1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Văn hóa truyền thống Việt Nam

32 259 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 68,97 KB
File đính kèm C#5.rar (67 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết với sự nghiên cứu sâu về bản chất và tinh thần của hai tư tưởng tôn giáo là Phật Giáo và Nho Giáo với những mặt tích cực và tiêu cực đối với nền văn hóa Việt Nam. Dành cho giảng viên, sinh viên tham khảo trong nghiên cứu khoa học. Chúc các bạn vui vẻ

Trang 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng thừa nhận rằng: Việt Nam có những truyền thống tốt

và cả những truyền thống xấu Truyền thống tốt là những nét đẹp trong văn hóa dântộc, mặc dù nảy sinh trong quá khứ, nhưng hiện nay vẫn còn phù hợp với chuẩn mựccủa đời sống xã hội và có tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Còntruyền thống xấu là những gì trong di sản văn hoá dân tộc đã trở nên lạc hậu lỗi thời,không còn phù hợp, đã trở thành lực cản cho sự phát triển của dân tộc Truyền thốngtốt và truyền thống xấu - hai mặt đối lập này tồn tại đan xen, chồng chéo, gây nhữngtác động đa chiều, đa diện đến đời sống xã hội Bởi vậy, đối với di sản văn hóa truyềnthống cần phải có sự đánh giá theo quan điểm lịch sử, cụ thể và biện chứng để tránhmột cái nhìn lý tưởng hóa, ca ngợi một chiều, hay ngược lại, là thái độ phủ nhậntruyền thống một cách cực đoan Một cách nhìn biện chứng về văn hóa truyền thống

sẽ cho thấy, cùng một đặc trưng văn hóa nhưng có thể được xem là tích cực hay tiêu

Trang 2

cực tùy thuộc vào từng thời điểm lịch sử, cụ thể, tùy thuộc vào từng góc nhìn khácnhau

Chúng ta tự hào với những giá trị truyền thống của dân tộc đã được kết tinh quahàng ngàn năm lịch sử như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, ýchí tự lực tự cường, đức tính cần cù, sáng tạo, đức tính lạc quan, lòng nhân ái, vịtha Đó là niềm tự hào chính đáng và cần thiết Song cũng từ đây, ở nhiều ngườihình thành thói quen chỉ biết ca tụng một chiều về “truyền thống tinh hoa”, “đạo lýtốt đẹp” để tự huyễn hoặc mình Trước thách thức của công cuộc hội nhập để pháttriển, đã đến lúc chúng ta cần nhận thức về các di sản của truyền thống một cáchkhách quan, toàn diện và thấu đáo hơn Bản lĩnh và sức sống của một dân tộc cũngđược chứng tỏ ngay khi chúng ta dám nhìn thẳng vào sự thật, biết dũng cảm để thừanhận những nhược điểm, khiếm khuyết của mình Bởi “một dân tộc càng mạnh, càngvươn cao về mặt đạo đức, thì nó càng dũng cảm nhìn vào những mặt non yếu vànhững thiếu sót của mình bấy nhiêu Một dân tộc yếu hèn hoặc già cỗi, tàn tạ đếnmức không thể tiến lên được nữa thì chỉ thích ca tụng mình và chúa sợ nhìn vàonhững vết thương của mình, vì nó biết rằng đó là những vết tử thương, rằng thực tạicủa nó không phải là một cái gì phấn khởi, rằng nó chỉ có thể tìm thấy những niềm an

ủi giả dối trong sự đánh lừa mình thôi Một dân tộc vĩ đại, đầy sức sống không nhưvậy được” (Bielinski) Trên tinh thần ấy, GS Trần Quốc Vượng đề nghị “cho phépchính thức vạch ra những mặt bất cập của căn tính và tâm thức tiểu nông Việt Namtrước thách thức của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá”

Hiện nay chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền trên nền tảng của văn hóatruyền thống với sự chi phối của ba yếu tố hạt nhân, đó là: văn hóa nông nghiệp lúanước, Nho giáo và Phật giáo Bầu khí quyển văn hóa đậm đặc chất phương Đông này

đã tồn tại hàng ngàn năm, thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ kinh tế,chính trị, tư tưởng, đến đạo đức, lối sống, thói quen, tâm lý, tình cảm, cách tư duy,ứng xử của nhiều thế hệ cha ông cho đến tận ngày nay, trong đó không chỉ bao gồmnhững phẩm chất tinh hoa mà còn cả những cặn bã cần phải tẩy chay, loại trừ khi nókhông còn phù hợp trong điều kiện mới Do đó, bên cạnh những giá trị tốt đẹp của

Trang 3

truyền thống hiện đang phát huy sức mạnh trong công cuộc hiện đại hóa đất nước thìlại cũng còn đó không ít những căn tính tiểu nông, những nhược điểm của truyềnthống đang di căn sâu sắc trong tâm lý cộng đồng dưới dạng những thói quen, tậpquán, những nếp suy nghĩ, những lề thói làm ăn, những cách ứng xử… Đó chính lànhững trở lực tạo nên sự trì níu nặng nề cho công cuộc xây dựng nhà nước phápquyền ở nước ta hiện nay nói riêng và công cuộc đổi mới để phát triển nói chung Bởivậy, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, không chỉ dừng lại ở việc nhận diện thựctrạng tiêu cực của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay, mà chúng tôi sẽ truy tìm vềđầu mối cuối cùng để chỉ ra căn nguyên sâu xa từ nền tảng văn hóa truyền thống đãchi phối đến sự ứng xử tiêu cực đối với pháp luật của người Việt hiện nay Đó cũng là

cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp có tính nền tảng để có thể từng bước chữa trị

từ gốc cho những căn bệnh xã hội của cả cộng đồng mà xem ra đã đến hồi báo động

2.1 Sự tác động của văn hóa nông nghiệp lúa nước

Chúng ta xây dựng nhà nước pháp quyền trên nền tảng của một xã hội nôngnghiệp cổ truyền với sự chi phối của nhân tố gốc là phương thức sản xuất nôngnghiệp lúa nước, theo đó, thành phần cư dân tuyệt đại bộ phận là nông dân, sinh sốngtrong không gian làng xã Điều kiện đặc thù này đã tồn tại hàng ngàn năm, đã tạo nênnền tảng văn hóa của dân tộc Việt với thói quen, lối sống của cư dânnông nghiệp lúanước, được bảo lưu, làm thành mạch ngầm xuyên suốt chiều dài không gian và thờigian của dân tộc Việt Diện mạo của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước biểu hiện quanhững đặc trưng có tính trội như: tính cộng đồng và ứng xử trọng tình; lối sống tự trịkhép kín và thói quen ứng xử “phép vua thua lệ làng”; tư duy tiểu nông chủ quan,cảm tính và lối ứng xử mềm dẻo, linh hoạt, tùy tiện, …Tất cả đã để lại những dấu ấnsâu sắc trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, đạo đức, tạo nên lối sống, thóiquen, tâm lý, tình cảm, cách tư duy, ứng xử của nhiều thế hệ người Việt Nam Nhữngđặc trưng này của văn hóa truyền thống hàm chứa cả mặt tích cực và tiêu cực trongtác động đối với sự phát triển hiện nay của đất nước, trong đó có văn hóa ứng xử vớipháp luật

2.1.1 Tính cộng đồng

Trang 4

Nói đến văn hóa Việt Nam là nói đến văn hóa làng xã, đó là đơn vị cộng đồngđóng vai trò nền tảng trong tổ chức xã hội Việt Nam truyền thống Do vậy, làng trởthành một không gian văn hóa có vị trí đặc biệt quan trọng, là cái nôi hình thành nênnhững đặc trưng bản sắc của văn hóa truyền thống Việt Nam GS Trần Quốc Vượngkhẳng định: văn hóa Việt Nam cổ truyền, về bản chất là một nền văn hóa xóm làng[59, 71].

Đặc trưng nổi trội của văn hóa làng xã Việt Nam là tính gắn kết cộng đồng vô

cùng bền chặt, được hình thành trên nền tảng của hai mối quan hệ: huyết thống (Một giọt máu đào hơn ao nước lã) và láng giềng (Bán anh em xa mua láng giềng gần).

Nếu phương thức sản xuất gốc của người phương Tây là nghề chăn nuôi du mục, đểrồi từ đó hình thành nên lối sống du cư, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển ýthức cá nhân từ rất sớm, thì trái lại, văn hóa Việt Nam (và phương Đông nói chung)được hình thành trên nền tảng của nghề nông trồng trọt Phương thức sản xuất nàyđòi hỏi cư dân phải ở định cư ổn định, không thích sự di chuyển, đổi thay, là cơ sởhình thành lối sống đề cao tính cộng đồng Thêm nữa, nghề trồng lúa nước phụ thuộcvào điều kiện tự nhiên (hạn hán, lũ lụt), mà để chống chọi với tự nhiên thì một vài cá

nhân hay một gia đình không gánh vác nổi (Lụt thì lút cả làng, đắp đê chống lụt thiếp chàng cùng lo) Do sự chi phối của cuộc sống định cư và phương thức sản xuất khiến

cho người Việt, như một đòi hỏi tự nhiên và tất yếu để sinh tồn, đã hình thành mốigắn kết cộng đồng cao Thêm vào đó, do nằm ở vị trí địa lý có tính chiến lược chonên từ khi lập quốc, dân tộc Việt đã phải đoàn kết tạo nên sức mạnh để đương đầu vớinạn ngoại xâm Đây cũng là một đặc điểm làm gia tăng thêm tính cộng đồng củangười Việt Tính cộng đồng, do vậy, đã in đậm dấu ấn trong tâm lý, tính cách, trongbản sắc văn hóa Việt Nam, chi phối đến đời sống và các quan hệ ứng xử của ngườiViệt xưa và nay với cả hai mặt tích cực và tiêu cực

Không thể phủ nhận mặt tích cực của tính cộng đồng khi nó tạo nên truyền thốngứng xử tốt đẹp của dân tộc ta, đó là tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, là sự gắn

bó, sẻ chia lúc khó khăn hoạn nạn Tuy nhiên, trong bối cảnh quá độ để chuyển sangmột xã hội đô thị và công nghiệp, từ góc nhìn của văn hóa ứng xử với pháp luật, tínhcộng đồng lại là tác nhân gây nên nhiều hệ lụy tiêu cực nhiều hơn là tích cực

Trang 5

Vậy tính cộng đồng như là một đặc trưng nổi trội của văn hóa truyền thống đã cóảnh hưởng như thế nào đến văn hóa ứng xử với pháp luật của người Việt hiện nay?Trước hết, có thể thấy, mặt trái của tính cộng đồng đó là sự phủ nhận, ức chế sựphát triển cá tính, kìm hãm vai trò cá nhân Ý thức về quyền cá nhân vì vậy khôngđược phát triển, thay vào đó là sự phụ thuộc, sự phục tùng của cá nhân vào cộngđồng Có thể nói, trong cuộc đời một người Việt từ nhỏ đến lớn, trước hết và trên hết

là thành viên của cộng đồng (từ cộng đồng nhỏ như gia đình, dòng họ, phe, giáp,phường, hội đến cộng đồng lớn như làng, nước) Chỉ với tư cách thành viên của cộngđồng thì con người mới có giá trị Nói cách khác, thang bậc giá trị, tư cách của mộtcon người chỉ được xác định trong các quan hệ cộng đồng Khi giao lưu với văn hóaTrung Hoa, Nho giáo được tích hợp vào văn hóa Việt Nam lại càng góp phần làm mờnhạt tính cá nhân, củng cố thêm tính cộng đồng và làm sâu sắc thêm ý thức về bổnphận, khiến cho conngười cá nhân chưa bao giờ được coi là thực thể độc lập vớiquyền được khẳng định và phát triển nhân cách, tài năng và chính kiến của mình

Từ góc độ tâm lý, nhiều nhà nghiên cứu nhận xét: người Việt Nam từ khi biết nóicho đến khi trưởng thành rất ít xưng “tôi” Cái tôi của người Việt trong quá khứ chủyếu được gửi gắm, phó thác vào “cái ta” và cái “mọi người”, hòa lẫn trong cộngđồng, tan biến vào các quan hệ xã hội Ý thức về trách nhiệm, bổn phận bị kiểm soátbởi dư luận, kết tinh thành đạo lý, thể hiện thành truyền thống Đó cũng là lý do đểnhà nghiên cứu Phan Ngọc khẳng định: con người Việt Nam là con người “nhân cáchluận”, thực chất cũng là con người của cộng đồng, chứ không phải là con người “cánhân luận” như phương Tây

Chính sự lệ thuộc của cá nhân vào cộng đồng làm cho con người trở nên thụ độngtrong các quan hệ, không dám khẳng định bản lĩnh và nhân cách cá nhân, không dámnhân danh cá nhân để đòi hỏi những quyền lợi chính đáng cho mình

Sự hạn chế phát triển ý thức cá nhân của một lối sống đề cao tính cộng đồng vẫncòn để lại dư vị nặng nề trong xã hội hiện đại và gây khó khăn đáng kể cho việc xâydựng nhà nước pháp quyền, khi mục đích của nhà nước pháp quyền sinh ra để trướchết và trên hết nhằm đảm bảo các quyền và tự do của cá nhân Xây dựng nhà nướcpháp quyền ở Việt Nam vì vậy đã gặp phải lực cản từ những đặc điểm của một nềntảng văn hóa mà ở đó con người bị ràng buộc vào vô vàn các nghĩa vụ, không có chỗ

Trang 6

cho sự khẳng định các quyền cá nhân Đó là nguyên do giải thích vì sao người ViệtNam hiện nay vẫn chưa thực sự tự giác và chủ động trong việc sử dụng các quyền cánhân của mình trong ứng xử với các quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật, mặc dù đãđược hiến pháp và pháp luật qui định

Từ phía nhà nước cũng có thể thấy, các nhà lập pháp của chúng ta hiện nay khihoạch định các chính sách pháp luật ở tầm vĩ mô cũng chưa quan tâm thích đáng đếncác quyền và tự do của cá nhân, mà thường chỉ quan tâm đến lợi ích cộng đồng, sựphụ thuộc của cá nhân vào cộng đồng Điều này được phản ánh qua việc các luậtphục vụ quản lý nhà nước thường được ưu tiên hơn so với các luật liên quan đến lợiích tư nhân Các văn bản pháp luật ghi nhận các quyền của công dân nhưng nhiều khilại thiếu cơ chế thực hiện, khiến cho các quyền lợi hợp pháp của công dân nhiều khi

bị hạn chế bởi chính công quyền Đó là chưa nói đến một thực tế là, các cơ quan côngquyền vẫn chưa từ bỏ được thói quen hách dịch, sách nhiễu công dân, hành xử theokiểu “ban ơn”, khiến cho công dân khi thực hiện các quyền chính đáng của mìnhnhưng lại phải quỵ lụy, khúm núm trước công quyền Bởi vậy, để tạo dựng được thóiquen, ý thức về việc pháp luật phục vụ người dân trong nhà nước pháp quyền thìtrước hết phải tạo những điều kiện để phát triển ý thức cá nhân Một khi ý thức cánhân đã được phát triển thì nhà lập pháp phải hướng các quy định pháp luật về cácquyền tự do của con người, của cá nhân, công dân và đến lượt mình công dân cũngphải chủ động thực hiện các quyền của mình, với tư cách là của mình mà nhà nướcthừa nhận chứ không phải nhà nước ban cho

Cũng chính từ lối sống đề cao tính cộng đồng và hạ thấp vai trò cá nhân là nguyênnhân làm cho con người trở nên thụ động trong các quan hệ, ít dám làm và cũng từ đócũng không dám chịu trách nhiệm trước cộng đồng và người khác, từ đó hình thànhtâm lý và thói quen dựa dẫm, ỉ lại Tâm lý và thói quen ứng xử này được đúc kết và

lưu truyền trong dân gian qua các câu thành ngữ quen thuộc như: Nó lú có chú nó khôn; Sẩy cha có chú, sẩy mẹ bú dì;Con dại cái mang…

Tâm lý dựa dẫm, ỉ lại được nâng lên một bước cao hơn là lợi dụng các mối quan

hệ thân quen, họ hàng để tìm kiếm sự che chở, nâng đỡ, mưu cầu lợi ích cá nhân.Tưtưởng “Một người làm quan, cả họ được nhờ”, “Nhất thân nhì quen tam thần tứ thế”trở thành một thói quen ứng xử rất phổ biến ở thời kỳ phong kiến, trong xã hội truyền

Trang 7

thống Việt Nam Hiện nay, mặc dù quan niệm trên đã bị hạn chế bởi một số điều luật(Luật công chức) nhưng trên thực tế, tư tưởng này vẫn còn tồn tại rất phổ biến trongsuy nghĩ và hành vi của xã hội như một căn bệnh trầm kha Thực trạng “con ông cháucha”, nạn “ô dù”, “chủ nghĩa thân quen”, sự kéo bè kết cánh dựa trên mối quan hệhuyết thống, bà con, đồng hương… tuy không tồn tại một cách chính thống và côngkhai nhưng ai cũng có thể thấy căn bệnh này đã và đang là một vấn nạn xã hội, hàngngày đang âm thầm, âm ỉ tác động tiêu cực, làm suy giảm sức mạnh của hệ thống cơquan công quyền, gây nên nhiều bức xúc trong xã hội

Chính các mối quan hệ “con ông cháu cha”, “gia đình trị”, “thân quen”, “thần thế”này đã góp phần làm vô hiệu hóa pháp luật khi người ta kết bè cánh để thực hiệnnhững hành vi tham nhũng, tiêu cực, thậm chí vi phạm pháp luật ở ngay chính nhữngngười nhân danh bảo vệ và thực thi pháp luật Khi tiêu cực bị phát hiện thì người talại tìm cách che chắn cho nhau vì sợ “rút dây động rừng”, bởi vậy các hành vi saiphạm, tiêu cực không bị tố giác, khôngbị truy cứu trách nhiệm đến nơi đến chốn,không được xử lý nghiêm theo luật pháp, để rồi kết quả cuối cùng cũng chỉ là “hòa cả

làng”.

Tính cộng đồng cũng là căn nguyên sâu xa để lý giải về một thực tế hiện đangdiễn ra rất phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội ta hiện nay Đó là tìnhtrạng ứng xử kiểu “cha chung không ai khóc”, “lắm sãi không ai đóng cửa chùa”,được biểu hiện rất phổ biến trong các hành vi ứng xử hàng ngày, mà biểu hiện cụ thể

là sự thờ ơ, chối bỏ, đùn đẩy trách nhiệm, lãng phí của công

Có thể nói, trách nhiệm cá nhân có một vai trò quan trọng trong việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ pháp luật Tuy nhiên, trong đời sốngpháp luật ở Việt Nam hiện nay, tính chịu trách nhiệm cá nhân xét cả từ hai phía ngườidân và các cơ quan công quyền còn rất thấp, mà nguyên nhân trực tiếp là do chủnghĩa bình quân tập thể của cơ chế cũ để lại, nhưng nguyên nhân sâu xa là do sự cảntrở từ lối sống cộng đồng và các hệ lụy của nó trong văn hóa nông nghiệp truyềnthống

2.1.2 Lối ứng xử nặng tình nhẹ lý

Cuộc sống cộng đồng ở làng xã đã tạo ra sự đoàn kết gắn bó, yêu thương đùm bọclẫn nhau, đó là ngọn nguồn của nếp sống “trọng tình” trong truyền thống ứng xử của

Trang 8

người Việt, đó cũng là một nét nổi trội trong đặc trưng văn hóa truyền thống ViệtNam Cả cuộc đời và qua nhiều đời, người dân quê Việt Nam chỉ làm ăn, sinh sống ởlàng, mọi người hiểu nhau rành rẽ, thân quen, gắn bó với nhau từ tấm bé với hai mối

quan hệ giằng chéo bền chặt là huyết thống (Một giọt máu đào hơn ao nước lã) và láng giềng “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau” Yếu tố duy tình - lối sống giàu tình cảm trọng tình nghĩa là một nét đẹp

trong truyền thống của dân tộc "Vượt lên cả về không gian, thời gian là đặc điểmduy tình, duy nghĩa, duy cảm của con người Việt Nam trong mối quan hệ giữa ngườivới người" (Trần Quốc Vượng) Truyền thống đó tạo ra cuộc sống hoà thuận, lấy tìnhnghĩa làm đầu; tình cảm trở thành thước đo giá trị trong mọi hành vi ứng xử của conngười

Vì quan hệ trong làng như một đại gia đình, ở đó lợi ích của một người gắn với lợiích của cộng đồng, “phúc cùng hưởng, họa cùng chịu” nên khi có điều gì không hayxảy ra người ta không muốn “vạch áo cho người xem lưng” để khỏi “xấu chàng hổai”, từ đó đã hình thành nguyên tắc ứng xử tất yếu là phải che chắn, bảo vệ, “đóngcửa bảo nhau”, “tốt khoe, xấu che”, kể cả việc dung túng cho lỗi lầm Cũng vì sự nểnang, sợ mất lòng nhau nên trong ứng xử người ta coi trọng nguyên tắc “dĩ hoà viquý”, “chín bỏ làm mười”,“một điều nhịn, chín điều lành” Sống trong môi trường

mà tình cảm được coi là tiêu chí, là chuẩn mực ứng xử nên lâu dần hình thành lốisống dễ dàng thỏa hiệp, ứng xử nửa vời, cả nể, ngại va chạm, thiếu tính quyết đoánkiểu “sư nói cũng phải, vãi nói cũng hay”; “tháng ba cũng ừ, tháng tư cũng gật” Khixẩy ra mâu thuẫn thì dễ dàng tha thứ vì “đánh kẻ chạy đi không đánh kẻ chạy lại”.Lối ứng xử trọng tình nhẹ lý trở thành nguyên tắc cơ bản chi phối, điều tiết các mốiquan hệ, khiến cho việc xử sự của con người thường chủ quan, tùy tiện, nặng về cảmtính nên thiếu tính nguyên tắc, được đúc kết và lưu truyền trong dân gian qua các câu

thành ngữ quen thuộc như: “Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình”; “Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”; “Yêu nhau mọi việc chẳng nề, dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”; “Yêu nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau quả bồ hòn cũng méo”…

Trang 9

Việc xử lý các quan hệ theo tình cảm sẽ dẫn đến thiếu tôn trọng tính nguyên tắc,tùy tiện là một điều tất yếu Truyền thống duy tình đã làm cho người ta có thể cónhiều cách ứng xử khác nhau trong cùng một hoàn cảnh, trong khi đó pháp luật lại làchuẩn mực chung để điều tiết các mối quan hệ một cách nghiêm khắc dựa trên tiêuchí khách quan và thống nhất Bởi vậy, người ta dễ dị ứng với pháp luật, chỉ coi phápluật là một giải pháp “cực chẳng đã” Đó là một lý do khiến cho pháp luật bị vô hiệuhóa ngay từ trong suy nghĩ của mỗi cá nhân cho đến hành vi ứng xử phổ biến củacộng đồng trong xã hội Việt Nam truyền thống

Cũng do lối sống nông nghiệp quần cư, khép kín sau lũy tre làng dựa trên các mốiquan hệ thân tộc, láng giềng cùng với nền sản xuất nhỏ tự cung tự cấp khiến cho cácquan hệ xã hội thuần nhất, có tính ổn định cao Các quan hệ ứng xử cũng như cácgiao dịch dân sự chủ yếu dựa trên cơ sở của các chuẩn mực đạo đức, tình cảm và lòngtin mà không cần đến các bằng chứng có tính pháp lý Nếu có mâu thuẫn, tranh chấpvới nhau thì được giải quyết bằng con đường hòa giải hơn là kiện tụng, trên tinh thầnnhường nhịn, cảm thông, “chín bỏ làm mười”, “dĩ hòa vi quí” Xét về mặt tích cực,nguyên tắc ứng xử này giúp bảo vệ các mối quan hệ xã hội thân thuộc, củng cố tínhcộng đồng và tinh thần đoàn kết, ít xảy ra các tranh chấp dân sự, duy trì sự ổn định

của xã hội Tuy nhiên, hệ quả tiêu cực là pháp luật không còn uy lực khi cái lý bị đẩy xuống hàng thứ yếu so với cái tình

Không thể phủ nhận rằng, công lý trước hết và trên hết phải xuất phát từ nền tảng

là lòng yêu thương, cho nên hiển nhiên là cái lý không thể đặt trong thế đối lập vớicái tình Tuy nhiên, trong một xã hội mà nếu cái tình ở vị trí được ưu tiên hơn, thậmchí lấn át cái lý thì pháp luật tất yếu sẽ không được coi là một công cụ quan trọng đểđiều tiết các quan hệ xã hội Lối ứng xử ấy đối lập hoàn toàn với tinh thần "thượngtôn pháp luật", một đòi hỏi tất yếu của xã hội văn minh, hiện đại Nhưng như đã phântích ở trên, trong xã hội Việt Nam cổ truyền, cái truyền thống trọng tình hơn lý đãkhiến cho pháp luật không phải là một cách giải quyết tranh chấp được ưa chuộng.Câu thành ngữ “vô phúc đáo tụng đình” thể hiện thái độ của người dân coi chuyện ratoà là một cái gì đó ghê gớm, làm tổn hại thanh danh và sứt mẻ tình cảm vì “một đờikiện, chín đời thù” Do vậy, các hành vi tố giác tội phạm gần như không diễn ra khi

Trang 10

người ta sợ dư luận hơn cả hình phạt Một khi cái tình được đặt cao hơn cái lý thì nhucầu sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho mình không trở thành một thói quenứng xử phổ biến của người dân từ trong nhận thức cho đến hành vi Đây cũng là mộtnguyên nhân dẫn đến tâm lý thờ ơ, né tránh pháp luật, không xem pháp luật là cáchgiải quyết được ưu tiên, là công cụ bảo vệ quyền lợi cho mình Cho đến ngày nay,người Việt vẫn chưa có thói quen tìm đến pháp luật khi xảy ra các tranh chấp dân sựnhư một hành vi ứng xử phổ biến ở các nước có nền văn hóa pháp luật tích cực.

Trong giai đoạn hiện nay, văn hoá ứng xử "lấy cảm tình làm bản vị" của ngườiViệt đang là một thách đố gay gắt khi đất nước đang bước vào tiến trình hội nhậpquốc tế mà tinh thần "thượng tôn pháp luật" là điểm tựa của việc thực hiện nhữngcam kết quốc tế Ý thức tôn trọng pháp luật và tính chủ động sử dụng pháp luật vớitính cách là yếu tố của văn hoá pháp luật có vai trò cực kỳ quan trọng đối với cơ chếhành vi của các chủ thể, nhưng đây lại là một trong những điểm yếu lớn nhất đượcnhận thấy trong thực tiễn pháp lý ở nước ta hiện nay Bằng chứng là, đối với ngườidân và doanh nghiệp, việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế không cần đếnpháp luật vẫn còn tồn tại ở một bộ phận không nhỏ, bởi số đông người dân vẫn e dèkhi nói đến việc kiện tụng, giải quyết tranh chấp bằng luật pháp Rất ít doanh nghiệp

có luật sư, chuyên viên pháp chế chuyên trách làm công tác pháp lý, dự báo các vấn

đề pháp lý nảy sinh (ngoại trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) Luật sư TrầnĐình Triển, Trưởng Văn phòng Luật sư Vì dân nhận xét: “… giới doanh nhân ViệtNam ít có thói quen sử dụng luật sư Các doanh nghiệp có thói quen vướng đâu thì

“chạy” bằng phong bì, mạnh hơn nhau bằng cái đó, chứ không phải đưa nhau lên trênbàn để giải quyết đúng - sai bằng luật pháp, nên các doanh nghiệp không cần thiếtphải có bộ phận pháp chế để làm cố vấn cho họ Điều này trái ngược hẳn với giớidoanh nhân quốc tế”

2.1.3 Lối sống trọng lệ hơn luật và thói quen ứng xử “phép vua thua lệ làng”

Để lý giải về thói quen ứng xử “phép vua thua lệ làng” mà hiện nay vẫn còn diễn

ra rất phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc trong xã hội, chúng ta phải trở về với căn nguyênsâu xa từ nền tảng văn hóa làng, nguồn gốc nảy sinh lối sống trọng lệ hơn luật

Để phù hợp với phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước, người Việt sốngquần tụ trong không gian làng quê, bao quanh làng là lũy tre và cổng làng, khiến cho

Trang 11

làng nào biết làng ấy Về kinh tế, mỗi làng tồn tại như một đơn vị kinh tế độc lập,khép kín, có khả năng tự túc tự cấp nên không có nhu cầu quan hệ giao thương vớibên ngoài Về tình cảm, các thành viên trong làng đều có quan hệ họ hàng, nên quan

hệ giao lưu tình cảm cũng tự đầy đủ, khép kín trong phạm vi làng Về phong tục, mỗilàng có luật tục (lệ làng, hương ước) riêng Về mặt hành chính, mỗi làng có bộ máyhành chính tự quản, có vai trò và chức năng giải quyết mọi việc trong làng Sự độclập về không gian địa lý, về kinh tế, về bộ máy hành chính, về tình cảm, phong tục đãkhiến cho mỗi làng tồn tại như một “tiểu vương quốc”, độc lập trong quan hệ vớilàng khác và tự quản trong quan hệ với quốc gia Chính từ đây đã hình thành lối sống

tự trị, khép kín, hướng nội như là một đặc trưng tiêu biểu của văn hóa làng Việt Nếunhư tính cộng đồng có chức năng liên kết các thành viên trong cùng một làng (hướngngoại), thì tính tự trị lại xác định sự tồn tại độc lập, khép kín giữa làng này với làngkhác và tính tự quản của làng so với chính quyền trung ương (hướng nội) Tính tự túc

tự cấp của nền kinh tế tiểu nông cùng với bộ máy hành chính tự quản đã khiến cholàng luôn có xu hướng “ly tâm” với chính quyền trung ương

Tính độc lập, tự quản của làng thể hiện ở bộ máy hành chính của mỗi làng có chứcnăng giải quyết mọi việc trong nội bộ làng, trong đó Hội đồng Kỳ mục có chức năngnhư bộ phận lập pháp; Lý dịch có chức năng như bộ phận hành pháp; hương ước -luật tục - lệ làng có vai trò như luật pháp Phong tục, luật lệ làng nào được người dânlàng đó tuân theo, triều đình thường không can thiệp đến

Trong suốt cả ngàn năm xây dựng quốc gia tự chủ, mặc dù các triều đại phongkiến đã xây dựng và thực thi nhiều bộ luật, song bên cạnh đó vẫn duy trì và tôn trọngcác hương ước, lệ làng Hương ước đa số các làng đều khẳng định: “… nước có luậtnước, làng có hương ước riêng…”, hoặc “nhà nước có pháp luật quy định, còn dân cóđiều ước riêng…” Bởi vậy, trong xã hội truyền thống Việt Nam, từ hàng ngàn năm,

luật tục, lệ làng (còn gọi là hương ước hay khoán ước) đã tồn tại song song với luật pháp của nhà nước (Lệ làng / phép nước), là công cụ để duy trì bộ máy tự quản trong

tổ chức cộng đồng làng xã, hương ước được xây dựng trên cơ sở phong tục, tập quán

của làng xã được “qui phạm hoá” dưới hình thức văn bản, được nhà nước thừa nhận

để trở thành qui tắc xử sự chung của mỗi làng,phản ánh tâm lý, phong tục, tập quán,

Trang 12

nếp sống đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cư dân trong làng, tạo nên một áp lực tinhthần bất khả kháng, thành “lệ làng” Vì thế, luật tục – hương ước – lệ làng đã ràngbuộc mỗi thành viên trong làng vào một nề nếp, qui củ, tạo thành nếp sống chung ổn

định trong không gian khép kín của mỗi làng Do đó, hương ước thực chất là một

dạng tồn tại của pháp luật rất đặc thù trong chế độ làng xã tự trị của xã hội Việt Namtruyền thống Tất cả các làng ở Bắc bộ và phần lớn các làng ở Trung bộ đều có hươngước Hiện nay ở Viện Văn hóa dân gian còn lưu giữ khoảng 5.000 bản hương ước.Mỗi bản có khoảng trên dưới 100 điều qui định về các mối quan hệ cơ bản của ngườidân trong cộng đồng làng xã: quan hệ với nhà nước (nghĩa vụ đóng thuế, đi lính);quan hệ cộng đồng (xóm giềng; hôn nhân; gia đình; tang ma;…)

Lệ làng tồn tại song song với “phép nước” và được nhà nước thừa nhận nhưnhững văn bản pháp lý Tuy nhiên, trong khi người dân trong làng ít hiểu về luật phápcủa nhà nướcthì lại rất am hiểu lệ làng và tuân thủ lệ làng một cách nghiêm ngặt,

thậm chí còn coi “Phép vua thua lệ làng”

Vậy vì sao lệ làng lại có hiệu lực hơn luật pháp của nhà nước?

Có thể chỉ ra các lý do sau đây:

1) Trong trường hợp “phép vua” và “lệ làng” thống nhất với nhau thì trong tổ chứclàng xã đặc thù của Việt Nam, với lối sống và tập tục khác nhau, việc quản lý xã hộibằng hương ước, lệ làng có nhiều ưu thế hơn luật pháp, cụ thể là:

a) Hương ước, lệ làng là những điều qui ước trên cơ sở sự thống nhất của cư dântrong làng, gắn với hoàn cảnh, phong tục, tập quán lâu đời và đặc điểm của từng làngnên rất cụ thể, gần gũi, thiết thực, dễ hiểu, dễ thực hiện, phù hợp với lối sống đặc thùcủa mỗi làng Vì vậy lệ làng ăn sâu vào tâm thức của cư dân trong làng, được traotruyền một cách tự nhiên từ gia đình đến dòng họ, từ thế hệ này sang thế hệ khác,được tuân thủ như một quán tính tự nhiên Trong khi đó, pháp luật là sản phẩm chủquan của giai cấp cầm quyền, vừa mang tính áp đặt hành chính từ trên xuống, lại chỉdừng lại ở khuôn khổ pháp lý chung cho cả quốc gia nên không thể áp dụng phù hợpcho mọi nơi, với mọi đối tượng trong hoàn cảnh làng xã Việt Nam tự trị và khép kínvới lối sống và tập tục khác nhau Bởi vậy mặc dù luật pháp về cơ bản là thống nhất

Trang 13

với luật tục, nhưng người dân tìm thấy lợi ích của mình ở các qui tắc cụ thể của làngchứ không phải ở các qui phạm chung của luật pháp nhà nước.

b) Nếu trong văn bản pháp luật thời phong kiến, tất cả các điều khoản đều gắn vớiqui định về mức hình phạt cụ thể, phần nhiều là những hình phạt nặng nề, tàn khốc,xâm phạm thô bạo, thậm chí là dã man đến thân thể người phạm luật (như đánh roi,đánh gậy, chém, thắt cổ, thích chữ vào mặt, chặt chân tay…) thì ở hương ước, lệ lànglại thể hiện tinh thần khoan dung, độ lượng Bằng chứng là, trong nhiều trường hợpkhông ghi mức hình phạt cụ thể đối với người vi phạm, mà thay vào đó là những lờikhuyên răn chung chung, nặng về răn đe, khuyến cáo, khuyên răn, khuyến thiện Cáchình phạt được qui định phổ biến là phạt tiền, đánh roi, truất ngôi thứ, tẩy chay cácsinh hoạt cộng đồng, hạ uy tín nhằm đánh vào danh dự, sĩ diện của cá nhân và dòng

họ, hoặc hình phạt cao nhất là đuổi khỏi làng Đó là sự hoá giải một cách uyểnchuyển tính chất khô cứng, lạnh lùng, hà khắc, đôi khi là tàn bạo của luật pháp nhànước

Vì người dân nhìn thấy ở lệ làng khả năng bảo vệ mình, còn luật nước thì đối lậpvới mình cho nên, trong con mắt của người dân, lệ làng được trọng hơn luật nước.Trong khi lệ làng được người dân tự giác tuân thủ thì “phép vua” muốn vào đượclàng phải chịu sự “khúc xạ”, do vậy chỉ còn là những hình bóng mờ nhạt, hiệu lựccủa nó cũng từ đó mà bị giảm đi rất nhiều

c) Ngoài ra, một lý do nữa khiến cho người dân trong khi hiểu rất rõ về lệ làng thìlại ít có điều kiện để tiếp cận với luật pháp, do điều kiện ngày xưa giao thông đi lạikhó khăn, chủ yếu là đi ngựa hay chạy bộ nên các chiếu chỉ do nhà vua ban ra để đếnvới người dân cũng phải mất một thời gian khá dài Trong khi đó phương tiện thôngtin lại rất hạn chế, khó có điều kiện để phổ biến, tuyên truyền rộng rãi cho dân chúng.Thêm nữa, do mặt bằng dân trí rất thấp, phần lớn là mù chữ, vì vậy người dân không

có điều kiện tiếp cận trực tiếp các văn bản pháp luật của nhà nước mà phải qua cáckhâu trung gian nên khó tránh khỏi “tam sao thất bản” Tình trạng dân thiếu hiểu biết

về pháp luật, “mù luật”, do đó, là hiện tượng phổ biến trong xã hội phong kiến ViệtNam

2) Về nguyên tắc, “phép vua” và “lệ làng” không chỉ thống nhất mà còn mâuthuẫn nhau, bởi lẽ, luật nước luôn có thiên hướng khẳng định sự quản lý (cai trị) có

Trang 14

tính tập trung, thống nhất, hạn chế quyền tự chủ của làng xã Ngược lại, hương ước

có xu hướng xác lập và củng cố quyền tự chủ, tự quản cộng đồng Do vậy, về phươngdiện hình thức, hương ước luôn được quan niệm là sự biểu hiện quyền “tự trị” củacác làng xã cổ truyền Việt Nam Luật nước có xu hướng xác lập sự thống nhất củakhông gian pháp lý trong phạm vi toàn quốc gia Hương ước, lệ làng lại làm gia tăngtính khép kín đối của cuộc sống các làng xã, tạo ra sự chia cắt không gian pháp lýgiữa nước với làng, giữa các làng với nhau Bởi vậy, nếu quy định nào của luật nước

mà xâm hại đến lợi ích cục bộ của làng xã, đặc biệt xâm hại đến các lợi ích của cácthế lực chức sắc địa phương thì thường bị vô hiệu hoá và không được tuân thủ [Xem:62]

Như vậy, có thể thấy rằng luật pháp và hương ước, lệ làng “là hai mặt của một thểchế chính trị pháp lý lưỡng tính phản ánh mối tương quan của sự thống nhất quốc gia

và quyền tự quản của các cộng đồng, làm quân bình sự phát triển của mọi mặt củađời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi một đơn vị làng xã và của cả quốcgia”, trong đó, “hương ước, lệ làng là môi trường văn hoá pháp lý đặc thù vừa để pháthuy hiệu lực của luật nước và vừa hạn chế luật nước trong mối quan hệ bảo lưu cácnét đặc trưng của lối sống cộng đồng ở một quốc gia nông nghiệp” [62]

Tóm lại, trong cả hai trường hợp, dù mâu thuẫn hay thống nhất đều có những căn

cứ cho thấy, hương ước, lệ làng là một công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ cộngđồng và quản lý làng xã có hiệu lực hơn luật nước.Với tất cả những thế mạnh ấy, sựhiện diện của hương ước đã làm mờ nhạt vai trò, thậm chí làm cản trở khả năng điềuchỉnh của luật nước Trong tổ chức làng xã Việt Nam truyền thống, hương ước, lệlàng về cơ bản là một hiện tượng văn hoá độc đáo với rất nhiều các giá trị tích cực đãgóp phần giữ gìn kỷ cương, trật tự xã hội, thuần phong, mỹ tục với các quy địnhmang tính cách đặc thù của mỗi địa phương Với luật lệ riêng, làng xã Việt Nam đãtồn tại như một vương quốc thu nhỏ với sự cố kết rất bền vững Hương ước chính là

hệ thống giá trị chuẩn mực của làng xã, nó quy định cung cách ứng xử, lối sống của

cá nhân trong làng, tạo nên sự đồng nhất, mà trước hết là từ trong mỗi dòng họ Tuy nhiên, việc quản lý xã hội bằng hương ước, lệ làng đã dẫn đến hệ quả là, cưdân nông thôn đã từ bao đời quen sống với luật tục mà không quen sống theo luậtpháp Trong tâm thức người dân, phép nước là những gì còn xa lạ trong khi hằng

Trang 15

ngày, hằng giờ họ chỉ đối mặt với lệ làng, với những bổn phận mà lệ làng đặt ra cho

họ Dần dần điều này tạo ra tâm lý trọng lệ hơn luật Trong cái không gian khép kíncủa làng quê với đầy rẫy các quy tắc về hệ thống đẳng cấp, ngôi thứ trong làng, vềcác hủ tục cưới xin, ma chay, khao vọng, hội hè… đã được giới chức dịch trong lànglợi dụng để trói buộc người nông dân vào vô số các nghĩa vụ, trách nhiệm, cấm đoán

và hạn chế, tạo nên một lối sống chỉ theo lệ làng, coi thường luật nước theo đúng ýnghĩa “phép vua thua lệ làng”

Bên cạnh đó, lệ làng chứa đựng không ít các quy tắc mang tính tiêu cực thể hiện

tư tưởng cục bộ địa phương như “Nhập gia tùy tục”, “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”, “Ta về

ta tắm ao ta…”,… sức mạnh của lệ làng cùng với tính chất tư hữu cá nhân của nềnsản xuất nhỏ đã dẫn đến tư duy, lối sống nặng về vun vén cá nhân thực dụng, thiểncận, kiểu “Đèn nhà ai nấy rạng”, “Ăn cây nào rào cây ấy”, “Ở đình nào chúc đìnhấy”, “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”, ít quan tâm đến lợiích của người khác, làng khác, và lại càng không quan tâm đến lợi ích đại cục ở tầmquốc gia Các thói quen cổ hủ này thẩm thấu vào chiều sâu của tư duy và ứng xử,được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một chuẩn mực đã trở thành

“thâm căn cố đế” Tính cục bộ của văn hóa tiểu nông khiến cho con người thiếu ýthức xã hội, chỉ quan tâm tới những gì liên quan trực tiếp đến lợi ích thiển cận củamình “ăn cây nào, rào cây ấy’; “đèn nhà ai nấy rạng”; “của mình thì giữ bo bo, củangười thì để cho bò nó ăn” Vì vậy, nó là thủ phạm của sự thờ ơ với lợi ích cộngđồng, cũng là nguyên nhân của tính đố kỵ, tham lam, bè nhóm, cục bộ, của kiểu tưduy tiểu nông manh mún, nhỏ lẻ, không có tầm nhìn xa mang tính chiến lược

Trên đây chúng tôi đã lý giải những nguyên nhân tạo nên lối sống trọng lệ hơnluật và thói quen không tuân thủ luật pháp của người Việt truyền thống mà những dihại của nó để lại cho hôm nay còn vô cùng nặng nề Biểu hiện rõ nhất của tư duy

“Phép vua thua lệ làng”, của lối sống trọng lệ hơn luật hiện nay đó là tư tưởng cục bộđịa phương, là hiện tượng bè phái, cấu kết, bao che để bênh vực, bảo vệ quyền lợicho nhau; đó là tư tưởng chỉ vì lợi ích cục bộ của cái cộng đồng nhỏ mà không quantâm đến lợi ích của số đông, của quốc gia Những tư tưởng và hành vi ứng xử nàyđang tồn tại rất phổ biến trong xã hội ta, mà biểu hiện cụ thể là:

Trang 16

a) Nếu ngày xưa coi trọng lệ làng hơn phép nước thì ngày nay hiện tượng “trênbảo dưới không nghe”, những hành vi ứng xử coi thường pháp luật, bất chấp phápluật vẫn đang diễn ra vô cùng phổ biến trong xã hội ta với rất nhiều những hình thứcbiểu hiện khác nhau, không chỉ từ phía người dân mà cả các cơ quan công quyền.Trong thực tế, nhiều cơ quan nhà nước tự đặt ra các qui tắc riêng, trên danh nghĩa là

cụ thể hóa pháp luật nhưng về thực chất là ngược lại với tinh thần của pháp luật, hoặc

vi phạm pháp luật, gây khó khăn cho công dân trong việc thực hiện các quyền và lợiích hợp pháp của mình PGS TS Nguyễn Đăng Dung gọi đó là “lệ làng thời hiện đại”[xem: 12]

b) Việc tuyển chọn và bố trí nhân sự trong bộ máy công quyền còn theo “chủnghĩa thân quen”, còn nặng tư tưởng “con ông cháu cha”, “Một người làm quan cả họđược nhờ” [xem: 13] Ảnh hưởng của tư tưởng cục bộ, hẹp hòi, bè phái, của “chủnghĩa thân quen” thể hiện rõ nhất trong các quan hệ quyền lực Sự kéo bè, kéo cánh,đưa anh em dòng họ và những người thân quen vào cơ quan nhà nước; lập bè phái,phe nhóm ở địa phương là những biểu hiện của tư duy cục bộ, hẹp hòi, vì lợi íchphe nhóm mà làm suy giảm sức mạnh của bộ máy công quyền, làm hạn chế vai tròcủa pháp luật, làm ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích chung vì sự phát triển của xãhội, của đất nước

Nếu trong nền sản xuất nhỏ tự cung tự cấp, tư tưởng này hình thành như là một sựthích nghi tối ưu và tất yếu thì ngày nay, khi đất nước bước vào quá trình hội nhập,chuyển sang một xã hội đô thị và công nghiệp thì những lối sống, thói quen tư duy ấycủa truyền thống đã không còn thích hợp Không những không còn thích hợp, nó cònnhư những tảng đá lớn đang cản đường đi lên của dân tộc và là nguyên nhân củanhững hành vi ứng xử tiêu cực Bởi vậy, để hội nhập và phát triển cần phải thoát rakhỏi những hạn chế của văn hoá làng xã trên tinh thần “gạn đục khơi trong”

2.1.4 Tư duy tiểu nông tùy tiện, chủ quan, cảm tính

Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, cho đến nay, về cơ bản, Việt Namvẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, đó cũngchính là cơ sở hình thành tư duy sản xuất nhỏ của người Việt Nam Cuộc sống nôngnghiệp ở định cư đã đặt con người trong nhiều mối quan hệ phải ứng xử, từ tự nhiênđến xã hội Công việc sản xuất nông nghiệp lúa nước phụ thuộc cùng lúc vào nhiều

Ngày đăng: 21/06/2017, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w