1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tranh dân giàn

17 423 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tranh dân gian
Tác giả Nguyễn Đăng Khiêm, Nguyễn Đăng Sần, Nguyễn Đăng Chế, Nguyễn Hữu Sam, Trần Nhật Tấn
Người hướng dẫn Nguyễn Thế Lãm, Lư
Trường học Trường Cao đẳng Mĩ thuật
Chuyên ngành Mĩ thuật
Thể loại Khác
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 538,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Đăng KhiêmSinh năm 1914 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình có truyền thống làm tranh lâu đời… Nguyễn Đăng Sần Sinh năm 1918 tại làng

Trang 1

• S¸ng t¸c mÉu tranh

• Kh¾c v¸n

Bu«n b¸n vµ tiªu thô s¶n phÈm

KÜ thuËt lµm tranh

• Nguyªn liÖu

Tranh §«ng Hå

NghÖ nh©n

Tranh Hµng Trèng

C¸c dßng tranh d©n gian kh¸c

Tranh Kim Hoµng Tranh Lµng S×nh Tranh thê miÒn nói

• In tranh

Trang 2

Nguyễn Đăng Khiêm

Sinh năm 1914 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình có truyền thống làm tranh lâu đời…

Nguyễn Đăng Sần

Sinh năm 1918 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh Khi còn nhỏ đã theo học nghệ nhân Nguyễn Thế Lãm

Nguyễn Đăng Chế

Sinh năm 1936 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình có truyền thống làm tranh dân gian lâu đời

Nguyễn Hữu Sam

Sinh năm 1930 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình có truyền thống làm tranh dân gian lâu đời

Trần Nhật Tấn

Sinh năm 1938 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Bố

ông là thầy đồ Nho, ông là con út của gia đình nên ngay từ nhỏ

Chi tiết >>

Chi tiết >>

Chi tiết >>

Chi tiết >>

Trang 3

Nguyễn Đăng Khiêm

Sinh năm 1914 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình có truyền thống làm tranh lâu đời Bố ông là nghệ nhân Nguyễn Đăng Mưu Thời còn nhỏ, ông tham gia làm tranh và hàng mã ở gia

đình Năm 1945 ra Hà Nội sống bằng nghề làm tranh và hàng mã Năm 1959 công tác tại nhà xuất bản Âm nhạc

và Mĩ thuật

Năm 1974 ông được đi Trung Quốc học kỹ thuật phục chế và bồi tranh Trong suốt thời gian công tác tại Bảo tàng Mĩ thuật, ông đã sưu tầm và phục chế được rất nhiều tranh dân gian Ngoài ra ông còn sáng tác nhiều tác phẩm đề tài hiện đại mang phong cách dân gian Có thể

kể tên các tác phẩm:

- Mồng 5 tháng 8, Lão dân quân đánh máy bay (Bảo tàng Mĩ thuật)

- Quan Âm thị kính (huy chương đồng tại triển lãm Mĩ thuật toàn quốc 1980)

- Tòng quân, Bác Hồ trồng cây, Bắt phi công (tham dự triển lãm tại Liên Xô, Trung Quốc) Ông có nhiều tác phẩm được lưu giữ tại các nước Ru-ma-ni, Tiệp Khắc, Liên Xô

Ngoài ra ông còn làm nhiều tranh trổ giấy

Từ năm 1962 đến 1976 công tác tại bảo tàng Mĩ thuật (tức Viện Mĩ thuật Mĩ nghệ trước kia)

Trang 4

Nguyễn Đăng Sần

Sinh năm 1918 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh Khi còn nhỏ đã theo học nghệ nhân Nguyễn Thế Lãm và cụ Lư cách khắc ván và in tranh Năm 15 – 16 tuổi ông đã giúp được các nghệ nhân sao chép, thay đổi, bổ sung các mẫu tranh

Năm 1947 ông tham gia kháng chiến chống Pháp Thời kỳ này ông có dịp tiếp xúc và cộng tác với các hoạ sĩ như Trần Văn Cẩn, Tạ Thúc Bình v.v làm một số tranh khắc với nội dung tuyên truyền cho kháng chiến, in theo kỹ thuật tranh dân gian Đông Hồ Năm 1959, ông được trường Cao đẳng Mĩ thuật mời ra làm cộng sự Trường Mỹ thuật tạo điều kiện để ông xây dựng phòng thực nghiệm khắc gỗ Tại đây ông hướng dẫn sinh viên kỹ thuật in và khắc tranh khắc gỗ Nhiều SV được ông hướng dẫn sau này thành các hoạ sĩ có tên tuổi, tay nghề vững vàng như: Nguyễn Thụ, Vũ Dáng Hương, Huy Oánh, Đường Ngọc Cảnh

Ngoài công tác hướng dẫn SV, ông còn nghiên cứu phục hồi tranh dân gian truyền thống và sáng tác tranh đề tài hiện đại theo tinh thần dân tộc – hiện đại

Có thể kể đến tác phẩm: Làm thuỷ lợi, Hợp tác xã Măng non, Tết trồng cây , Hợp tác xã nông nghiệp, Nhà Bác trong vườn phủ Chủ tịch

Trang 5

Nguyễn Đăng Chế

Sinh năm 1936 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình có truyền thống làm tranh dân gian lâu đời Bố ông là nghệ nhân Nguyên Đăng Mưu

Khi còn nhỏ ông tham gia làm tranh, học khắc ván

Từ năm 1964 đến 1974 công tác tại trường Đại học Mĩ thuật Công Nghiệp, hứng dẫn sinh viên kỹ thuật làm tranh dân gian

Năm 1975 công tác tại NXB Mĩ thuật và Âm nhạc Năm 1991 ông nghỉ hưu

Ngoài sưu tầm, phục chế tranh dân gian ông còn sáng tác một số tranh đề tài hiện đại như:

- Bác Hồ với thiếu nhi (Giải nhì triển lãm Mĩ thuật toàn quốc 1970)

- Phụ nữ ba đảm đang (Giải khuyến khích triển lãm chuyên đề 1973)

- Đổi công hợp tác xã, Đào mương chống hạn

Huy hiệu bàn tay vàng tại hội chợ triển lãm hàng thủ công truyền thống Kim Hoàn năm 1997

và 1998 Do chủ tịch HĐTƯ liên minh các hợp tác xã cấp

Huy chương vì sự nghiệp Mĩ thuật do hội Mĩ thuật tặng năm 1999 Ông có công sưu tầm và phục chế khá nhiều ván cổ, tranh cổ Bộ ván có niên đại cổ nhất khoảng 150 năm

Trang 6

Nguyễn Hữu Sam

Sinh năm 1930 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình có truyền thống làm tranh dân gian lâu đời Khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành, tham gia làm tranh, làm mã tại gia đình Từ năm

1970 đến 1985, làm đội trưởng trực tiếp chỉ đạo làm tranh dân gian xuất khẩu

Từ những năm 1990 đến nay, vừa nghiên cứu, sưu tầm, phục chế, sáng tác tranh dân gian phục vụ khách hàng nước và nước ngoài

Sáng tác một số tác phẩm đề tài lịch sử và hiện đại như:

Đến hẹn lại lên, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Lý Thái Tổ hạ chiếu rời đô

Hội viên hội Văn nghệ dân gian; Hội viên câu lạc bộ UNESCO Uỷ viên Ban chấp hành mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Ninh Huân chương chiến thắng hạng nhì

Bằng khen về thành tích gữi gìn và phát triển vốn văn hoá truyền thống do tổng cục Du lịch Việt Nam - Bộ VHTT trao tặng

Trang 7

Trần Nhật Tấn

Sinh năm 1938 tại làng Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Bố ông là thầy đồ Nho, ông là con út của gia đình nên ngay từ nhỏ ông đã được học chữ Nho, hiện nay ông

là một trong những nghệ nhân viết chữ Nho giỏi của làng Ngay từ khi còn nhỏ ông đã say mê vẽ tranh Ông được nghệ nhân Giác Nhất, Giác Nhì dìu dắt vào nghề Được nghệ nhân Nguyễn Đăng Sần rất tin tưởng và trao cho ông giữ gìn bộ sưu tập tranh cổ (gồm

156 bức) Hiện nay ông người lưu giữ được nhiều mẫu tranh cổ

Ngoài ý thức giữ gìn, khôi phục dòng tranh dân gian ông còn sáng tác một số tác phẩm

đề tài hiện đại như:

- Được mùa lúa xuân, Bắt sống giặc lái (tham gia triển lãm Hà Bắc năm 1975), Bác Hồ

về thăm làng (tham dự triển lãm MTTQ 10/1976), Bác Hồ với thiếu nhi quê hương làm nghìn việc tốt (bảo tàng Thái Nguyên), Nghề truyền thống (tham dự triển lãm khu vực ở Thái Nguyên 1996), Xem hội (triển lãm khu vực ở Hải Dương 1998 ), Hội làng , Các cháu thiếu nhi với chú thương binh (triển lãm ở trung tâm UNESCO, được nhận bằng khen)

Ông được hiệp hội UNESCO cấp giấy chứng nhận là nghệ nhân dân gian Ngoài sáng tác, sưu tầm, phục chế ông còn viết nhiều bài ngiên cứu về Tranh dân gian Đông Hồ

Trang 8

Sáng tác mẫu tranh

Để có một mẫu tranh ra đời, sáng tác mẫu là khâu quan trọng hơn cả Từ nội dung đề tài hình thức, bố cục , màu sắc và câu thơ chú thích trên tranh đòi hỏi một sự tài hoa trong nét vẽ , chọn màu

Muốn vẽ một mẫu tranh, các nghệ nhân phải mất hàng tháng tìm tòi ý nghĩa, nội dung, đề tài và hình thức thể hiện Đề tài trong tranh là những hình ảnh rất gần gũi, thân quen Đó là con lợn, con gà, con trâu, con vịt, con mèo Các nghệ nhân đều phải trải qua quá trình nghiên cứu, trao

đổi nên chọn hồi nào , cảnh nào , sao cho vừa ý nghĩa sâu sắc vừa có giá trị nghệ thuật Trong nhiều trường hợp,, tranh mẫu khong chỉ là sáng tạo riêng của nghệ nhân, mà còn là kết quả góp ý của quần chúng Những lời bình luận, góp ý giúp tác giả sửa chữa, bổ sung để tờ tranh mẫu đạt

đến độ hoàn thiện, trước khi chuyển qua tay người khắc ván in

Khi vẽ mẫu tranh, nghệ nhân thường dùng bút lông và mực nho vẽ lên giấy bản mỏng để khi dán mặt trước vào tấm gỗ, nét vẽ ra mặt sau tờ giấy, nhờ đó người thợ khắc mới khắc được hình

vẽ lên tờ bản gỗ

Trang 9

Khắc ván Ván in chia làm 2 loại: ván in nét và ván in màu Ván in nét làm bằng gỗ thị, gỗ thừng mực Gỗ thị thớ đa chiều dùng để khắc ván in nét có thể tạo nét tinh vi, mảnh nhỏ, nét bền Gỗ mực nhẹ, nạc

và mềm, rất dễ khắc nhưng độ bền không cao Ván in màu bằng gỗ giổi hay gỗ vàng tâm, là loại

gỗ nhẹ, thớ mềm xốp, dễ hút màu, do đó in đượm màu thuốc cái Dòng tranh Đông Hồ dường như là trường hợp duy nhất dùng hai loại ván: ván in nét và ván in màu

Ván in ngày xưa thường được dùng lâu dài nên phải chọn loại gỗ tốt, bền và ổn định nét Đối với những gia đình làm tranh, ván in trở thành vật gia bảo, tài sản quý truyền lại cho cháu đời sau Muốn vậy, người xưa phải ngâm tẩm gỗ nhiều năm , từ 10 - 20 năm và xẻ trước 1 - 2 năm để khô mới dùng Khi in, ván gỗ gặp nước không bị cong vênh

Bộ ván in chữ

Xem tiếp>>

Ván khắc cổ

Trang 10

Khắc ván Dụng cụ khắc ván là những mũi đục, còn gọi là ve bằng thép cứng Mỗi bộ khoảng 40 chiếc phân chia thành 4 loại: Móng (lòng máng), thoảng ( hơi lòng máng ), thẳng ( lưỡi ve thẳng ), dẫy nền (để dũi, đào sâu xuống gỗ) Mỗi loại ve khoảng 10 cái với nhiều kích cỡ khác nhau

Khi khắc ván, người thợ khắc cầm ve bằng tay trái, đặt lưỡi ve lên cạnh nét vẽ, tay phải cầm dùi đập mạnh lên đầu cán ve Người Đông Hồ còn dùng thêm loại dao khắc mũi nhọn mài một má

ở Đông Hồ người ta thường dùng ve để khắc các ván in, nên nét khắc trên ván thường to đậm, sâu nét và đứng cạnh Ván in tranh Đông Hồ thường có khổ nhỏ, nhẹ, thuận tiện khi in Nếu là tranh khổ lớn thì các ván tranh được cắt nhỏ thành ba, bốn ván; người in tranh phải in ghép các ván lại cho thành một bản khắc hoàn chỉnh

H1 - Móng H2 - Thoảng H3 - Thẳng H4 - Dao nền

H1 H2 H3 H4 H5

Trang 11

Nguyên liệu

Giấy in tranh là giấy dó mỏng, mềm, dễ hút màu Giấy dó được sản xuất từ cây dó mọc trong rừng Người Đông Hồ thường quét lên giấy một lớp điệp, tạo cho giấy vừa cứng, vừa xốp Kỹ thuật bồi điệp bằng “thét thông” lên giấy do làm hiện lên những ganh giấy với chất điệp óng ánh, lung linh, độc đáo

Màu dùng để in lên giấy điệp gọi là “thuốc cái”, hoàn toàn chế biến từ nguyên liệu và thảo mộc trong tự nhiên

- Màu trắng điệp: óng ánh, lấm tấm như vẩy bạc, lấy từ vỏ con điệp, tán nhỏ mịn pha với hồ

- Màu vàng: Lấy từ hoa hoè hay hạt dành dành

- Màu đỏ vang: Lấy từ gỗ cây vang trên rừng, chẻ nhỏ, đun kỹ, cô đặc thành màu đỏ sẫm

- Màu đỏ son: Lấy từ bột sỏi son, tán mịn thành bột

- Màu xanh chàm: Lấy từ lá chàm có thể trọn với màu vàng hoè để có màu xanh già, xanh non

- Màu đen: Được chế biến từ than lá cây tre khô, than rơm

Trên cơ sở các màu cơ bản người ta pha chế các màu khác nhau như: Màu đỏ có đỏ điều, đỏ hoa hiên, đỏ cánh quế, đỏ cánh sen, đỏ hoa đào Màu xanh có xanh nước biển, xanh lá mạ, xanh hoa lý Màu nâu có nâu đất, nâu cánh kiến

Xem phim tư liệu >>

Trang 12

In tranh

cuối cùng là lấy tờ tranh ra khỏi ván in Khi in xong mỗi màu, vắt tranh vào sào nứa hoặc tre rồi gác phơi trong nhà, tranh khô mới in tiếp màu sau

Người Đông Hồ in các mảng màu trên tranh trước, in nét là công đoạn cuối cùng Trong một bức tranh có nhiều màu, người ta thường in màu đỏ trước, sau đến màu xanh, các màu vàng, trắng và màu da có thể tuỳ Mỗi màu là một lần in, mỗi người trong dây chuyền làm tranh in một màu Để cho các mảng màu in ăn khớp với nhau, mỗi tấm ván in đều có hai điểm cữ đánh dấu ở cạnh ván in Khi in, hai điểm này sẽ để lại dấu chấm tròn nhỏ trên tranh Cách làm này sẽ

đảm bảo cho việc in các màu kẽ nhau, không chồng lên những mảng màu in trước

Sau khi in xong các mảng màu, người Đông Hồ mới in ván nét đen để viền các mảng màu ở

Đông Hồ người ta gọi là “cắt nét” Công đoạn này rất khó, đòi hỏi sao cho các nét viền phải đều tay, không được chỗ đậm, chỗ nhạt, cuối cùng là phơi tranh để tránh ẩm mốc Sau khi phơI , họ

bó trành từng “muôn” hay từng vạn theo loại tranh để bán

Vật liệu dùng để in và dụng cụ gồm giấy dó, màu, ván in, thết thông, là: cầm ván in mà rập xuống bìa màu, sao cho màu thấm đều vào hình khắc trên ván Xong, ấn ván in lên tờ giấy in, như đóng dấu Sau

đó lật ngửa ván in lên tờ giấy in, lấy miếmg xơ mướp xoa đều đều lên mặt sau tờ giấy để nét hoặc màu in đều lên tờ giấy Thao tác

Trang 13

“ Hỡi anh đi đường cái quan Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu Mua tờ tranh điệp tươi màu Mua đàn gà lợn tranh nhau đẻ nhiều”

Phương thức mua bán và tiêu thụ sản phẩm ở Đông Hồ mang đặc trưng riêng Người dân

Đông Hồ không chỉ có năng khiếu thẩm mĩ và bàn tay khéo léo mà còn rất giàu thơ ca Khi bán tranh, người ta hát tặng khách hàng những câu vịnh tranh Đó là một cách giới thiệu, quảng cáo

và lời chào mời khách đầy hấp dẫn, tế nhị Tranh được bán buôn ngay trong làng, tại nhà và chợ tranh - đình làng Khách buôn tranh đến cất tranh ( còn gọi là ăn tranh ) bằng thuyền là chủ yếu

Họ lập thành phường buôn

Việc mua bán tranh ở Đông Hồ có hai hình thức, trả tiền mặt hoặc đổi hàng Khách buôn tranh chở đặc sản, hàng hoá của vùng mình tới Đông Hồ đổi hoặc bán lấy tiền cất tranh Những mặt hàng có thể dùng trao đổi hoặc bán là: nước mắm Thanh Hoá - Nghệ An , chiếu Hới Quảng Bình, thuốc lào Vĩnh Bảo (Hải Phòng), gạo Hải Dương, Hưng Yên, muối Thái Bình, lụa Hà Đông v.v… Thời kỳ hưng thịnh của nghề làm tranh , người vẽ mẫu, in tranh làm việc suốt ngày đêm, mặc dù tiền công rất rẻ Người vẽ mẫu tranh đầu sắc chỉ lấy công bằng bánh thuốc lào hoặc cút rượu, vẽ mẫu cả bộ tranh Tứ quý, Tố nữ, chỉ lấy vài lon gạo

Trải qua bề dày lịch sử, nghề làm tranh ở Đông Hồ đã trở thành một hoạt động kinh tế mang tính chất chuyên môn hoá cao Trong đó, tính cộng đồng và mối giao lưu buôn bán giữa làng tranh với các làng nghề khác, luôn được duy trì và trở thành nét đẹp trong các hoạt động kinh

tế, văn hoá làng

Trang 14

Khác với tranh Đông Hồ, kỹ thuật tranh Hàng Trống kết hợp đư

ờng nét in đen từ bản khắc gỗ, với việc tô màu phẩm bằng tay, dùng bút mềm quét phẩm nước, luôn tạo được những chuyển sắc độ đậm nhạt tinh tế Nhờ vậy, màu sắc rất uyển chuyển, đáp ứng đòi hỏi của khách mua tranh nơi kẻ chợ

Tranh Hàng Trống in trên giấy dó hay giấy báo khổ rộng Những bộ tứ bình khổ to thường đư

ợc bồi trên giấy dầy, hai đầu trên dưới lồng suốt trúc để tiện treo

Cùng với các đề tài phản ánh sinh hoạt thường ngày hay minh hoạ chuyện cổ tích, tranh hàng Trống nổi trội về loại tranh thờ, ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo, với hình tượng tư

ơng đối giản dị mà thể hiện khá công phu, không bao giờ thiếu sắc thái uy vệ về ý nghĩa

Trang 15

Tranh Kim Hoàng là sản phẩm tranh ra đời từ sự hợp nhất hai làng Kim Bảng và Hoàng Bảng năm Chính Hoà thứ 22 (1701) Dân làng thường làm tranh vào từ Rằm tháng 11 Âm lịch cho tới Tết Nguyên Đán Tranh Kim Hoàng chủ yếu vẽ lên giấy hồng điều và giấy Tàu vang nên còn được gọi là tranh đỏ, để phân biệt với tranh trắng (Hàng Trống) và tranh

điệp (Đông Hồ)

Tranh Kim hoàng chỉ có nét và mảng màu đen in ván gỗ, các màu khác được vẽ bằng tay,ở một số tranh sau khi tô

màu thì in nét một lần nữa Đó là loại tranh đồ mà chỉ có ở Kim Hoàng mới làm theo phương pháp này

Đề tài của tranh Kim Hoàng cũng tương tự như tranh Đông

Hồ Ngoài ra tranh Kim Hoàng có một điểm đặc biệt mà các dòng tranh dân gian khắc không có Đó là những câu thơ Hán

tự được viết theo lối chữ thảo tên góc trái bức tranh Cả thơ

và hình vẽ tạo nên một chỉnh thể hài hoà, chặt chẽ cho bức tranh

Click …

Ngày đăng: 23/06/2013, 01:26

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w