Đầu tư giáo dục cho giới nào có lợi hơn? Vì sao?Nguyên nhân của bạo hành trẻ em, bạo lực gia đìnhNhững yếu tố nào là nguyên nhân của bạo lực học đườngĐề xuất một đề cương nghiên cứu sơ bộ về 1 vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội học giới
Trang 1ĐỀ CƯƠNG XÃ HỘI HỌC GIỚI
1 Đầu tư giáo dục cho giới nào có lợi hơn? Vì sao?
Nếu xét về lợi ích kinh tế, đầu tư cho nam giới sẽ có lợi hơn
Về điều kiện học tập của phụ nữ: Phụ nữ thường xây dựng gia đình ở tuổi 20, thời gian học tập của phụ nữ cần phải hoàn tất trước khi xây dựng gia đình và sinh con Phụ nữ có gia đình có thể theo đuổi tiếp việc học tập nhưng họ thường vướng bận việc chăm sóc con cái Phụ nữ đều phàn nàn rằng khi đã có gia đình thì rất khó đi học bởi vì cuộc sống vất vả Họ đều nói rằng sẽ đi học sau 2 – 3 năm nữa khi con cái đã lớn nhưng đến khi đó họ lại chăm sóc việc học tập của con cái Lựa chọn tốt nhất là đi học trước khi lập gia đình Một số phụ nữ dự định đi học sau khi lập gia đình nhưng điều này còn tùy thuộc vào điều kiện gia đình họ Nếu như cả 2 vợ chồng đều đi học, con cái của họ sẽ không có ai chăm sóc Một số người có bố mẹ giúp đỡ Nếu gia đình nào khá hơn thì cả vợ và chồng đều có thể đi học Nếu cả 2 vợ chồng là công chức nhà nước và gia đình
họ lại không ở thành phố thì họ rất khó đi học tiếp Lương của cán bộ nhà nước không đủ để nuôi con trong khi việc học hành rất tốn kém Mặt khác, trong xã hội người ta cho rằng phụ nữ có công việc ổn định không cần phải học tiếp do vậy phụ nữ không được khích lệ phát triển Ngoài ra còn tùy thuộc vào người chồng Nếu người chồng thực sự quan tâm và không có định kiến thì người vợ
sẽ có cơ hội học tập Nếu không, người phụ nữ không thể học tiếp Nếu cố gắng thuyết phục, có khi còn dẫn đến bạo lực
Về cơ hội thăng tiến của phụ nữ: Phụ nữ thường xây dựng gia đình ở tuổi 20
và nghỉ hưu ở tuổi 55 Nam giới thường xây dựng gia đình ở tuổi 30 và nghỉ hưu ở tuổi 60 Nam giới và nữ giới đi làm vào cùng một thời điểm, như vậy thời gian công tác của phụ nữ ít hơn nam giới là 5 năm Tại một số cơ quan Nhà nước, có quy định rằng nhân viên có đủ điều kiện được cử đi học sau 3 – 5 năm làm việc, như vậy là quá muộn đối với phụ nữ Phụ nữ mất 5 năm làm việc,
Trang 2tương ứng với một nhiệm kỳ để tham gia vào vị trí lãnh đạo Vì vậy, phụ nữ không chỉ cạnh tranh với nam giới về năng lực mà còn phải trưởng thành vượt trước nam giới 5 năm Rõ ràng là phụ nữ bị mất cơ hội
Nếu xét về lợi ích phát triển bền vững, đầu tƣ cho nữ giới sẽ có lợi hơn Vấn đề là phải làm thế nào để đầu tƣ GD cho phụ nữ?
2 Nguyên nhân của bạo hành trẻ em, bạo lực gia đình
* Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của
các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại… với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình) Nói một cách dễ hiểu hơn, đó là việc “các thành viên gia đình vận dụng sức mạnh
để giải quyết các vấn đề gia đình” Gia đình là tế bào của xã hội, là hình thức
thu nhỏ của xã hội nên bạo lực gia đình có thể coi như là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với rất nhiều dạng thức khác nhau Xét về hình thức, có thể phân chia bạo lực gia đình thành các hình thức chủ yếu sau:
– Bạo lực thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ
– Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình
– Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành viên gia đình (quyền tự do lao động, tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản…)
– Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con
Trang 3Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác nhau Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã quy định các hành vi bạo lực bao gồm:
– Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
– Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
– Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
– Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông,
bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
– Cưỡng ép quan hệ tình dục;
– Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
– Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
– Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
– Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở
* Gia đình: 287
*Nguyên nhân của bạo hành trẻ em:
– Trẻ em quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là công dân Việt Nam dưới mưới sáu tuổi (2004) Bạo lực đối với trẻ em đa số do những người trong gia đình của chính các em gây ra Số ít hơn là những
Trang 4người hàng xóm hoặc những mối quan hệ xã hội, cá biệt có cả trường hợp
là giáo viên ở trường của các em
– Văn hoá ″Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi″ bấy lâu nay khiến cho người ta coi chuyện đánh con là bình thường là quyền của cha
mẹ là cho con lên người; do thiếu hiểu biết về pháp luật nói chung và pháp luật về quyền trẻ em nói riêng; về kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của cộng đồng, gia đình và chính bản thân các em đã dẫn tới mọi người vẫn cho rằng cha mẹ có quyền dạy con bằng đòn roi, bằng sự
xỉ nhục, hành hạ
– Pháp luật chưa đủ mạnh, chưa đủ răn đe những người có hành vi bạo lực, như Điều 110 Luật Hình sự có quy định ″Người nào đối xử tàn ác với đối tượng là trẻ em lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ
từ 1 năm đến 3 năm″ Mức án như vậy là quá nhẹ Pháp luật về bảo vệ trẻ
em còn nhiều khoảng trống: chưa có quy định cụ thể về bảo vệ trẻ em là nạn nhân, nhân chứng; chưa có quy định đặc biệt trong trường hợp nhận
tố giác từ trẻ em
– Đã có Luật Phòng, chống bạo lực gia đình nhưng thực hiện chưa nghiêm túc Tiếng nói và cách xử lý của chính quyền với các vụ cha, mẹ bạo hành với con cái còn yếu Cùng với thái độ thờ ơ, vô cảm của cộng đồng đã dẫn tới nhiều trẻ em bị bạo lực nhiều lần, gây hậu quả khá nghiêm trọng
mà vẫn không bị xử lý trong khi Nghị định 114/2006/NĐ - CP đã quy định mức phạt rất cụ thể
– Quyền và trách nhiệm của trẻ em luôn là vấn đề được luật pháp Việt Nam
và quốc tế đặc biệt quan tâm tới Nhưng có một thực tế tồn tại là dường như các em - chủ thể chính lại ít biết đến những quyền lợi và nghĩa vụ
của mình Đây là một bất lợi khi các em gặp những bất trắc trong cuộc
sống
Trang 5– Môi trường xã hội còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến bạo lực trẻ em như: cha mẹ bị cuốn vào tệ nạn xã hội, nghiện hút, cờ bạc, rượu chè; cha mẹ mâu thuẫn hoặc ly hôn, lối sống ích kỷ, thiếu trách nhiệm với con cái Sự lan truyền của văn hoá bạo lực, đồi truỵ qua nhiều kênh, đặc biệt là qua Internet … dẫn đến các hành vi, hành xử tiêu cực, bạo lực mà nạn nhân thường là trẻ em và lẽ tất nhiên sẽ tác động tới tư tưởng, đạo đức, lối sồng, nhân cách của trẻ em
– Gia đình nghèo, kinh tế khó khăn cũng là nguy cơ dẫn tới bạo lực gia đình vì kinh tế khó khăn sẽ gây ra nhiều áp lực, căng thẳng, bế tắc dẫn đến mâu thuẫn trong gia đình, hậu quả trẻ em phải hứng chịu
– Yêu đương sớm, quan hệ tình dục bừa bãi có thai ngoài ý muốn cũng là một nguyên nhân dẫn tới tội ác (giết chết, chối bỏ, hành hạ trẻ sơ sinh)
Có người nói tình trạng này đang ở mức ″Báo động đỏ″, nó cảnh báo một vấn đề xã hội nghiêm trọng, hệ quả của suy thoái đạo đức và lối sống của giới trẻ
– Bất bình đẳng giới cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự loại bỏ thai nhi khi biết là gái, vứt bỏ trẻ sơ sinh là gái và bạo lực với trẻ em gái
*Nguyên nhân của bạo lực gia đình: (các cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội)
Phong tục, tập quán
Việt Nam là một nước Á Đông với tư tưởng gia trưởng còn nặng nề, điều này có ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay Tính gia trưởng được chấp nhận trong gia đình và ngoài xã hội đã tạo ra một vị trí đặc biệt cho những người đàn ông trong gia đình: họ có "quyền" quyết định những vấn đề quan trọng, quyết định thái độ ứng xử với các thành viên khác, họ
có quyền “dạy dỗ” vợ con theo ý mình Thậm chí, có người coi việc sử dụng bạo lực là ứng xử cần thiết để đảm bảo hạnh phúc gia đình Đi cùng với đó là tư
Trang 6tưởng “đèn nhà ai nhà nấy rạng”, " vợ chồng đóng cửa bảo nhau" nên những việc trong gia đình thì những người khác thường không muốn can thiệp vào Đây là những yếu tố gây ra khó khăn rất lớn trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay
Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận những truyền thống tốt đẹp như: kính già yêu trẻ, con cái phải hiếu thảo với cha mẹ hay những triết lý Nho giáo tiến bộ “phu thê cung kính như khách” đã và đang có những tác động tích cực tới việc bảo vệ những thành viên yếu thế trong các gia đình: người già được kính trọng, trẻ con được yêu thương, vợ chồng tôn trọng lẫn nhau… Những tư tưởng này nếu được phát huy và áp dụng phù hợp với xã hội hiện nay thì sẽ góp phần quan trọng, tích cực trong phòng, chống bạo lực trong các gia đình Việt Nam
Tâm lý
Khái niệm tâm lý được đề cập ở đây không phải là tâm lý xã hội nói chung mà là tâm lý của từng thành viên trong gia đình với tư cách là cha, mẹ, con, anh, chị, em…với nhau và với vấn đề bạo lực gia đình
Tâm lý của mỗi cặp vợ chồng nói chung vẫn là: “Phu xướng phụ tùy”, đề cao vai trò tự chủ của đàn ông trong gia đình Điều này có lúc đã làm mất đi quyền tự vệ của người vợ trước những hành vi bạo lực của chồng mình Điều này đã ăn sâu vào suy nghĩ của rất nhiều thế hệ người Việt Nam: vợ đánh chồng luôn bị coi là hành vi xấu, bị cả xã hội lên án; còn người chồng đánh vợ thì mặc nhiên được gọi là “biết dạy vợ”; hành vi “đòi hỏi” của người chồng luôn được coi là chính đáng và người vợ có nghĩa vụ phải phục tùng theo… Hơn thế nữa, với người đàn ông, việc sử dụng sức mạnh thể chất để khẳng định mình dường như đã là một thói quen, một điều không thể thiếu; và thực sự khả năng kiềm chế của họ cũng không bằng phụ nữ nên rất dễ “động chân động tay” khi phải giải quyết các mâu thuẫn trong gia đình Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận
Trang 7rằng: trong suy nghĩ của một số phụ nữ, việc đay nghiến, chì chiết chồng là hoàn toàn bình thường, mà không hề nghĩ đó là hành vi bạo lực, gây ra những tổn thương về tinh thần cho người chồng
Cha mẹ luôn dành những tình cảm yêu thương, trân trọng cho con cái mình Song quan niệm về giáo dục của phần đông người Việt vẫn là “ yêu cho roi cho vọt” Chính vì vậy, việc cha mẹ đánh đập, mắng mỏ con cái được coi là bình thường, thậm chí là cần thiết và không thể thiếu để dạy con thành người Những đứa con trong gia đình phải chấp nhận sự giáo dục này, và cuối cùng cũng cảm thấy đó là bình thường để chịu đựng Bên cạnh đó, nhiều bậc cha mẹ vẫn có suy nghĩ con cái là “của mình”, nên mình có quyền đối xử tùy ý, người khác không được can thiệp vào
Với các thành viên khác trong gia đình, tâm lý “kính già yêu trẻ”, “kính trên nhường dưới” vẫn được đề cao Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa, sự áp đặt của những thành viên lớn tuổi với các thành viên nhỏ hơn trong gia đình là khá phổ biến và thường xuyên vì quan niệm “khôn không đến trẻ, khỏe không đến già” Trong xã hội hiện nay, điều này thường làm phát sinh
tư tưởng chống đối ở giới trẻ khiến các mối quan hệ trong gia đình trở nên căng thẳng, dễ làm phát sinh bạo lực gia đình
Điều kiện kinh tế xã hội
Điều kiện kinh tế xã hội luôn là yếu tố tác động mạnh tới các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội Kinh tế khó khăn thường gây nên sự căng thẳng, tranh chấp trong gia đình, là nhân tố dẫn tới các hành vi bạo lực về thể chất, tinh thần không đáng có Việc thiếu thốn về vật chất cũng làm cho các thành viên trong gia đình không có điều kiện giao lưu, học tập, tiếp cận những tri thức tiến
bộ cũng như không được định hướng về cách ứng xử trong gia đình, khiến tình trạng bạo lực càng dễ có nguy cơ xảy ra Tuy nhiên, ở rất nhiều gia đình, dù điều kiện vật chất đầy đủ nhưng vẫn có hiện tượng bạo lực gia đình Điều này
Trang 8có thể được lý giải như sau: khi kinh tế phát triển, các thành viên trong gia đình
có xu hướng thỏa mãn các lợi ích cá nhân mà thiếu đi sự quan tâm chăm sóc tới nhau; hoặc vì quá ham mê các lợi ích kinh tế mà phát sinh tranh chấp giữa những người thân trong gia đình Ở những gia đình này, bạo lực về tinh thần có
xu hướng phát triển hơn bạo lực về thể chất, kinh tế hay tình dục bởi vì những nhu cầu này đều có thể được đáp ứng phần nào bằng tiền bạc
Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa bên ngoài, xu hướng bạo lực có chiều hướng gia tăng trong xã hội Việt Nam: mọi người đều
dễ dàng tìm đến việc sử dụng bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh Ngoài ra, sự suy giảm các giá trị truyền thống cũng làm gia tăng những hành vi bạo lực gia đình vốn hiếm gặp trước đây: Vợ đánh chồng, con cái đánh đập, mắng chửi bố mẹ, bạo lực tình dục trong gia đình, đặc biệt là với trẻ em…
Định kiến giới
Quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt Nam từ hàng ngàn năm nay và thực sự đã và đang cướp đi nhiều quyền lợi chính đáng của người phụ nữ Người vợ, người mẹ thường không có được sự tôn trọng xứng đáng trong gia đình, không được hưởng những quyền lợi về vật chất, về tinh thần và thường xuyên phải chịu những tổn thương: bị đánh đập, bị xúc phạm danh dự, bị cưỡng ép tình dục… Ngay cả với trẻ em, quan niệm “con gái là con người ta” cũng khiến nhiều bé gái bị thiệt thòi hơn so với bé trai Sự bất bình đẳng về giới này được cả xã hội chấp nhận, thậm chí cả chính những người phụ nữ cũng coi đó là bình thường Điều này cũng là nguyên nhân trực tiếp nhất dẫn tới nạn bạo hành với người phụ nữ trong gia đình
Trình độ dân trí
Những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng tới việc phòng, chống bạo lực gia đình nêu trên đều có thể được giải quyết phần nào bằng việc nâng cao trình độ dân trí Khi được tiếp xúc với những tri thức tiến bộ, được hiểu biết về vai trò của gia
Trang 9đình, quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình cũng như những quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình thì hành vi vi phạm trong lĩnh vực này sẽ giảm xuống Như đã phân tích ở trên, những yếu tố như tâm lý, phong tục tập quán, quan điểm giới… đã làm cho những người có hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân và những người xung quanh, thậm chí cả những cơ quan
có thẩm quyền cho rằng hành vi đó là đúng, là được phép và không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào Chính vì vậy mà tình trạng bạo lực gia đình vẫn phổ biến và không được ngăn chặn một cách hiệu quả Nhưng nếu trình độ dân trí được nâng cao, vị trí của gia đình và mỗi thành viên gia đình được khẳng định, kiến thức pháp luật được cung cấp đầy đủ thì những hành vi bạo lực sẽ khó có
cơ hội phát triển: nạn nhân hiểu rõ quyền của mình và có thể áp dụng những biện pháp tự bảo vệ cần thiết; người có hành vi bạo lực biết tính chất sai trái của hành vi và những hậu quả có thể phải gánh chịu, do đó sẽ phải cân nhắc kỹ càng; những người xung quanh, những cơ quan có thẩm quyền khi biết được nghĩa vụ
và quyền lợi của mình sẽ tham gia phòng, chống bạo lực gia đình một cách tích cực, chủ động hơn
Tệ nạn xã hội: Lạm dụng rượu bia, cờ bạc, ma túy
Nghiên cứu bình đẳng giới ở Việt Nam cho thấy, tỷ lệ phụ nữ có chồng uống rượu say bị chửi cao gấp 2,3 lần và bị đánh cao gấp 3,1 lần so với phụ nữ
có chồng không say rượu Sa đà vào tệ cờ bạc, ma túy không chỉ gây nên những tổn thất về kinh tế, khuynh gia bại sản, “cờ bạc là bác thằng bần, chơi đề ra đê
mà ở”,… khiến cho vợ con rơi vào tình cảnh đói khổ, mà còn gây nên bạo lực đối với vợ và con cái
Nguyên nhân khác: Tình cảm, ngoại tình, có vợ khác; sự thiếu hiểu biết về pháp luật của cả phụ nữ và nam giới,…
3 Những yếu tố nào là nguyên nhân của bạo lực học đường
Trang 10*KN bạo lực học đường: Trong nhiều bài viết của các tác giả về bạo lực học
đường đăng trên các báo và tạp chí gần đây, khi bàn về khái niệm bạo lực học đường đều có đề cập đến các yếu tố như xâm hại, người gây hại, người bị hại, mội trường học đường, môi trường giáo dục… là các yếu tố quan trọng hình thành khái niệm
Một cách tổng quát, chúng ta có thể hiểu bạo lực học đường là những hành vi xâm hại đến tính mạng, tài sản, sức khoẻ, tinh thần, uy tín, danh dự của người bị hại trong môi trường học đường
Có 3 mức độ tiếp cận khái niệm bạo lực học đường bao gồm:
2.1 Theo nghĩa hẹp: Là những hành vi xâm hại giữa học sinh với học sinh trong
cùng một trường diễn ra bên trong hay bên ngoài khuôn viên nhà trường
2.2 Theo nghĩa rộng: Là những hành vi xâm hại giữa học sinh với học sinh
hoặc giữa học sinh với giáo viên hoặc giữa giáo viên với giáo viên diễn ra bên trong hay bên ngoài khuôn viên nhà trường
2.3 Theo nghĩa lấy học sinh làm trung tâm: Là những hành vi xâm hại mà chủ
thể gây hại là học sinh, người bị hại là bất kỳ ai diễn ra bên trong hay bên ngoài khuôn viên nhà trường Đây là cách tiếp cận được nhiền người quan tâm vì ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nó trong công tác giáo dục
Mỗi cách tiếp cận sẽ có cách nhận diện và đưa ra các nguyên nhân, giải pháp ngăn ngừa tương đối khác nhau về bạo lực học đường Cách tiếp cận như trên cũng giúp chúng ta phân biệt đâu là bạo lực học đường, đâu là không Ví dụ một phụ huynh học sinh vì bênh vực con vào trường gây gổ, hành hung thầy cô giáo, một học sinh bị bọn trấn lột hành hung buộc phải chống trả tự vệ thì đó cũng không phải là bạo lực học đường Cần phân biệt bạo lực học đường với bạo lực
xã hội, đạo đức xã hội…