vẽ trước Người ta không cắt thẳng đứng mà cắt hai lần, một lần cắt nghiên từ đường vẽ ra ngoài và một lần nghiên ngược lại rồi tách dăm bào ra Trong phương pháp gọi là cắt đường đen này việc tạo hình được tiến hành bằng đường nét đen trên nền trắng
Minh họa khắc gỗ ("Woody Allen" của Manfred Behrens) - bên trái là bản đã được in ra, bên phải là bản khắc gỗ
Sau đấy bản in khắc gỗ đã hoàn chỉnh được phết mực in lên bằng một quả banh tròn tẩm mực to bằng nắm tay hay thường hơn là bằng một con lăn
In
Người ta in bằng cách ép lên bản khắc gỗ một tờ giấy có khả năng hút nước tức là không
có pha keo và vì thế mà hút mực và đã được làm ẩm một ít (hoặc là ngược lại ép bản gỗ lên
Trang 8giấy) Có thể dùng một trái banh lăn trên tờ giấy hay dùng một cây cọ quét lên để tạo lực cần thiết ép giấy sát vào bản in gỗ Thông thường nhất là bản in được in bằng máy in sách (máy ép in nổi) có thể ép đều lực lên bản in gỗ và giấy Sau mỗi lần in phải quét mực lại cho bản in khắc gỗ.
Đôi khi bản khắc gỗ lại được in qua đá và sau đó in ra như là một bản in thạch bản (tiếng
Anh: lithography).
Các loại gỗ được sử dụng
Hartmann Schedel: Tàn phá Jerusalem (1493)
Gần như tất cả các loại gỗ thông dụng đều có thể sử dụng trong khắc gỗ Một trong số ít
loại gỗ không thích hợp cho việc khắc gỗ là gỗ của cây thông (Pinus) vì gỗ này có nhiều
mấu và nhựa
Gỗ thường được cắt dọc theo chiều dài của sợi (gỗ dài) Các loại gỗ cứng như gỗ của cây
lê, hồ đào hay anh đào rất được ưa chuộng dùng trong các bản in có nhiều chi tiết vì so với loại gỗ mềm có thể cắt đều đặn hơn và vì thế có thể tạo những đường nhỏ tốt hơn Gỗ mềm rất thích hợp cho những tác phẩm lớn và ngoài ra có ưu điểm là các tấm gỗ lớn không đắt như từ loại gỗ cứng
Vân hay cấu trúc của gỗ đôi khi cũng được cố ý sử dụng như là một yếu tố đồ họa Thích hợp nhất là những tấm gỗ đã qua mưa nắng mà vân của nó nổi lên như hình nổi vì những lớp mềm qua mưa nắng dễ bị mòn nhiều hơn Tính chất này có thể được làm nhân tạo bằng cách quét tấm gỗ với một cây cọ bằng sắt hay dùng axít nitric loãng để xử lý bề mặt
Nếu như trong phần lớn các kỹ thuật khắc gỗ việc lựa chọn gỗ chủ yếu chỉ là quyết định của nhà nghệ thuật thì trong chạm gỗ (wood engraving) gỗ phải có sợi nhỏ sát với nhau
Được ưa thích là gỗ của cây hoàng dương (Buxus sempervivens) được cắt ngang chiều của
sợi nhưng lại rất đắt tiền vì loại cây này tăng trưởng chậm Vì thế ở các bản khắc gỗ cũ từ cây hoàng dương mặt dưới được sử dụng lại hay mặt trên được bào đi để có thể khắc bản mới
Dụng cụ
Trang bị cơ bản của một người khắc gỗ bao gồm:
Trang 9• Dao khắc dùng để khắc các đường thẳng và song song
• Dao trổ dùng để tạo rãnh hình chử V
• Cây đục bán nguyệt để cắt bỏ đi những phần lớn không phải in
• Dao mỏng dùng để khắc các đường viền
Một số nhà khắc gỗ chỉ sử dụng các cây đục bán nguyệt nhỏ và lớn chứ không dùng đến những dụng cụ như dao nhỏ Ngày nay người ta cũng sử dụng các dụng cụ hiện đại như máy phay HAP Grieshaber còn dùng đến cả máy cưa trong các bản khắc gỗ rất lớn của ông
Đặc điểm của khắc gỗ bằng tay
Köln năm 1531 - Khắc gỗ của Anton von Worms
Một bản in khắc gỗ nghệ thuật có những đặc điểm khác với các bản in đồ họa sử dụng các
kỹ thuật khác như khắc đồng hay khắc nạo (tiếng Anh: mezzotint):
• Mặt trái của bản in có dấu ấn nhẹ khi sờ vào có thể cảm nhận được
• Nếu in bằng tay, mặt trái của giấy sẽ bóng hơn một
ít vì phải dùng dụng cụ để chà xát
• Vì chỉ cần lực ép tương đối ít hơn nên các cạnh của
bản in ra không có vết hằn (tiếng Anh: platemark)
• Màu của đường kẻ đều hòa trên khắp tờ giấy vì lực
ép đều nhau
Các biến thể của kỹ thuật khắc gỗ
Trang 10Albrecht Dürer: "Bốn người cỡi ngựa của Khải Huyền"
Các kỹ thuật cổ điển của khắc gỗ bao gồm:
• "Cắt đường đen": Các phần nổi (và vì thế được in ra) của bản khắc gỗ sẽ tạo hình, đây là cách đầu tiên của kỹ thuật khắc gỗ
• "Cắt đường trắng": Đường nét được chạm trổ chìm vào gỗ, khi in bề mặt, thật ra là nền của bức tranh,
sẽ được in ra, hình ảnh được tạo thành bởi các đường nét trắng do không được in Phương pháp này được sử dụng nhiều nhất là trong thế kỷ thứ 16 Albrecht Dürer là một trong những nhà nghệ thuật
đã sử dụng phương pháp này để tăng thêm ấn tượng cho các tác phẩm của ông
• Nhiều nhà nghệ thuật (Paul Gauguin, Edvard Munch, Ewald Maraté, Gerhard Altenbourg) ngược lại đã sử dụng những bản khắc gỗ lớn, nhấn mạnh đến hình dáng của bề mặt Kỹ thuật này chú ý đến các tính chất tự nhiên của gỗ với các vân và cấu tạo của nó và là tiêu biểu cho kỹ thuật khắc gỗ trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ
20
• Chạm gỗ (tiếng Anh: xylography): Dùng dao chạm
trong khắc đồng khắc trên gỗ được cắt ngang chiều của sợi để có thể tạo ra nhiều tông màu hơn
Sơ lược lịch sử
Nguồn gốc
Trang 11Kỹ thuật in nổi, về nguyên tắc rất đơn giản, là một trong những phương pháp lâu đời nhất của loài người để giữ lại những ý tưởng về hình ảnh Trong các kỹ thuật in nổi khắc gỗ là phương pháp in lâu đời nhất Người Babylon và người Ai Cập đã từng in con dấu làm bằng
gỗ khắc nổi trên đất sét mềm, tại Trung Quốc ngay từ thế kỷ 4 người ta đã biết dùng mực quét lên những tảng đá có khắc chữ và chà giấy lên để in ra
Trong thời nhà Đường (618 – 907) tranh vẽ và chữ kèm theo (trên cùng một bản in) đã được in ra bằng các bản in gỗ, sách in bằng bản khắc gỗ cũng đã được biết đến từ thế kỷ 9, trong khi loại này ở châu Âu mãi đến thế kỷ 15 mới xuất hiện Quyển sách lâu đời nhất in bằng bản khắc gỗ được biết đến bao gồm 6 trang với các bản khắc gỗ nhỏ cho nửa trang một là quyển Kinh Kim Cang (tiếng Anh: Diamond Sutra) ra đời vào năm 868
Khắc gỗ ở châu Âu
Tại châu Âu việc sử dụng con dấu bằng gỗ đã được chứng minh là bắt đầu từ thế kỷ 12: Ở
Ý vải được in bằng cách này Người ta đoán rằng kỹ thuật này lan truyền vào Đức trong thế kỷ thứ 14 qua các người vẽ hình cho con bài
Các tác phẩm nghệ thuật khắc gỗ đầu tiên ra đời trong khoảng thời gian từ năm 1400 đến năm 1500 trong các tu viện ở Bayern và vùng núi Alpes là các bản in một mặt từng trang rời Dưới dạng như các tờ truyền đơn hay sách mỏng, các bản in khắc gỗ được dùng để truyền bá các ý tưởng về nghệ thuật, thế giới quan và tôn giáo, đặc biệt là trong thời kỳ của
Phong trào cải cách (Reformation).
Bên cạnh các bản in khắc gỗ một mặt, từ năm 1430 đã xuất hiện loại sách in bằng bản khắc
gỗ mà mỗi trang được in bằng một bản in khắc gỗ bao gồm cả chữ viết lẫn hình ảnh Việc
sử dụng các bản khắc gỗ để minh họa trong sách càng được phổ biến từ khi Johannes Gutenberg phát triển kỹ thuật in sách Quyển "Sử biên niên thế giới Schedel" do Anton Koberger ở Nürnberg (Đức) in vào năm 1493 bao gồm gần 2.000 bản khắc gỗ Để in quyển sách này Koberger đã phải cần đến 100 người thợ và 24 máy ép in nổi
Khắc gỗ trong thời kỳ Phục hưng
Khắc gỗ đạt đến đỉnh cao đầu tiên trong thời kỳ Phục hưng khi các nhà nghệ thuật như Albrecht Dürer và Hans Baldung tạo ra các tác phẩm có giá trị cao dưới hình thức nghệ thuật này Đặc biệt Dürer đã giải phóng khắc gỗ ra khỏi tính năng chỉ để minh họa cho sách và mang lại một định nghĩa mới cho khắc gỗ như là phương tiện truyền đạt một tác phẩm nghệ thuật Về hình thức Dürer mang nghệ thuật khắc gỗ đến gần khắc đồng bằng cách tạo ra được nhiều tông màu giữa đen và trắng
Trong thời kỳ này cũng đã có những thử nghiệm đầu tiên in nhiều bản khắc gỗ có màu khác nhau trên cùng một bản in vì cho đến lúc đó các bản in rời từng tờ đều được tô màu bằng tay sau khi in ra Trong một bản in màu thật sự mỗi một màu đều có bản khắc gỗ riêng, khó khăn về kỹ thuật của phương pháp này là ở chỗ không điều khiển chính xác được quy trình in vì giấy co giãn khi thấm ướt và lại được hong khô lại Các bản in khắc
gỗ màu đầu tiên được xác định là vào năm 1486 Lucas Cranach der Ältere (Lucas
Trang 12Cranach Già) và Albrecht Altdorfer tiếp tục thử nghiệm sau đó Altdorfer đã thành công trong thời gian 1519/1520 với một bản in màu dùng 6 bản khắc gỗ Sau các tác phẩm của Altdorfer thử nghiệm về in bản khắc gỗ màu tạm thời không còn được tiếp tục ở Đức nữa,
có thể là do ảnh hưởng của việc truyền bá rộng rãi các tác phẩm trắng đen của Albrecht Dürer
Sự phát triển của kỹ thuật khắc gỗ
Cùng với sự phát triển của khắc kim loại, khắc gỗ mất đi tầm quan trọng như là một
phương tiện để diễn đạt trong nghệ thuật So với khắc gỗ, khắc kim loại cho phép nhà nghệ thuật tạo thành nhiều tông màu và nhiều chi tiết hơn Ở khắc gỗ, tông màu sáng và tối chỉ hình thành nhờ vào chiều rộng và khoảng cách của các đường khắc Ngược lại, ở kỹ thuật khắc kim loại độ sâu của đường khắc quyết định độ đậm nhạt của màu đen Vì thế khắc kim loại trở thành một phương pháp được nhiều nhà nghệ thuật ưa chuộng Xu hướng này chỉ được thay đổi khi nhà nghệ thuật tạo hình người Anh Thomas Bewick vào cuối thế kỷ
18 đảo lộn tất cả các quy luật cắt hình và vì vậy cách mạng hóa kỹ thuật khắc gỗ
Thomas Bewick là người đầu tiên không khắc các hình ảnh của mình trên loại gỗ được cắt theo chiều dài của sợi nữa mà khắc trên gỗ cứng của cây hoàng dương được cắt ngang chiều sợi và đồng thời dùng những dụng cụ khác để có thể tạo nhiều tông màu hơn, mang lại cho khắc gỗ giá trị ngang như khắc kim loại Kỹ thuật của ông cũng còn được gọi là
chạm gỗ (xylography) Bản in gỗ cắt ngang chiều của sợi có độ cứng gần như thép và vì
thế còn hơn cả bản in khắc kim loại Cùng với phương pháp này khắc gỗ lại trở thành phương tiện được ưa thích, nhất là trong các kỹ thuật in lại hình ảnh Honoré Daumier và
Gustave Doré là những nhà nghệ thuật sử dụng kỹ thuật này nhiều nhất như là một phương tiện để diễn đạt nghệ thuật
Khắc gỗ ở Trung Hoa và Nhật Bản
Hokusai, Sóng lớn ở Kanagawa (khoảng năm 1830)
Kỹ thuật đồ họa này phát triển trong khu vực Đông Á độc lập với châu Âu Khắc gỗ đạt đến đỉnh cao đầu tiên ở Trung Quốc trong thời nhà Tống (960-1279) khi các nhà nghệ thuật liên hợp lại với nhau thành lập các xưởng khắc gỗ Sản xuất khắc gỗ màu đạt đến một trình độ hoàn hảo cao, thế nhưng trong thế kỷ 17 khắc gỗ ở Trung Quốc chỉ được sử