1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC: HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ BẬC ĐẠI HỌC Ở MỸ: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

46 379 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 818,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ là phương pháp dạy và học mới, tiến bộ mà nhiều nước trên thế giới ngày nay áp dụng bởi những đặc tính ưu việt của nó, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Mỹ, nổi tiếng có một nền giáo dục hiện đại và tiên tiến, chính là cái nôi của hình thức đào tạo này. Những thành công mà Mỹ đạt được như là nước có nền kinh tế số 1 thế giới hay là nước đi đầu về khoa học công nghệ đã phần nào cho thấy hình thức đào tạo theo tín chỉ bậc đại học của Mỹ có hiệu quả cao trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, góp phần vào sự giàu mạnh của đất nước. Đó cũng chính là một trong những lí do mà hình thức đào tạo này trở nên phổ biến và trở thành hình thức đào tạo chính thức của nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam. Tuy nhiên hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ bên cạnh những hiệu quả tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định, mà ngay cả Mỹ cũng không tránh khỏi. Hơn nữa, việc vận dụng kinh nghiệm của một nước nào đó phải gắn liền với thực tiễn xã hội của nước mình, không thể áp dụng một cách máy móc, sao chép y nguyên mà không tính đến những thách thức phía trước. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là cách đào tạo mới ở Việt Nam cho phép sinh viên chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình, vì thế sinh viên phải tự lập kế hoạch học tập cho phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của bản thân. Phương thức đào tạo này đòi hỏi cả người dạy và người học phải thay đổi cách tư duy, đổi mới phương pháp dạy và học từ bị động sang chủ động một cách nghiêm túc. Đó chính là những yếu tố mà chúng ta có thể nghiên cứu từ những thành công mà Mỹ đạt được trong việc áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ bậc đại học. Đặc biệt đối với sinh viên Việt Nam mới đầu chưa quen hình thức đào tạo này, việc học tập kinh nghiệm của Mỹ trong cách tư duy, phương pháp dạy và học của họ là điều hết sức cần thiết nếu muốn học tập có hiệu quả.

Trang 1

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội, tháng

Trang 2

MỤC LỤC

DANH SÁCH THÀNH VIÊN 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn 6

3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 10

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 10

6 Câu hỏi nghiên cứu 10

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 11

NỘI DUNG CHÍNH 13

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 13

1.1 Các khái niệm công cụ 13

1.2 Các lý thuyết vận dụng 16

1.3 Lịch sử hình thành hệ thống tín chỉ bậc đại học ở Mỹ 18

Chương 2: Đặc điểm của học chế tín chỉ ở Mỹ 20

2.1 Về đơn vị đo lường và cách thiết kế học phần 20

2.2 Về thông tin cho sinh viên 23

2.3 Về điều kiện, phương pháp dạy và học và phương pháp kiểm tra đánh giá 24

2.4 Về tổ chức đăng ký học phần 29

2.5 Về hệ thống cố vấn học tập 30

Chương 3: Đặc điểm của hình thức đào tạo tín chỉ bậc đại học ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ Mỹ 32

3.1 Đặc điểm của hình thức đào tạo tín chỉ bậc đại học ở Việt Nam 32

Trang 3

3.1.1 Về đơn vị đo lường 32

3.1.2 Về cách thiết kế học phần 32

3.1.3 Về nội dung môn học 34

3.1.4.Phương pháp dạy và học 35

3.1.5 Về cố vấn học tập 37

3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ bậc Đại học của Mỹ 37

3.2.1 Chương trình môn học 37

3.2.2 Phương pháp dạy và học 39

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 42

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 4

DANH SÁCH THÀNH VIÊN, NHIỆM VỤ VÀ ĐÁNH GIÁ

ĐÁNH GIÁ

Phần mở đầu Kết luận Tổng hợp và thuyết trình

Tốt

Các khái niệm công cụ

Lý thuyết vận dụng Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Tốt

3

Đoàn Thị Thu Hiền

Nguyễn Thị Mai Phương

Đặc điểm của hình thức đào tạo tín chỉ bậc đại học ở Mỹ Tốt

Đặc điểm của hình thức đào tạo tín chỉ bậc đại học ở Việt Nam

Tốt

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nghị quyết hội nghị TW 2 khóa VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, những tiến bộ khoa học công nghệ, coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả” Tuy nhiên trên thực tế, giáo dục nước ta còn nhiều yếu kém, bất công về cả quy mô và chất lượng, chưa đáp ứng kịp thời những đòi hỏi lớn

và ngày càng cao về nhân lực Điều đó đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, đào tạo, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại học Giáo dục đại học Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước Trong bối cảnh chung của giáo dục đại học thế giới, giáo dục đại học Việt Nam đứng trước những vận hội mới nhưng cũng đối mặt với những thách thức mới trong đó thách thức nổi bật nhất là chất lượng và hiệu quả đào tạo Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Thủ tướng chính phủ về “Đổi mới cơ bản

và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020” đã đặt ra một nhiệm vụ quan trọng cho các trường đại học và cao đẳng là phải: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và nước ngoài.”

Hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ là phương pháp dạy và học mới, tiến bộ mà nhiều nước trên thế giới ngày nay áp dụng bởi những đặc tính ưu việt của nó, Việt Nam cũng không ngoại lệ Mỹ, nổi tiếng có một nền giáo dục hiện đại và tiên tiến, chính là cái nôi của hình thức đào tạo này Những thành công

mà Mỹ đạt được như là nước có nền kinh tế số 1 thế giới hay là nước đi đầu về khoa học công nghệ đã phần nào cho thấy hình thức đào tạo theo tín chỉ bậc đại

Trang 6

học của Mỹ có hiệu quả cao trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, góp phần vào sự giàu mạnh của đất nước Đó cũng chính là một trong những lí

do mà hình thức đào tạo này trở nên phổ biến và trở thành hình thức đào tạo chính thức của nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam Tuy nhiên hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ bên cạnh những hiệu quả tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định, mà ngay cả Mỹ cũng không tránh khỏi Hơn nữa, việc vận dụng kinh nghiệm của một nước nào đó phải gắn liền với thực tiễn xã hội của nước mình, không thể áp dụng một cách máy móc, sao chép

y nguyên mà không tính đến những thách thức phía trước

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là cách đào tạo mới ở Việt Nam cho phép sinh viên chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình, vì thế sinh viên phải tự lập kế hoạch học tập cho phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của bản thân Phương thức đào tạo này đòi hỏi cả người dạy và người học phải thay đổi cách tư duy, đổi mới phương pháp dạy và học từ bị động sang chủ động một cách nghiêm túc Đó chính là những yếu tố mà chúng ta có thể nghiên cứu từ những thành công mà Mỹ đạt được trong việc áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ bậc đại học Đặc biệt đối với sinh viên Việt Nam mới đầu chưa quen hình thức đào tạo này, việc học tập kinh nghiệm của Mỹ trong cách tư duy, phương pháp dạy và học của họ là điều hết sức cần thiết nếu muốn học tập có hiệu quả

Từ những lí do trên, nhóm chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Hình

thức đào tạo tín chỉ bậc đại học ở Mỹ: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”

nhằm đánh giá khái quát về hình thức đào tạo tín chỉ bậc đại học của Mỹ, từ đó xem xét và đưa ra những yếu tố có thể cho là bài học kinh nghiệm mà Việt Nam cần phải học hỏi và áp dụng

2 Ý NGHĨA KHOA HỌC – Ý NGHĨA THỰC TIỄN

 Ý nghĩa khoa học

Trang 7

Bài viết áp dụng những kiến thức xã hội học nói chung và xã hội học giáo dục nói riêng vào mô tả và phân tích kinh nghiệm của Mỹ trong việc đào tạo tín chỉ ở bậc đại học và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

 Ý nghĩa thực tiễn

Bài viết hướng tới việc mô tả và phân tích những kinh nghiệm của Mỹ trong việc đào tạo tín chỉ ở bậc đại học Qua đó, chỉ ra một số hướng nghiên cứu

xã hội học xoay quanh vấn đề này

3 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Hệ thống đào tạo theo tín chỉ Mỹ và những gợi ý cho cải cách giáo dục đại học Việt Nam (Eli Mazur & Phạm Thị Ly) Bài viết đưa ra bình luận chung

về buổi đầu vận dụng hệ thống tín chỉ ở Việt Nam, đồng thời xem xét tính khả thi của những bước đi tiếp theo trong việc thực hiện hệ thống tín chỉ Mỹ trong các trường đại học Việt Nam

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam

TS Nguyễn Kim Dung - Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐH Sư phạm TPHCM Bài viết trình bày một số kinh nghiệm của thế giới trong việc xây dựng

và phát triển hệ thống đào tạo theo tín chỉ Các mô hình chuyển đổi tín chỉ cũng được giới thiệu kèm theo các chức năng và ưu điểm của chúng Sau đó, các kinh nghiệm của Việt Nam trong việc áp dụng hệ thống chuyển đổi tín chỉ trong đào tạo và các ưu khuyết điểm của các hệ thống này sẽ được tổng kết và phân tích

Chuyển đổi sang hệ thống đào tạo tín chỉ - Kinh nghiệm của Trung Quốc TS.Phạm Thị Ly - Trung tâm Nghiên cứu và Giao lưu Văn hóa Giáo dục Quốc tế- Viện NCGD Sự phát triển mạnh mẽ của các đại học Trung Quốc và những

kết quả mà họ đạt được, cũng như những khó khăn mà họ đang trải qua rất đáng

để cho những nước châu Á vốn có điều kiện kinh tế, xã hội, và văn hóa gần gũi với Trung Quốc phải chú ý Một trong những lĩnh vực mà chúng ta có thể rút ra

Trang 8

được nhiều bài học kinh nghiệm, là việc chuyển đổi sang hệ thống đào tạo theo tín chỉ

Về học chế tín chỉ và áp dụng ở Việt Nam – GS Lâm Quang Thiệp, Tạp chí hoạt động khoa học số 3/2007 Theo bài viết, việc chuyển đổi sang học chế

tín chỉ là bước đi đúng đắn trong thời đại toàn cầu hóa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học và nâng cao chất lượng đào tạo, qua đó đưa đất nước hội nhập sâu rộng hơn vào thế giới Tuy nhiên, để việc chuyển đổi đạt kết quả tốt, cần chú trọng đổi mới đồng bộ, từ chương trình đào tạo đến cách thức quản lí

Nghiên cứu của PGS.TS Cary J Treseler - Trường đại học California

(Mỹ) – Davis – Mỹ về “Hệ thống tín chỉ tại các trường Đại học Mỹ: Lịch sử

phát triển, định nghĩa và cơ chế hoạt động” Trong nghiên cứu này tác giả đã

chỉ rõ lịch sử phát triển của mô hình đào tạo tín chỉ Đại học Mỹ cũng như cơ chế hoạt động của nó Ngoài ra tác giả còn chỉ rõ các lợi ích mà mô hình này đem lại cho nền giáo dục bậc Đại học của Mỹ Đó là tính chất linh hoạt trong việc đáp ứng nhu cầu của thị trường và việc làm của sinh viên cũng như cho phép thực hiện những cải tiến trong việc đào tạo, cả hai điều này là dấu hiệu ưu tú của hệ thống giáo dục Mỹ Và cũng nhờ vào mô hình đào tạo tín chỉ mà hệ thống giáo dục của Mỹ liên tục cao hơn các quốc gia khác Không một hệ thống giáo dục nào cho phép khả năng linh hoạt và chuyển đổi lại có thể hoàn hảo, tập trung vào tiêu điểm chính của hệ thống tín chỉ: tạo ra một nền giáo dục đẳng cấp quốc

tế, đào tạo một lực lượng lao động dựa trên những điểm mạnh, mối quan tâm và nguyện vọng của sinh viên

Trong tạp chí Giáo dục số 238 năm 2010 TS Phan Thanh Long đã công

bố nghiên cứu: “Bài học kinh nghiệm trong đánh giá chất lượng giáo dục đại

học Mỹ” Bài viết đã chỉ ra rằng đánh giá chất lượng là một quá trình quyết định

giá của một hoạt động, một chương trình, một người hay một sản phẩm và quá trình này được tiến hành với mục đích là cung cấp thông tin về sự biến đổi và tiến bộ của sinh viên, tạo nên trách nhiệm giải trình đối với cơ quan bên ngoài,

Trang 9

đánh giá chương trình, phân tích tính hiệu quả trong chỉ tiêu và đặt ra mục tiêu giáo dục

Hệ thống giáo dục Mỹ và Việt Nam khác nhau như thế nào? - GS.TS Trần

Văn Hiển, Giảng viên ĐH Houston: Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Hiển, Giảng viên

ĐH Houston đã có những phân tích khá sâu sắc về việc giáo dục việt Nam nên học nền giáo dục nước Mỹ ở điểm nào GS.TS Trần Văn Hiển đặc biệt nhấn mạnh việc đào tạo con người với hai nhóm khả năng quan trọng gồm khả năng tạo tổ chức và khả năng hội nhập thế giới Với việc so sánh nền giáo dục hai nước Việt Nam và Mỹ, GS.TS Hiển cho rằng nền giáo dục Việt Nam không nên cứng nhắc mà cần phải biết học hỏi kinh nghiệm từ những nước có nền giáo dục tiên tiến như Mỹ, Singapore Đồng thời đưa ra nhóm giải pháp và những điều nên học nền giáo dục nước Mỹ bao gồm: Đào tạo khả năng tạo tổ chức ở cấp phổ thông, Đào tạo khả năng tạo tổ chức ở cấp Đại học, Đào tạo khả năng tạo tổ chức trong xã hội và Khả năng hội nhập thế giới

Nền giáo dục Mỹ và một số vấn đề gợi mở cho giáo dục Việt Nam - Lê

Hoàng Việt Lâm: đưa ra một số cách đổi mới nền giáo dục của Việt Nam và một

số giải pháp khắc phục những khó khăn hiện tại cùng định hướng lối đi mới cho nền giáo dục Việt Nam Tác giả còn chỉ ra những thiếu sót, những cách áp dụng máy móc, rập khuôn trong việc áp dụng những thành tựu của các nền giáo dục phát triển vào nền giáo dục Việt Nam

Tóm lại, các nghiên cứu trên mới chỉ tập trung vào việc phân tích học chế tín chỉ của Mỹ và những hiệu quả mà nó mang lại cũng như đã khái quát lên được bài học kinh nghiệm đối với các nước trên thế giới về việc áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu cụ thể nào chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế của học chế tín chỉ ở Mỹ, để từ đó rút ra được những thất bại (để tránh) và những thành công (để học hỏi và áp dụng), nhất là trong bối cảnh của Việt Nam Vì vậy đề tài xác định triển khai hướng nghiên cứu đó

để tiếp tục hoàn thiện những nghiên cứu về học chế tín chỉ của Mỹ cũng như

Trang 10

đưa ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc áp dụng kinh nghiệm của Mỹ về đào tạo tín chỉ bậc đại học

4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1 Mục đích nghiên cứu

Từ hệ thống đào tạo tín chỉ của Mỹ rút ra được những bài học kinh nghiệm trong việc đào tạo tín chỉ trong các trường đại học ở Việt Nam

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

– Tìm hiểu lịch sử, đặc điểm của hình thức đào tạo tín chỉ ở Mỹ

– Phân tích những ưu điểm, nhược điểm của hình thức đào tạo tín chỉ ở Mỹ – Chỉ ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ của Mỹ

5 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU - KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

 Đối tƣợng nghiên cứu: Hình thức đào tạo tín chỉ bậc đại học của Mỹ

 Khách thể nghiên cứu: Giáo dục đại học Mỹ, giáo dục đại học Việt Nam,

du học sinh Việt Nam đang học tập tại Mỹ

6 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1 Học chế tín chỉ ở Mỹ được thực hiện như thế nào ?

2 Học chế tín chỉ ở Việt Nam được thực hiện như thế nào ?

3 Việt Nam có thể học hỏi được gì từ bài học kinh nghiệm của Mỹ trong việc áp dụng hình thức đào tạo theo tín chỉ ?

7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Trang 11

 Quá trình thực hiện học chế tín chỉ ở Mỹ với những đặc trưng nhất định phù hợp với mục tiêu chuyển từ hình thức đào tạo niên chế sang tín chỉ

mà các nhà giáo dục đặt ra

 Học chế tín chỉ ở Việt Nam từ việc tổ chức triển khai đến việc áp dụng vào thực tế về cơ bản đều có điểm tương đồng với hình thức đào tạo tín

chỉ của Mỹ

 Việt Nam có thể học hỏi những thành công mà Mỹ đạt được khi triển khai

mô hình đào tạo tín chỉ mọt cách chọn lọc, phù hợp với nhu cầu và điều

kiện thực tế của đất nước

8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

8.1 Phương pháp phỏng vấn sâu

Mục đích sử dụng của phương pháp này là thu thập những thông tin có chiều sâu từ phía khách thể nghiên cứu Câu hỏi sử dụng trong phỏng vấn sâu chủ yếu là những câu hỏi mở có tính chất gợi mở vấn đề cho người trả lời chia

sẻ không chỉ những thông tin cần thiết mà cả những đánh giá, thái độ của họ về những vấn đề cần nghiên cứu Thông tin này được sử dụng trong phần nội dung chính và có vai trò làm rõ hơn, sâu hơn những nội dung phân tích Số lượng phỏng vấn sâu đã thực hiện là 8 phỏng vấn sâu dành cho đối tượng du học sinh Việt Nam đang học tập tại các trường Đại học ở Mỹ

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu với 8 trường hợp, trong đó có 7 sinh viên đang theo học tại các trường Đại học Mỹ và 1 sinh viên đã học tập xong

Do khoảng cách địa lý không thể gặp mặt trực tiếp nên chúng tôi tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên, tiêu biểu bằng cách lên các trang group cộng đồng du học sinh tại Mỹ, sinh viên Việt Nam du học Tại Mỹ,… ở các trang mạng xã hội facebook, webtretho,… để tiến hành phỏng vấn qua chat facebook hoặc xin địa chỉ skype -

1 công cụ tiện ích của Internet (có webcam để theo dõi hình ảnh các đối tượng được phỏng vấn) Thời gian tiến hành phỏng vấn từ 25 đến 35 phút

Trang 12

Cơ cấu phỏng vấn sâu:

8.2 Phương pháp phân tích tài liệu

Trong phạm vi bài viết, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu Phân tích nhằm tìm ra, mô tả những nội dung, tư tưởng cơ bản của tài liệu, tìm ra những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu và xác định xem những vấn đề gì được giải quyết và những vấn đề gì chưa được giải quyết Phân tích một số văn bản pháp qui làm căn cứ ban hành chính sách nhằm chỉ ra nền tảng, các điều kiện tiền đề của chính sách Phân tích những số liệu điều tra, khảo sát của Tổng cục thống kê và Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm so sánh, chỉ ra Ngoài ra, để làm rõ mục đích nghiên cứu, nhóm nghiên cứu còn phân tích những

tài liệu bao gồm các bài báo, bài viết trên các diễn đàn, tạp chí khoa học

Trang 13

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

1.1.1 Tín chỉ

Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân Hiệu trưởng các trường quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ Một tiết học được tính bằng 50 phút

1.1.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ (Hay còn gọi là “Mô hình đào tạo tín chỉ”)

Đào tạo theo tín chỉ không theo tổ chức theo năm học mà theo học kỳ Một năm học có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học nhất định không tính theo năm mà tính theo sự tích lũy kiến thức của sinh viên, sinh viên tích ũy đủ số tín chỉ quy định cho mọt ngành học thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học được ra trường Trong đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải tự đăng ký lịch học, sinh viên không đăng ký sẽ không có lịch học

Để làm được việc đó sinh viên phải nghiên cứu kỹ, nắm chắc các tài liệu của nhà trường như quyển niêm giám, sổ tay sinh viên, nắm vững chương trình đào tạo, các học phần phải học trước, các học phần học song hành, phần kiến thức giáo dục đại cương, phần kiến thức giáo dục chuyên ngành,… để có thể có đăng ký lịch học cho từng học kỳ phù hợp (Phù hợp ở đây là phù hợp với quy định của

Trang 14

nhà trường và phù hợp với quy định của nhà trường và phù hợp với sức học của sinh viên) Sinh viên đã phải tự học các quy chế, quy tắc một cách thật sự Ưu điểm của cách tổ chức này là sinh viên có quyền lựa chọn, sinh viên không những được lựa chọn các môn chính khóa của ngàn học đào tạo mà còn có thể đăng ký học thêm một số học phần tự chọn yêu thích hỗ trợ cho hướng phát triển ngành nghề sau này Trong thời gian học chính khoa có thể học thêm ngoại ngữ hay tin học (học văn bằng 2) Trong đào tạo theo tín chỉ, đối với sinh viên tự học

là vấn đề qua trong nhất, sinh viên phải tự học ngay trên lớp, lên lớp là làm việc thực sự (chứ không phải đi nghe giảng, dự giờ) Muốn tự học trên lớp có hiệu quả sinh viên phải tự học tài liệu trước, không chỉ đọc giáo trình mà phải đọc tài liệu có liên quan, không phải đọc cả quyển tài liệu mà chỉ đọc những vấn đề trực tiếp liên quan đến bài giảng Các vấn đề liên quan đều phải được đánh dấu lại, ghi chép lại hoặc có chỉ dẫn rõ ràng để khi cần lập tức có thể tra cứu được ngay Hình thức tổ chức đào tạo tín chỉ với hai yêu cầu: giảng dạy theo phương pháp tích cực (lấy người học làm trung tâm) và sinh viên phải tự học là chính, phải lấy tự học làm cốt

1.1.3 Sinh viên

Theo Điều 59, Chương IX, Luật Giáo dục Đại học (năm 2012) thì:

“Người học là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, gồm sinh viên của chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình đào tạo đại học; học viên của chương trình đào tạo thạc sĩ; nghiên cứu sinh của chương trình đào tạo tiến sĩ.” [Hoàng Anh, 49]

Cách hiểu chung nhất về sinh viên là “Công dân Việt Nam đang theo học tại các trường Đại học, Cao đẳng trong và ngoài nước” và họ có một số đặc điểm sau:

Là những người đã tốt nghiệp THPT, bổ túc trung học, trung học chuyên nghiệp đang trong quá trình học tập, chuận bị nghề nghiệp tại các trường Đại học và Cao đẳng

Trang 15

Là một nhóm xã hội đặc biệt (Thường có độ tuổi từ 18 - 24) và được xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau

Đối với xã hội nói chung và tầng lớp thanh niên nói riêng, sinh viên là một nhóm xã hội được ngưỡng mộ và nhận được sự quan tâm chung của xã hội

Dưới góc độ nghiên cứu xã hội học, sinh viên có những đặc điểm cơ bản sau:

Trong nhóm đối tượng thanh niên, sinh viên là một bộ phận thanh niên mà đất nước đặt niềm tin vào họ, hy vọng họ trở thành lực lượng khoa học kỹ thuật quản lý kinh tế, xã hội và các mặt khác nhau của đời sống Họ là đối tượng đang trong quá trình xã hội hóa, được trang bị kiến thức toàn diện, cơ bản, được đào tạo về chuyên môn nghề nghiệp, được sống trong môi trường nhiều thông tin, được giao tiếp ở những trung tâm văn hóa lớn Họ là những người nhạy cảm với các vấn đề xã hội

Sinh viên là đối tượng có sự đặc thù trong phân tầng xã hội, đó là khái niệm di động xã hội Do tính chất của hoạt động nghề nghiệp trong tương lai, họ

là những người có nhiều cơ hội thuận lợi chiếm lĩnh những vị trí cao trong xã hội

Sinh viên là nhóm xã hội có đặc thù về lứa tuổi và giai đoạn xã hội hóa so với nhóm thiếu niên nhi đồng và nhóm trung niên cao tuổi Đây là độ tuổi đang liên tục phát triển về chất, hăng hái, dũng cảm, muốn đi sâu vào đời sống xã hội, xác định việc làm, trau dồi kinh nghiệm sống Mối quan tâm lớn nhất đối với họ

là nghề nghiệp, việc làm, nơi làm việc, các biến đổi giá trị xã hội

1.1.4 Đại học

Là một cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao và cấp các bằng khoa học trong nhiều lĩnh vực

Trang 16

ngành nghề Các trường đại học có thể cung cấp các chương trình bậc đại học và sau đại học

1.1.5 Kinh nghiệm

Theo nghĩa thông thường, kinh nghiệm là sự hiểu biết không thông qua lí luận, sách vở, mà thông qua thực tiễn, do thực hành đem lại Theo nghĩa triết học, kinh nghiệm là tri thức có được do sự tác động trực tiếp của khách thể vào chủ thể, hay là tri thức phát sinh từ mối quan hệ trực tiếp của chủ thể với khách thể, mà khách thể thì được quan niệm là một sự tồn tại độc lập Kinh nghiệm thuộc về phạm trù nhận thức cảm tính và làm cơ sở cho sự khái quát của các lí luận khoa học

Kinh nghiệm là những hiểu biết do trông thấy, nghe thấy, do từng trải mà

có Kinh nghiệm là những tri thứ do qui nạp và thực nghiệm đem lại, đã được chỉnh lý và phân lọai để lập thành cơ sở của khoa học Như vậy nói tới kinh nghiệm là nói đến những việc đã làm,đã có kết quả, đã được kiểm nghiệm trong

thực tế, không phải là những việc dự định hay còn trong ý nghĩ

1.2 CÁC LÝ THUYẾT VẬN DỤNG

Đề tài vận dụng lí thuyết lựa chọn duy lí

Thuyết lựa chọn duy lí có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỉ 18-19 khi mà một số nhà triết học đã từng cho rằng bản chất của con người là vị kỉ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thỏa mãn và tránh nỗi khổ đau; còn các nhà kinh tế học thì nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, động cơ lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động Thuyết lựa chọn duy lí được phát triển mạnh mẽ qua thời gian với các quan điểm của nhiều tác giả như Marx, Homans, Jone Elster…

Thuyết lựa chọn duy lí được phát triển mạnh trong kinh tế học hiện đại, lý thuyết “cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích Có suy nghĩ

Trang 17

để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lí nhằm đạt được kết quả tối

đa với chi phí tối thiểu” [Lê Ngọc Hùng, 362] Áp dụng vào trong đề tài nghiên cứu ta thấy rằng: Mỹ luôn tư duy, nghiên cứu các cách thức, các phương thức quản lý, học tập để sử dụng tối đa nguồn lực nhân tài, tạo sự phát triển về bền vững cho chất lượng giáo dục Điều đó thể hiện sáng rõ ở việc họ đã sáng tạo ra

mô hình đào tạo tín chỉ bậc Đại học và mô hình này đã mang lại kết quả tối đa với chi phí tối thiểu cho nền Đại học Mỹ

Một trong những nhà Xã hội học đi theo trường phái của Thuyết lựa chọn duy lý là Homans, ông đã đưa ra mô hình lựa chọn duy lí gồm các định đề cơ bản về hành vi người:

– Định đề phần thưởng

– Định đề kích thích

– Định đề giá trị

– Định đề duy lí

– Định đề giá trị suy giảm

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài chúng tôi đã áp dụng được các định đề này vào trong giải thích hành động, các kinh nghiệm mà Mỹ rút ra theo mô hình đào tạo tín chỉ tại các trường Đại học của Mỹ

Mô hình lý tưởng- ideal type của Max Weber:

Mô hình lý tưởng hay còn gọi là loại hình ý tưởng là công cụ khái niệm không chỉ để mô tả mà còn để phân tích và nhấn mạnh những thuộc tính, những đặc trưng chung cơ bản quan trọng nhất của hiện tượng hay sự kiện lịch sử xã hội Mô hình đào tạo tín chỉ bậc Đại học của Mỹ ban đầu cũng là một mô hình lý tưởng, chỉ là những ý tưởng, khái niệm trừu tượng của quỹ Canergie nhưng sau

đó nó được mở rộng, áp dụng, triển khai và phát triển bở các trường Đại học và dần dần nó trở thành mô hình ưu nhất trong đào tạo bậc Đại học hiện nay Mô hình hình này còn được mở rộng, ảnh hưởng đến các quốc gia khác trên thế giới

Trang 18

Và họ xem mô hình đạo tạo theo tín chỉ bậc đại học của Mỹ là mô hình mẫu, mô hình lý tưởng để họ học hỏi và phát triển nầng cao phương thức đào tạo của nước mình trong đó có Việt Nam

1.3 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG TÍN CHỈ BẬC ĐẠI HỌC Ở

MỸ

“Hệ thống giáo dục đại học Mỹ là tốt nhất trên thế giới, bởi vì nó chẳng

hề có hệ thống” Có thể nói nền giáo dục của Mỹ có rất nhiều hiện tượng đặc biệt mà nhiều nước nên học hỏi như:

– Tổng chi phí cho giáo dục phổ thông vào loại nhất thế giới: 314.000.000.000 USD

– Hệ thống đại học lớn nhất thế giới: 3.681 trường đại học và tổng số tiền đầu tư cho giáo dục đại học cũng không có quốc gia nào sánh được

– Hệ thống trường phổ thông và đại học hết sức đa dạng và mềm dẻo

– Số năm đi học trung bình của người dân Mỹ cao nhất trên thế giới: 14 năm

– Các trường đại học liên thông với nhau, tức là nhà trường công nhận điểm

số và các môn mà sinh viên đã học khi họ chuyển từ trường khác tới Trường đại học mang tính đại chúng bởi chính sách đầu tư cho giáo dục đại học đã bao hàm ý nghĩa để lực lượng lao động tham gia giáo dục đại học dễ dàng, do đó nhanh chóng đạt trình độ nghiệp vụ cao hơn Nước Mỹ chủ trương

mở rộng cửa đại học cho công chúng bởi nhà nước và giới doanh nghiệp hiểu rằng, đại học hóa lực lượng lao động là chìa khóa để tiềm lực kinh tế tăng cao, sức cạnh tranh được nâng lên Trong lĩnh vực lao động, ở nước Mỹ đã có gần 30% số người có bằng đại học, trên 25% có bằng cao đẳng nghề [Phạm Tất Dong, 115]

Trang 19

Về lịch sử, hệ thống tín chỉ học tập Mỹ đã được hình thành xuất phát từ các mô hình Châu Âu, đặc biệt là mô hình Anh và Đức Mô hình Anh được du nhập sang Mỹ và thống trị trong việc tổ chức, trong các tiêu chuẩn và các chương trình giảng dạy của giáo dục đại học Mỹ cho đến thế kỉ XIX Trong nửa sau thế kỉ XIX, giáo dục đại học Mỹ bị ảnh hưởng bởi hệ thống Đức khi việc nghiên cứu đã được đưa vào các trường đại học, viện đại học như là một chức năng chính và giáo dục sau đại học đã phát triển

Một trong những đặc trưng chính của hệ thống giáo dục đại học Mỹ ngày nay là hệ thống này sủ dụng việc tích lũy tín chỉ học tập để đạt được một văn bằng Đến những năm 80 của thế kỉ XX, các trường đại học ở Mỹ được tổ chức theo kiểu chương trình học tập cổ điển Trong một số chương trình giảng dạy, sinh viên có rất ít hoặc hầu như không có quyền lựa chọn môn học Vào những năm 70 của thế kỉ XIX, hệ thống đã trải qua một sự thay đổi mau chóng Đòi hỏi

về việc phải làm cho các môn học có nội dung thực tiễn, có mối quan hệ rõ rệt với thế giới hiện thực cũng ngày càng tăng lên Cac trường đại học và viện đại học đã bắt đầu gặp những khó khăn về tuyển dụng, có sự giảm sút của các thị trường có kích thích đối với các sáng chế phát minh

Vào năm 1872, viện trưởng Eliot đã có sáng kiến đưa ra một hệ thống lựa chọn ở Viện đại học Havard Ông ta thay đổi hệ thống chương trình đào tạo cứng nhắc cổ điển bằng một sự lựa chọn ngày càng rộng rãi các môn học đối với sinh viên Bắt đầu bằng sự lựa chọn chỉ dành cho các sinh viên năm cuối, đến năm 1884, Viện đại học cho phép hầu như hoàn tự do lựa chọn cho mọi sinh viên Đến năm 1890, việc đánh giá tốt nghiệp dựa trên cơ sở tích lũy các môn học riêng lẻ đã được tiến hàn Các trường đại học và Viện đại học khác nhanh chóng làm theo viện đại học Havard

Hệ thống tín chỉ xuất hiện như là một kết quả của sự lựa chọn Vào cuối thế kỉ XIX sang đầu thế kỉ XX, ngày càng nhiều trường đại học và viện đại học công bố trong niên lịch giảng dạy của họ theo bảng liệt kê số lượng các tín chỉ

Trang 20

được cung cấp cho mỗi môn học, con số đó được xác định bởi các giờ lên lớp và thực hành thí nghiệm dành cho một môn học trong một tuần Những yêu cầu để đạt văn bằng cũng được công bố bằng số lương các tín chỉ đòi hỏi cũng như bằng sự phân phối môn học Cũng vào những năm đầu thế kỉ XX, hệ thống tín chỉ đã mở rông ra ngoài phạm vi chương trình giảng dạy cấp đại học bao trùm cả các chương trình sau đại học

Yếu tố chính đã thôi thúc sự thay thế các chương trình giảng dạy theo kiểu nhất loạt cổ điển là đòi hỏi làm cho hệ thống mềm dẻo hơn và thích hợp hơn với nhu cầu hiện tại

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA HỌC CHẾ TÍN CHỈ BẬC ĐẠI HỌC Ở

MỸ 2.1 Về đơn vị đo lường và cách thiết kế học phần

Theo James Quann (Đại học Quốc gia Washington): Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể bao gồm thời gian lên lớp, thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu và thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài

Tại các trường đại học Mỹ, các học phần kiến thức trong tín chỉ được thiết

kế theo trình độ năm học của sinh viên, mỗi học phần bao gồm 3 hoặc 4 tín chỉ

Thường một chương trình cử nhân gồm 120-130 tín chỉ, trong đó:

50 - 70 tín chỉ dành cho loại môn đại cương (nhằm đào tạo theo diện rộng, cung cấp những kiến thức và kỹ năng chung cần thiết đáp ứng tính linh hoạt của

Trang 21

học đại học Sinh viên có khả năng học 2 bằng cử nhân cùng lúc, có thể chuyển đổi hoặc học thêm ngành mới sau này mà không phải đào tạo lại)

30-40 tín chỉ dành cho loại môn chính Phần còn lại dành cho loại môn phụ

Mỗi chuyên ngành bên cạnh những yêu cầu về số các môn học bắt buộc thuộc về chuyên ngành còn có hệ thống môn học tự chọn (electives) Hệ thống này được bắt đầu ở Đại học Harvard vào những năm 1880 nhằm kích thích sự tò

mò, ham học của sinh viên Đó là cơ hội để sinh viên phân biệt bản thân mình với người khác, theo đuổi những mối quan tâm riêng của mình, xây dựng tương lai nghề nghiệp dựa trên thế mạnh và tài năng của mình

Mỗi học kì sinh viên được lấy tối thiểu 7 tín chỉ (unit) cho học sinh bán thời gian (part-time student), 12 tín chỉ cho học sinh toàn thời gian (full-time student) và được lấy tối đa 18 tín chỉ, nếu lấy thêm cần có sự đồng ý của cố vấn học tập

“Lượng tín chỉ yêu cầu ra trường cho mỗi cử nhân được dựa vào quy định riêng của mỗi ngành học và khoa của mỗi trường Chẳng hạn như ở cao đẳng, nếu em học ngành kế toán, em cần 60 units để lấy bằng nghề hoặc chuyển lên đại học Lên đại học ví dụ học thêm 40 units là đủ tiêu chuẩn lấy cứ nhân Như chị học Cinema, phải học đủ 60 units là chuyển lên chuyên ngành Lên đó

họ lại đòi chị học thêm 45 units để ra trường lấy bằng cứ nhân Nhưng nếu em học ngành khó hơn Nó sẽ đòi em học đủ số units cần thiết như biochemistry (Công nghệ sinh hóa), phải thêm 90 units em mới được ra khỏi trường” (Nữ, 22

tuổi, Evergreen Valley University, California)

Mỗi môn học sẽ được thiết kế riêng tùy thuộc vào mức độ khó dễ hoặc phạm trù, đồng thời dựa vào trình độ tiếng Anh của mỗi sinh viên khi nhập học

Trang 22

Thông thường 1 lớp học tương đương với 3 tín chỉ Có lớp 4 hoặc 5 tín chỉ cũng xuất hiện trong thời khóa biểu, tùy thuộc vào môn

“Chẳng hạn như đối với tiếng anh ở các lớp từ thấp tới trung bình được chia làm 2 loại: english và esl Esl (english as second language) chương trình học sẽ dễ hơn English Tuy nhiên tùy vào sức học và kết quả kiểm tra đầu vào, học sinh chỉ cần phải lấy lớp vừa với mình mà không cần học lại từ đầu 1 tín chỉ là physical education, ngắn gọn là thể dục 3 tín chỉ là cho hầu hết các môn

từ xã hội tới khoa học tới tự nhiên 5 tín chỉ cũng thường là mấy môn cần thời gian nghiên cứu nhiều 0.5 là hoạt động lab (phòng thí nghiệm) Viết văn cũng

có lab Các môn Khoa học tự nhiên thì càng phải cần” (Nữ, 22 tuổi, Evergreen

Valley University, California)

Đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần Như vậy, tổng số khối lượng công việc của một tín chỉ là 3 - 4 giờ (kết hợp cả giờ lên lớp và giờ làm việc ngoài lớp học) Nhìn chung, một sinh viên đăng kí

15 tín chỉ cho một kì học sẽ có 15 giờ lên lớp là khoảng 30 - 45 giờ làm việc ngoài lớp

Ưu điểm

Tăng cường tính mềm dẻo và linh hoạt của chương trình, giúp sinh viên không bị mất đi những mảng kiến thức và kỹ năng đã tích lũy nếu như việc học của họ bị gián đoạn

Giúp sinh viên có thể chuyển đổi từ khoá học này sang khoá học khác trong cùng một hệ thống hay khác hệ thống;

Trang 23

Học sinh có thể điều chỉnh thời khóa biểu và số lượng môn học từng kì của bản thân tùy theo điều kiện riêng của từng người Với một số sinh viên chưa

có điều kiện theo học toàn thời gian, họ có thể vừa học vừa làm mà không lo mình không tích lũy đủ số học phần Việc phân chia số tín chỉ cho từng chuyên ngành sẽ phù hợp với các đặc thù riêng của từng ngành

Nhược điểm

Cách thiết kế học phần không phù hợp sẽ làm cho các môn học có số lượng tín chỉ không phù hợp, dẫn đến nội dung và tầm quan trọng của môn học

đó trong khung chương trình đào tạo không được xác định chính xác

Phần lớn các học phần trong học chế tín chỉ được quy định tương đối nhỏ, (3 hoặc 4 tín chỉ) Do vậy, sẽ không đủ thời gian để trình bày kiến thức thực sự

có đầu, đuôi theo một trình tự diễn biến liên tục Từ đó, gây cảm giác kiến thức

bị cắt vụn

2.2 Về thông tin cho sinh viên

Học sinh sẽ được cập nhật thông tin về trường của mình thôi qua 1 buổi riêng mà nhà trường tổ chức cho tân sinh viên sau khi được nhận vào trường và được cung cấp sách hướng dẫn (Catalog, Bulletin, Calendar)

Nội dung của sách hướng dẫn gồm các phần như:

Giới thiệu lịch sử thành lập và phát triển của trường, - sứ mệnh của trường,

Cơ cấu tổ chức của trường, các đơn vị trong trường…

Thông báo những yêu cầu mà người học phải thực hiện để được tốt nghiệp ngành đào tạo: tổng số tín chỉ phải tích luỹ để được tốt nghiệp, tổng số tín chỉ tối thiểu phải tích luỹ từng năm đối với người học toàn thời gian (full - time) và bán thời gian (part - time), số tín chỉ tối thiểu, tối đa được đăng ký học trong từng

Ngày đăng: 21/06/2017, 17:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thomas R. Wolanin, The Student Credit Hour: An International Exploration.Number 122, Summer 2003, Jossey – Bass. SanFrancisco.Danh mục tài liệu tham khảo tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Student Credit Hour: An International Exploration
2. Hoàng Anh, 2012, Luật giáo dục Đại học – Luật Giáo dục, Nhà xuất bản Hồng Đức, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục Đại học – Luật Giáo dục
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2007, Quy chế Đào tạo Đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế Đào tạo Đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
4. Ngô Bảo Châu, Pierre Darriulat, Cao Huy Thuần, Hoàng Tụy, Nguyễn Xuân Xanh, Phạm Xuân Yêm, 2011, Festschrift – Kỷ yếu đại học HUMBOLDT 200 năm (1810 – 2010): Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, Nhà xuất bản Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Festschrift – Kỷ yếu đại học HUMBOLDT 200 năm (1810 – 2010): Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Tri thức
5. Phạm Tất Dong, 2012, Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
6. Nguyễn Kim Dung, 2005, Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.<http://www.ier.edu.vn/content/view/110/161>, truy cập ngày 29/3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam
7. Lê Ngọc Hùng, 2012, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Huỳnh Thanh Tiến, 2011, Học tập theo phương pháp P.O.W.E.R cho sinh viên năm thứ nhất, Bản tin trường Đại học An Giang, số 46, 06/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin trường Đại học An Giang
8. Đặng Thị Thanh Thủy, 2008, Những nét cơ bản về học chế tín chỉ và đào tạo theo học chế tín chỉ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức dạy - XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC: HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ BẬC ĐẠI HỌC Ở MỸ: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Hình th ức dạy (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w