Sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu ngữ pháp có vai trò quan trọng trong việc tổ chức hoạt động tạo lập và lĩnh hội ngôn bản, hướng dẫn học sinh nghe, nói, đọc, viết. Bên cạnh đó, ngữ pháp là một yếu tố quan trọng góp phần phát triển năng lực trí tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho học sinh tiểu học. Vai trò của ngữ pháp trong hệ thống ngôn ngữ đã quy định tầm quan trọng của dạy ngữ pháp ở tiểu học. Ngữ pháp trang bị cho học sinh một hệ thống khái niệm, sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và quy luật hành chức của nó. Vì vậy, ngay từ khi bắt đầu học tiểu học, học sinh đã làm quen với ngữ pháp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
AN THANH NGỮ
SỬA LỖI CÂU VỀ MẶT CẤU TẠO NGỮ PHÁP CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
TS KHUẤT THỊ LAN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu khóa luận này, tôi gặp rất nhiều
khó khăn và bỡ ngỡ Nhưng với sự giúp tận tình của TS.Khuất Thị Lan tôi
đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận này.Tôi xin chân thành cảm
ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cô!
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học và các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cùng các thầy cô, tập thể lớp 4A, 4B, 4C, 4D trường Tiểu học Minh Lương,
xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2017
SINH VIÊN
An Thanh Ngữ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài: “Sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho
học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu ” là kết quả nghiên cứu của
riêng tôi không trùng với đề tài của một tác giả nào Các số liệu của kết quả hoàn toàn trung thực.
Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2017
SINH VIÊN
An Thanh Ngữ
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt có 7 phân môn như: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện giúp học sinh hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) trong học tập và trong giao tiếp mọi lứa tuổi Giáo viên dạy phân môn Luyện
từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh nhữngkiến thức sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh
kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nói của người khác
Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em Câu là đơn vị nhỏ nhất thực hiện chức năng giao tiếp, trong giao tiếp việc việc sử dụng câu được coi
là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Do vậy, việc rèn luyện kỹ năng viết câu và
sử dụng câu cho học sinh là hết sức quan trọng nhưng học sinh phải viết đúng cấu trúc ngữ pháp mới là điều quan trọng
Trong dạy học tiểu học, ngữ pháp có vai trò quan trọng trong việc tổ chức hoạt động tạo lập và lĩnh hội ngôn bản, hướng dẫn học sinh nghe, nói, đọc, viết Bên cạnh đó, ngữ pháp là một yếu tố quan trọng góp phần phát triển năng lực trí tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho học sinh tiểu học Vai trò của ngữ pháp trong hệ thống ngôn ngữ đã quy định tầm quan trọng của dạy ngữ pháp ở tiểu học Ngữ pháp trang bị cho học sinh một hệ thống khái niệm, sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và quy luật hành chức của nó Vì vậy, ngay từ khi bắt đầu học tiểu học, học sinh đã làm quen với ngữ pháp Ở tiểu học, ngữ pháp được dạy trong tất cả các phân môn tiếng Việt, ở đâu có dạy tiếp nhận và sản sinh lời nói thì ở đó có dạy ngữ pháp Ngoài ra, ngữ pháp còn được dạy trực tiếp, độc lập ở phân môn Luyện từ và câu
Trang 7Chương trình ngữ pháp ở tiểu học đã lấy câu làm trung tâm dạy học Học sinh tiểu học được cung cấp những kiến thức ngữ pháp cơ bản, cần thiết, vừa sức với các em như: Khái niệm về câu, kiến thức về cấu tạo ngữ pháp của câu, các thành phần câu, kỹ năng phân tích thành phần câu, kiến thức và kỹ năng phân loại, viết các kiểu câu theo cấu tạo; Kiến thức về dấu câu, kỹ năng dùng dấu câu trên cơ sở ngữ pháp, học sinh nắm được các quy tắc chính tả, dấu câu, liên kết câu, nắm chuẩn văn hoá lời nói.
Như vậy, dạy ngữ pháp ở tiểu học là giúp cho học sinh nhận diện, phân loại các đơn vị ngữ pháp, nắm các quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị này trong hoạt động giao tiếp của mình Tuy nhiên hiện nay có nhiều nguyên nhân, học sinh tiểu học nắm kiến thức ngữ pháp còn chưa chắc nên trong quá trình nói, viết còn mắc nhiều lỗi về ngữ pháp như: Các lỗi về dùng từ, các lỗi
về câu, các lỗi về liên kết câu và các lỗi về phong cách nếu không nói đúng, viết đúng thì không thể nói hay viết hay Do vậy, việc phát hiện và chữa các lỗi về ngữ pháp cho học sinh là vô cùng cần thiết
Vậy việc học sinh tiểu học mắc các lỗi về cấu tạo ngữ pháp là do đâu?
Do hạn chế của chương trình và sách giáo khoa, do trình độ của giáo viên hay
do những khó khăn đặc trưng khi dạy ngữ pháp? Đây là câu hỏi đặt ra khiến các nhà chuyên môn cũng như các giáo viên trực tiếp đứng lớp luôn phải trăn trở tìm câu trả lời
Trang 8Qua việc nghiên cứu, điều tra thực tế học ngữ pháp học sinh tiểu học
mà đối tượng là học sinh lớp 4, chúng tôi nhận thấy khả năng nắm bắt kiến thức ngữ pháp cũng như trong thực hành luyện tập của học sinh còn thấp Có thể nói trong các bài của học sinh, các lỗi về cấu tạo ngữ pháp còn xuất hiện rất nhiều và vô cùng đa dạng Chính vì thế, chúng tôi chọn vấn đề: “Sửa lỗi
câu về mặt cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu”.Chúng tôi mong muốn thông qua việc nghiên cứu đề tài góp phần tìm ra
nguyên nhân và biện pháp khắc phục các lỗi câu sai về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 để nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề ngữ pháp tiếng Việt và các lỗi ngữ pháp đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm Từ đầu thế kỷ XX đã có rất nhiều quan điểm về nghiên cứu lỗi ngữ pháp ở các bình diện và khía cạnh khác nhau Theo điều tra ban đầu, hiện nay ở Việt Nam có các công trình nghiên cứu về lỗi ngữ pháp của học sinh tiêu biểu như sau:
Nguyễn Xuân Khoa (1975), “Lỗi ngữ pháp của học sinh - nguyên nhân
và cách chữa”, Ngôn ngữ số 1 – 1975 đã đưa ra các lỗi ngữ pháp cơ bản của
học sinh và cách chữa
Tác giả Nguyễn Minh Thuyết chủ biên và Nguyễn Văn Hiệp trong
cuốn “Tiếng Việt thực hành” NXB ĐH Quốc gia Hà Nội đã đưa ra một số lỗi
câu sai và chữa lại cho phù hợp với văn bản và phong cách giao tiếp Các lỗi đưa ra rất cơ bản chưa cụ thể và vấn đề này xem xét trên diện rộng chưa thật phù hợp với bậc Tiểu học
Trang 9Tác giả Lê Phương Nga - Đặng Kim Nga trong cuốn “Phương pháp
dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” cũng đề cập đến việc dạy cho học sinh biết
cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu phù hợp với hoàn cảnh mục đích giao tiếp nhưng chưa đề cập đến lỗi đặt câu và cách khắc phục
Tác giả Lê Phương Nga trong cuốn “Dạy học Ngữ pháp ở Tiểu học”
NXB Giáo dục (năm 1988) đã nêu ra các loại lỗi câu mà học sinh Tiểu học thường mắc phải và đưa ra cách chữa Có thể nói tác giả đã viết rất chi tiết và đầy đủ về lỗi câu mà học sinh mắc phải Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào một phân môn cụ thể ở Tiểu học
Trong cuốn “Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục” năm 2002 NXB Khoa
học xã hội do tác giả Cao Xuân Hạo (Chủ biên) đã viết rất rõ các lỗi về câu và cách khắc phục Tuy nhiên, tác giả chỉ khảo sát các lỗi câu trên phương tiện truyền thông ở thành phố Hồ Chí Minh chưa thật phù hợp với bậc Tiểu học
Vấn đề về lỗi câu ở Tiểu học cũng được đưa ra trong các bài tập nghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp
Trong khóa luận “Tìm hiểu kỹ năng viết câu của học sinh lớp 4” của
Đặng Thị Thu Hà đã nêu ra các loại lỗi câu mà học sinh mắc phải và cách chữa Các loại lỗi này tập trung nghiên cứu trong phạm vi lớp 4
Trong khóa luận “Khảo sát lỗi câu của học sinh Tiểu học” của Nguyễn Thị Kim Huệ đã khảo sát, phân loại các lỗi câu và cách chữa Tuy nhiên
những lỗi này còn chung chung chưa ở một phân môn cụ thể
Trong khóa luận “Các biện pháp sửa lỗi dùng từ, đặt câu trong bài
Tập làm văn của học sinh lớp 4,5” của Đào Thị Thanh đã đưa ra các loại lỗi
câu rất cụ thể nhưng chỉ ở phân môn tập làm văn
Trang 10Như vậy, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu chỉ riêng lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh tiểu học Đây cũng chính là một trong những lí do
cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài“Sửa lỗi câu về mặt cấu tạo ngữ pháp cho
học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu” Trên cở sở tìm và phân loại
được các lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp, nguyên nhân và biện pháp khắc phục cho học sinh cho học sinh lớp 4, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Luyện từ và câu trong môn tiếng Việt ở Tiểu học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân
môn Luyện từ và câu”, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối tượng học sinh lớp
4, bởi ở giai đoạn này học sinh mới được trang bị những kiến thức ngữ pháp
cơ bản Do vậy, chúng tôi mới có cơ sở để tìm hiểu, đánh giá lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh khối lớp 4
Công việc điều tra sẽ được tiến hành tại trường Tiểu học Minh Lương
xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đây là một trường miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Văn Bàn Việc điều tra như thế này sẽ cho kết quả toàn diện hơn về tình hình học tập của học sinh khi học phân môn Luyện
từ và câu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu “Sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp của học sinh lớp 4 qua
phân môn Luyện từ và câu” là một vấn đề tương đối phức tạp Với khuôn khổ
của một khóa luận tốt nghiệp chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các loại lỗi
về cấu tạo ngữ pháp (không đề cập tới các loại lỗi về nghĩa, lỗi dấu câu)
Việc khảo sát tình hình mắc lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh được chỉ được tiến hành ở trường Tiểu học Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai , không tiến hành ở các trường,huyện, tỉnh khác
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 114.1 Mục đích
Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm hai mục đích sau:
- Phát hiện các loại lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 4
- Đề xuất các biện pháp khắc phục các lỗi về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh
Trên cơ sở đó, chúng tôi hy vọng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Luyện từ và câu nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, khóa luận phải thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Trình bày khái quát những vấn đề lí luận liên quan đến cấu tạo ngữ pháp tiếng Việt được dạy ở tiểu học, đặc biệt là những phần kiến thức ngữ pháp học sinh hay mắc lỗi
- Hệ thống lại những kiến thức ngữ pháp được dạy và học ở tiểu học trong chương trình, SGK tiếng Việt lớp 4
- Khảo sát tình hình thực tế việc nắm kiến thức ngữ pháp của học sinh thuộc trường tiểu học Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai để làm cơ
sở cho việc nghiên cứu
- Phát hiện và hệ thống hoá các lỗi về cấu tạo ngữ pháp mà học sinh lớp
4 thường hay mắc hiện nay
- Đề xuất những biện pháp khắc phục lỗi về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 nói riêng nhằm nâng cao chất lượng dạy - học ngữ pháp ở tiểu học nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề của đề tài một cách có cơ sở, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tổng hợp lí luận
Trang 12Nghiên cứu tài liệu, giáo trình, công trình nghiên cứu, sách báo về ngữ pháp tiếng Việt và phương pháp dạy học tiếng Việt, chương trình, SGK tiếng Việt lớp 4, sách giáo viên tiếng Việt lớp 4 , lí luận dạy học tiểu học
5.2 Phương pháp phân tích
Từ những tài liệu đã thu thập được, chúng tôi vận dụng phương pháp phân tích nhằm làm rõ các lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh lớp 4 để đề ra những biện pháp khắc phục hợp lí
5.3 Phương pháp khảo sát, thống kê
- Khảo sát việc nắm kiến thức ngữ pháp cũng như kỹ năng thực hành ngữ pháp học sinh
- Thống kê, phân loại, nhận xét kết quả, trên cơ sở đó xây dựng các biện pháp nhằm khắc phục lỗi về cấu ngữ pháp của học sinh
- Tiếp xúc trao đổi với những giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy để tìm hiểu các biện pháp, giải pháp mà họ đã sử dụng trong quá trình dạy học nhằm giúp học sinh khắc phục lỗi về cấu tạo ngữ pháp
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp
4 qua phân môn Luyện từ và câu
Chương 3: Biện pháp khắc phục sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu
Trang 13CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái quát về câu tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm câu tiếng Việt
Có rất nhiều quan điểm về câu trong tiếng Việt Sau đây là một vài định nghĩa câu của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ:
Từ thế kỷ III trước công nguyên, học phái ngữ pháp Alêcxangđria đã
nêu định nghĩa:“Câu là sự tổng hợp của các từ, biểu thị một tư tưởng tương
đối trọn vẹn” [ 9, 9].
Tác giả Nguyễn Thị Hiền Lương cũng đưa ra định nghĩa về câu:
“Câu là một đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng để biểu thị sự tình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực hiện một hành động nói” [ 9, 16].
Tác giả Hoàng Trọng Phiến cũng đưa ra định nghĩa về câu: “Câu là
đơn vị ngữ pháp có cấu tạo ngữ pháp (bên trong, bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn có kèm theo thái độ của người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo ngôn ngữ nhỏ nhất” [8].
Tác giả Diệp Quang Ban đưa ra định nghĩa về câu như sau: “Câu là
đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có câu tạo ngữ pháp ( bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt
tư tưởng tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [5, 107].
Trang 14Trong khóa luận này chúng tôi thống nhất chọn định nghĩa về câu của
Diệp Quang Ban rất cụ thể, ngắn gọn nhưng mang tính khái quát cao: “Câu là
đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp ( bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nó, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [ 5, 107].
1.1.2 Các thành phần câu tiếng Việt
Câu của Tiếng Việt có thể chia ra các thành phần như sau: Thành phần chính (hay còn gọi là thành phần nòng cốt của câu) và thành phần phụ của câu
1.1.2.1 Thành phần chính
a Chủ ngữ
a1 Khái niệm
Chủ ngữ là thành phần chính, thành phần quan trọng trong câu nên từ năm 1960 trở lại đây, chủ ngữ được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên
cứu Theo Diệp Quang Ban (2000): “Chủ ngữ là thành phần câu có quan hệ
qua lại và qui định lẫn nhau với thành phần vị ngữ, chủ ngữ nêu ra vật, hiện tượng nằm trong mối quan hệ chặt chẽ và trực tiếp với đặc trưng (động, tĩnh, tính chất) và quan hệ sẽ được nói đến trong vị ngữ” [5, 39- 40].
Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004) khẳng định:“Chủ ngữ
là bộ phận của nòng cốt câu biểu thị chủ thể ngữ pháp của vị ngữ, tạo ra cùng vị ngữ một kết cấu có khả năng nguyên nhân hoá” [38, 153].
a2 Những đặc trưng cơ bản của chủ ngữ
- Vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của chủ ngữ trong câu
Trang 15Hiện nay, mọi người đều thừa nhận chủ ngữ là một trong hai thành phần chính của câu, song hành cùng vị ngữ tạo nên ṇng cốt câu Chủ ngữ là thành phần nêu lên chủ thể như người, vật, sự vật, sự việc, có đặc trưng được miêu tả hoặc nhận xét ở vị ngữ [13, 131], [28, 24] Các tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2001) đã trình bày khá đầy đủ và hoàn chỉnh về vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của chủ ngữ.
- Vị trí của chủ ngữ trong câu
Chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ theo trật tự C-V (“vị trí thuận của chủ ngữ” [32, 187]) Tuy nhiên, chủ ngữ có khả năng đứng sau vị ngữ (“vị trí nghịch của chủ ngữ” [32, 187]) trong một số trường hợp nhất định và gắn với những điều kịên nhất định Đó là những trường hợp người nói muốn nhấn mạnh vị ngữ để người nghe chú ý [22, 26]; là khi câu mang rõ màu sắc biểu
cảm [19, 60]; chủ ngữ trong các câu có hệ từ là chuyển theo qui tắc riêng: chỉ ở
những câu đồng nhất tuyệt đối, chủ ngữ mới có thể chuyển ra sau vị ngữ, còn trong các câu không có hệ từ, bất cứ một chủ ngữ thể từ nào cũng có thể chuyển
ra sau vị ngữ nhờ có chỉ tố phân đoạn thực từ thực tại “là” [19, 187-188].
- Cấu tạo của chủ ngữ
+ Về mặt từ loại: Chủ ngữ thường được biểu hiện bằng danh từ và đại
từ nhân xưng Ngoài ra, động từ, tính từ, số từ cũng có thể làm chủ ngữ
+ Về cấu tạo: Chủ ngữ thường được cấu tạo từ một từ, một cụm từ chính phụ, một cụm từ đẳng lập hoặc một cụm chủ vị Ngoài ra, nó còn có một số kiểu cấu trúc khác
Ví dụ: Trước mặt là một con đường.
Trong ví dụ trên, chủ ngữ được cấu tạo từ QHT + DT Đây là một giới ngữ.Tóm lại, sau khi tổng kết các quan điểm của các nhà ngữ pháp học, theo chúng tôi, chủ ngữ có thể được hiểu như sau:
Trang 16- Về khái niệm: Chủ ngữ là thành phần chính của câu thể hiện đối tượng
được thông báo trong câu, cùng với vị ngữ tạo thành nòng cốt câu
- Về vị trí: Chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ theo trật tự C - V nhưng khi cần nhấn mạnh nội dung thông báo hay biểu thị tình cảm, cảm xúc,
người ta có thể đặt vị ngữ trước chủ ngữ
- Về cách xác định chủ ngữ: Chủ ngữ có thể được xác định bằng cách
xác định nòng cốt câu, xác định thành phần chính của câu( sử dụng phép lược câu, tìm thành phần cấu tạo tối thiểu của câu), cuối cùng tìm những từ, ngữ nêu đối tượng thông báo của câu
- Về cấu tạo của chủ ngữ: Chủ ngữ có thể được làm từ một từ, một cụm
từ (cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập, cụm từ cố định), một cụm C - V hay một giới ngữ
Vị ngữ là bộ phận nòng cốt của câu có thể chen thêm phó từ chỉ thời - thể vào phía trước, và trong trường hợp bộ phận này gồm hơn một từ thì vị ngữ là từ chính của bộ phận ấy [32, 188]
b2 Những đặc trưng cơ bản của vị ngữ
- Vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của vị ngữ trong câu
Trang 17Vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu, cùng với chủ ngữ tạo nên nòng cốt câu Vị ngữ là thành phần câu có mối quan hệ qua lại và qui định lẫn nhau với thành phần chủ ngữ; nó thường báo rõ hành động, trạng thái, tính chất của đối tượng được đề cập tới trong chủ ngữ Vị ngữ thường trả
lời câu hỏi Làm gì? Thế nào? Là gì? [22, 27], [24, 150].
Vị ngữ có tác dụng đến toàn câu [23, 115]; vị ngữ biểu thị tính vị thể, miêu tả đặc trưng của sự vật được nói đến ở chủ ngữ [12, 148]
Về mặt ngữ pháp, vị ngữ là thành phần chịu sự chi phối của chủ ngữ;
về mặt thông báo, vị ngữ là thành phần thông báo về chủ ngữ, tính thông báo thể hiện chủ yếu ở vị ngữ; trong tương quan với chủ ngữ, vị ngữ thường là
“cái mới” - cái chưa biết - do đó phần này ít khi bị rút gọn [28, 185]
Vị ngữ có quan hệ chặt chẽ, trực tiếp và phù hợp với chủ ngữ, kết hợp với chủ ngữ để tạo thành cấu trúc ngữ pháp cơ bản biểu thị nội dung mệnh đề [30, 69]; vị ngữ là thành phần dùng một thứ từ ngữ khác để thuật thuyết cái
“thế nào” của chủ ngữ [17, 178]
Vị ngữ là bộ phận quan trọng nhất trong câu song phần, nó là trung tâm
tổ chức của câu, không thể lược bỏ khi câu tách khỏi ngữ cảnh [29, 181], [23, 115], [31, 69] Vị ngữ đóng vai trò chủ yếu và là hạt nhân của câu [32, 190]
- Vị trí của vị ngữ trong câu
Vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ theo trật tự C - V Tuy nhiên, vị ngữ cũng có thể đứng trước chủ ngữ (trường hợp ngoại lệ) thuộc mặt dụng pháp [38,185] Việc đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ sẽ tạo nên một trật tự không bình thường nhằm đạt hiệu quả tu từ, biểu cảm [31, 70]
- Cấu tạo của vị ngữ
Về mặt từ loại: Phần lớn các nhà nghiên cứu ngữ pháp cho rằng động
từ, tính từ (vị từ) thường làm vị ngữ, ngoài ra danh từ, đại từ, số từ cũng có thể làm vị ngữ
Trang 18Về mặt cấu trúc: Vị ngữ có thể được tạo nên bởi một từ, một cụm từ, một cụm từ chính phụ, một cụm từ đẳng lập, một giới ngữ, một kết cấu C-V
và những đơn vị đặc biệt như :
+ Từ “đang” + danh từ chỉ thời gian Ví dụ: “Nó đang tuổi ăn tuổi ngủ” + Các từ sao, vậy, thế nào Ví dụ: “Anh sao thế ?” [22, 30].
+ Là sự lặp lại một tổ hợp từ về mặt ý nghĩa vốn là trọng tâm của nội dung thông báo ở câu trước
Ví dụ:
-“Vài bữa nữa bố đưa con đi thăm bà nội”.
-“Con không vài bữa nữa”.
+ Là một tổ hợp quan hệ từ + danh từ, ví dụ: “Mẹ tôi ngoài vườn”
[12,150]
Về mặt nối kết với chủ ngữ: Vị ngữ có thể kết hợp trực tiếp với chủ ngữ
(không cần đến hệ từ là), có thể kết hợp gián tiếp với chủ ngữ (nhờ hệ từ là).
Tóm lại theo chúng tôi, vị ngữ có thể được hiểu như sau:
- Về khái niệm: Vị ngữ là thành phần chính của câu thể hiện nội dung thông báo ( hoạt động, trạng thái, tính chất, đặc điểm, quan hệ, nhận xét, ) của đối tượng được nêu ở chủ ngữ, cùng với chủ ngữ tạo nên nòng cốt câu
- Về vị trí: Vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ theo trật tự C-V, nhưng vị ngữ cũng có thể đứng trước chủ ngữ nhằm nhấn mạnh nội dung thông báo hoặc mang màu sắc tu từ
- Về cách xác định vị ngữ: Muốn tìm vị ngữ của một câu, phải thực hiện các bước phân tích cấu trúc câu: Xác định nòng cốt câu (tối giản), xác định chủ ngữ, phần còn lại là vị ngữ của câu (phần nêu lên thông báo về đối tượng được nói đến ở chủ ngữ)
Trang 19- Về cấu tạo của vị ngữ: Vị ngữ có thể được làm từ một từ (động từ, tính từ, danh từ, đại từ, số từ), một cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập, cụm từ
cố định, cụm C-V, hoặc một giới ngữ
1.1.2.2 Thành phần phụ
a Trạng ngữ
a1 Khái niệm
Các công trình nghiên cứu Việt ngữ đã dùng nhiều thuật ngữ đã dùng nhiều thuật ngữ để gọi tên trạng ngữ Nhưng có thể nói trạng ngữ là thành phần câu duy nhất có sự thống nhất ý kiến cao của các nhà nghiên cứu
Trạng ngữ là thành phần phụ của câu có tác dụng bổ sung ý nghĩa tình huống (như thời gian, nơi chốn, phương tiện, mục đích, cách thức, nguyên nhân,….) cho nòng cốt câu [13,51], [20,193], [17,134]
a2 Những đặc trưng cơ bản của trạng ngữ
- Vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của trạng ngữ trong câu.
Xét về mặt kết cấu ngữ pháp của câu, trạng ngữ là thành phần phụ của câu, có thể bỏ đi mà câu không sai ngữ pháp [9, 33], [5, 115],…
Xét về mặt ý nghĩa trạng ngữ có tầm quan trọng đặc biệt đối với nòng cốt câu, là thành phần bổ sung ý nghĩa cho câu Trạng ngữ có khi là phần người nghe mong đợi [9, 33] Nội dung thông báo của câu chủ yếu ở thành phần trạng ngữ [20, 193] Trạng ngữ xác định hoàn cảnh, điều kiện diễn ra sự việc nêu trong câu, góp phần làm nội dung được đầy đủ chính xác, trạng ngữ nối kết các câu, các đoạn với nhau, góp phần làm cho đoạn văn, bài văn mạch lạc [13,12,46] Trạng ngữ làm cho nội dung phản ánh hiện thực khách quan được cụ thể hơn, đầy đủ hơn [16, 78] Trạng ngữ bổ sung cho những thông tin
về tình huống, tức nó thuộc vai chủ tố của sự tình được biểu thị trong câu Trạng ngữ cũng có thể đảm nhận chức năng liên kết văn bản nhờ vào đặc điểm nào đó trong nội dung ngữ nghĩa mà nó biểu thị [17, 348 -349]
Trang 20- Vị trí của trạng ngữ trong câu.
Trạng ngữ của Tiếng Việt có thể đứng ở ba vị trí khác nhau trong cấu trúc câu là đứng đầu câu (trước nòng cốt chủ - vị), đứng xen giữa chủ ngữ, vị ngữ hoặc cuối câu (sau nòng cốt chủ - vị) Nhưng đặc điểm ngữ pháp củatrạng ngữ thường đặt trước phần nòng cốt câu [13, 50] Đồng quan điểm trên có rất nhiều người [16, 79], [4, 168]
Vị trí thường gặp của trạng ngữ thường đứng ở đầu câu Khi trạng ngữ chuyển vị trí đứng sau nòng cốt câu hoặc xen giữa chủ ngữ và vị ngữ phải có điều kiện Theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004), sự thay đổi của trạng ngữ trong câu có liên quan đến vai trò của nó trong cấu trúc phân đoạn thực tại của câu Khi nó đứng sau nòng cốt hoặc chen vào giữa chủ ngữ,
vị ngữ, trạng ngữ có khả năng tham gia vào phần thuật đề [17,345] Diệp Quang Ban (2005) cho rằng trạng ngữ, khi ở cuối nòng cốt hoặc xen giữa chủ ngữ, vị ngữ, phải được nhấn mạnh tách rời bằng điệu khi nói, dấu phẩy khi viết và có thể kèm theo một kết từ thích hợp [4, 168]
- Cấu tạo của trạng ngữ.
Về từ loại: Hoàng Trọng Phiến (1980) xác định trạng ngữ thường được biểu hiện bằng danh từ, tổ hợp danh từ với các từ có ý nghĩa không gian, thời gian, tổ hợp danh từ với các giới từ, tính từ có ý nghĩa không gian; kết cấu động từ - bổ ngữ [10, 126]
Nhóm Bùi Tất Tươm (1995) nhận định: Tất cả các kết cấu ngữ pháp có khả năng làm vị ngữ đều đều có thể đảm nhiệm thành phần này Ngoài ra, một
số phụ từ tình thái và các kết cấu ngữ pháp có quan hệ mở đầu cũng có thể làm trạng ngữ [19,186]
Nhóm Lê Cận (1983) quan niệm trạng ngữ thường do danh từ (cụm danh từ), động từ (cụm tính từ), tính từ (cụm tính từ) có quan hệ từ hoặc không có quan hệ từ đảm nhiệm [5,155]
Trang 21Nhóm Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004) dựa vào dấu hiệu cấu tạo: Trạng ngữ có giới từ đứng trước (trạng ngữ được đánh dấu) hoặc trạng ngữ không có giới từ đứng trước (trạng ngữ không được đánh dấu).
Về cấu trúc ngữ pháp: Trạng ngữ có thể được làm từ một từ, một cụm
từ, một giới ngữ, một kết cấu chủ - vị
Tóm lại, theo chúng tôi, trạng ngữ có thể được hiểu như sau:
- Về khái niệm: Trạng ngữ là thành phần có tác dụng bổ sung ý nghĩa cho tình huống nòng cốt câu Ý nghĩa tình huống có thể là thời gian nơi chốn, mục đích, phương tiện, nguyên nhân, trạng thái,…
- Về vị trí: Trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu, ở giữa câu, ở cuối câu nhưng vị trí phổ biến của trạng ngữ là đứng ở đầu câu
- Về cách xác định trạng ngữ: Trạng ngữ có thể xác định bằng cách xác định thành phần chính của câu (nòng cốt câu) sau đó xác định thành phần phụ của câu và dựa vào dấu phẩy tách nó với nòng cốt câu kết hợp với ý nghĩa chỉ thời gian, nơi chốn, mục đích,… của trạng ngữ để phân biệt nó với đề ngữ
- Về cấu tạo của trạng ngữ: Trạng ngữ có thể được làm từ một từ, một cụm từ, một giới ngữ
+ Trạng ngữ có thể được tạo từ một từ:
Lễ phép, mẹ con chị Dậu cúi đầu chào.
+ Trạng ngữ có thể được tạo từ một cụm từ:
Một ngày cuối thu, tôi và Trũi lên đường.
+ Trạng ngữ có thể được tạo từ một giới ngữ:
Đối với mẹ tôi, tôi vẫn có lý và đáng yêu.
Ở ngoại thành, nông dân trồng nhiều loại rau.
b Đề ngữ
Theo chúng tôi, đề ngữ (khởi ngữ) được hiểu như sau:
Trang 22- Về khái niệm: Đề ngữ là thành phần câu biểu thị chủ đề của câu biểu thị chủ đề của câu biểu thị, có quan hệ chính phụ với toàn bộ nòng cốt câu và
+ Đề ngữ được cấu tạo từ một từ:
Hoa, tôi để trên bàn.
+ Đề ngữ được cấu tạo từ một cụm từ chính phụ:
Tấm áo ấy,bấy lâu nay, con thường mặc.
+ Đề ngữ được cấu tạo từ một cụm C - V:
Anh ấy hư hỏng như thế nào, tôi đã từng được nghe nói.
+ Đề ngữ được cấu tạo từ một giới ngữ:
Với tôi, tất cả như vô nghĩa.
- Về mặt nghĩa: Vai nghĩa của đề ngữ có thể trùng với bổ ngữ, trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ trong câu Ví dụ:
+ Vai nghĩa của đề ngữ trùng với chủ ngữ:
Tôi thì tôi xin chịu.
+ Vai nghĩa của đề ngữ trùng với vị ngữ: Ăn thì tôi không ăn.
c Phụ ngữ câu.
Phụ ngữ của câu là một bộ phận được dùng để nêu các ý nghĩa về quan
hệ có liên quan với nội dung còn lại
Phụ ngữ của câu nhìn chung không có vị trí xác định trong câu Có thể chia thành 3 loại chính:
Trang 23- Phụ ngữ câu chỉ có quan hệ khách quan với câu nói Nó có thể là sự khẳng định hay phủ định.
- Phụ ngữ câu chỉ quan hệ tình thái
- Phụ ngữ câu chỉ quan hệ người nói với người nghe có thể nêu lời gọi đáp, đưa đẩy
d Giải ngữ câu
Giải ngữ của câu là bộ phận để làm sáng tỏ thêm một phương diện nào
đó liên quan gián tiếp đến câu làm cho người ta hiểu câu nói rõ hơn, đúng hơn Thông thường nó có tác dụng bổ sung các chi thiết, bình phẩm việc nói trong câu, làm rõ xuất xứ, làm rõ thái độ cách thức, thứ tự khi câu được diễn đạt
Về cấu tạo giải ngữ có thể là một từ, một cụm từ, một câu, thậm chí một chuỗi gồm nhiều câu
e Liên ngữ
Liên ngữ được dùng để nối ý của câu chứa nó với ý của câu đứng trước hoặc đứng sau câu ấy, với ý cả cụm gồm nhiều câu đứng trước hoặc sau câu ấy
Liên ngữ đứng đầu câu, cũng có khi liên ngữ đứng sau chủ ngữ
1.1.3 Phân loại câu tiếng Việt
Xét về mặt cấu tạo câu được chia thành câu đơn và câu phức
1.1.3.1 Câu đơn
Câu đơn là một câu được cấu tạo từ một cụm chủ - vị duy nhất làm thành nong cốt câu
Ví dụ: Trời mưa.
Căn cứ vào ngữ pháp có thể chia câu đơn thành hai kiểu:
- Câu đơn hai thành phần
- Câu đơn đặc biệt (hay câu đơn không xác định thành phần)
(1) Câu đơn hai thành phần
Trang 24Câu đơn hai thành phần là câu có một cụm chủ vị duy nhất làm thành nòng cốt câu.
Câu đơn hai thành phần chiếm vị trí trung tâm và chủ yếu trong việc miêu tả ngữ pháp về câu
2) Câu đơn đặc biệt
Câu đơn đặc biệt là kiểu câu có một trung tâm ngữ pháp chính , không chứa hay không hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai có quan hệ với nó như
là quan hệ giũa chủ ngữ với vị ngữ Ví dụ: Mưa! Tạnh!
Câu đơn đặc biệt chia ra hai loại lớn là câu đơn đặc biệt - danh từ và câu đơn đậc biệt - vị từ
a Câu đơn đặc biệt - danh từ
Câu đơn đặc biệt- danh từ là kiểu câu có trung tâm cú pháp chính là danh từ hay cụm danh từ Loại câu này nêu lên sự tồn tại hiển hiện của vật, hiện tượng đang bày ra trước mắt hay xuất hiện tại thời điểm đó
b Câu đơn đặc biệt - vị từ
Câu đơn đặc biệt - vị từ có trung tâm cú pháp chính là động từ, tính từ hay cụm động từ, cụm tính từ
Câu đơn đặc biệt - vị từ thường dùng với nghĩa khái quát
1.3.1.2 Câu phức.
Câu phức được chia ra: Câu phức thành phần và câu ghép
(1) Câu phức thành phần
Câu phức thành phần là câu gồm hai cụm chủ - vị trở lên, trong đó chỉ
có một cụm chủ - vị làm nòng cốt câu, những cụm chủ - vị còn lại đều bị bao hàm bên trong nòng cốt câu
(2) Câu ghép
Câu ghép là câu gồm hai cụm chủ - vị trở lên, mỗi cụm chủ - vị có tư cách một nòng cốt câu, tức là không cm chủ - vị nào bao hàm cụm chủ - vị nào
Trang 25Ví dụ: Nhờ thời tiết tốt nên mùa màng bội thu.
Câu ghép được chia thành hai loại lớn như sau:
- Loại có từ liên kết (từ chỉ quan hệ) gồm có kết từ và vị từ vói tác dụng liên kết
- Loại không có từ liên kết( câu ghép chuỗi)
a Câu ghép có kết từ và phụ từ.
* Câu ghép có kết từ.
Đây là kiểu câu ghép mỗi vế có một cụm chủ - vị và có kết từ nối các
vế, được coi là kiểu tiêu biểu cho câu ghép
Có thể chia thành hai loại: Câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ
- Câu ghép đẳng lập.
Câu ghép đẳng lập là câu ghép có các kết từ đi kèm như: và, rồi, hãy, còn, mà, các kết từ này thường đứng đầu vế sau
Người ta chia câu ghép đẳng lập thanh các loại sau:
+ Câu ghép có quan hệ liệt kê
+ Câu ghép có quan hệ nối tiếp
+ Câu ghép có quan hệ lựa chọn
+ Câu ghép có quan hệ đối chiếu
- Câu ghép chính phụ.
Câu ghép chính phụ là câu ghép mà các kết từ thường làm thành cặp, mỗi kết từ đứng trước một vế
Người ta chia câu ghép thành các tiểu loại sau:
+ Câu ghép có quan hệ nguyên nhân - kết quả
+ Câu ghép có quan hệ điều kiện (giả thiết) - hệ quả
+ Câu ghép có quan hệ nhượng bộ - tăng tiến
+ Câu ghép có quan hệ mục đích - sự kiện
* Câu ghép có phụ từ liên kết.
Trang 26Đây là câu ghép thường có những cặp phụ từ là: vừa ( mới) đã, mới
đã, chưa đã, có mới, càng càng, vừa vừa, không chỉ (những) mà còn,
b Câu ghép không có liên kết.
Câu ghép không có liên kết có thể nêu, liệt kê, hay nối tiếp các sự kiện
Để phân biệt kiểu câu này với câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ người ta gọi nó là câu ghép chuỗi
1.2 Đặt câu trong phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học
1.2.1 Phân môn Luyện từ và câu trong chương trình Tiểu học
1.2.1.1 Vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức năng giao tiếp Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học Việc dạy luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hoá làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nói của người khác Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trongviệc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em
1.2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
a Làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt
câu của các em
Nhiệm vụ này bao gồm các công việc sau:
Trang 27a1 Dạy nghĩa từ: Làm cho học sinh nắm nghĩa từ bao gồm việc
thêmvào vốn từ của học sinh những từ mới và những nghĩa mới của từ đã
biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ
Dạy từ ngữ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa biếttrong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ranhững nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau.
a2 Hệ thống hóa vốn từ: Dạy học sinh biết cách sắp xếp các từ một
cách có hệ thống trong trí nhớ của mình để tích luỹ từ được nhanh chóng vàtạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi Công việc này hình thành ở học sinh kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởng cùng chủ
đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo,… tức là kĩ năng
liên tưởng để huy động vốn từ.
a3 Tích cực hóa vốn từ: Dạy cho học sinh sử dụng từ, phát triển kĩ
năngsử dụng từ trong lời nói và lời viết của học sinh, đưa từ vào trong vốn từ
tích cực được học sinh dùng thường xuyên Tích cực hóa vốn từ tức là dạyhọc sinh biết dùng từ ngữ trong hoạt động nói năng của mình.
a4 Dạy cho học sinh biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng
mẫu, phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp.
b Cung cấp một số kiến thức về từ và câu
Trang 28Trên cơ sở vốn ngôn ngữ có được trước khi đến trường, từ những hiệntượng cụ thể của tiếng mẹ đẻ, phân môn luyện từ và câu cung cấp cho họcsinh một số kiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em Luyện từ và câu trang bị cho HS những hiểu biết về cấu trúc của
từ, câu, quy luật hành chức của chúng Cụ thể đó là các kiến thức về cấu tạo
từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại; các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên, Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh
1.2.1.3 Chương trình phân môn Luyện từ và câu
- Các kiểu câu: Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? Khẳng định, phủ định.
- Cấu tạo câu (thành phần câu): Đặt trả lời câu hỏi “Khi nào?”, Đặt trả lời câu hỏi “ở đâu?”, Đặt trả lời câu hỏi “Như thế nào?”, Đặt trả lời câu hỏi
“Vì sao?”, Đặt trả lời câu hỏi “Để làm gì?”.
- Dấu câu: Dấu chấm hỏi, dấu phẩy, dấu chấm than, dấu chấm.
- Ngữ âm – chính tả: Tên riêng và cách viết tên riêng.
Lớp 3
- Từ loại: Ôn tập về từ chỉ sự vật, ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái,
ôn tập về từ chỉ đặc điểm.
- Biện pháp tu từ: So sánh, nhân hóa.
- Các kiểu câu: Ôn tập về câu “Ai là gì?”, ôn tập về câu “Ai làm gì?”,
ôntập về câu “Ai thế nào?”.
Trang 29- Cấu tạo câu: Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi “Khi nào?”, ôn tập
cách đặtvà trả lời câu hỏi “Ở đâu?”, ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi “Vì
sao?”; Đặt và trả lời câu hỏi “Bằng gì?”.
- Dấu câu: Dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu hai
chấm.
Lớp 4
- Cấu tạo từ: Từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy
- Từ loại: Danh từ, danh từ chung, danh từ riêng, động từ, tính từ
- Các kiểu câu: Câu hỏi và dấu chấm hỏi, Dùng câu hỏi với mục đích
khác, Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi, Câu kể, Câu kể “Ai làm gì?”, Câu kể
“Ai thế nào?”, Câu kể “Ai là gì?”, Luyện tập câu kể “Ai làm gì?” Câu
khiến; Cách đặt câu khiến; Giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị; Câu
- Dấu câu: Dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu chấm hỏi, dấu gạch ngang
- Ngữ âm - chính tả: Cấu tạo tiếng; Cách viết tên người, tên địa lí Việt
Nam; Cách viết tên người, tên địa lí nước ngoài; Cách viết tên các cơ quan,tổ chức, giải thưởng, danh hiệu, huân chương.
Lớp 5
- Các lớp từ: Từ đồng nghĩa; Từ trái nghĩa; Từ đồng âm; Dùng từ đồng
âm chơi chữ; Từ nhiều nghĩa.
Trang 30- Cấu tạo từ: Ôn tập về từ và cấu tạo từ.
- Từ loại: Đại từ; Đại từ xưng hô; Quan hệ từ; Luyện tập về quan hệ từ; Ôntập về từ loại
- Kiểu câu: Ôn tập về câu; Câu ghép; Cách nối các vế câu ghép; Nối các vếcâu ghép bằng quan hệ từ; Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng
- Dấu câu: Ôn tập về dấu câu (dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm
than); Ôn tập về dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang.
- Liên kết câu: Liên kết các câu trong bài bằng phép lặp từ ngữ; Liên kết các câu trong bài bằng phép thay thế từ ngữ; Liên kết bằng phép nối.
1.2.2 Yêu cầu về đặt câu trong phân môn Luyện từ và câu
1.2.2.1 Quan niệm về câu đúng
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định “Thế nào
là một câu đúng” Nguyễn Khánh Nồng (2006) cho rằng một câu đúng phải
thể hiện cả hai mặt: cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩa [17, 145].
Tuy nhiên, câu cũng như bất kì một đơn vị ngôn ngữ nào khác, trong quá trình hành chức đều bị chi phối bởi một số qui tắc và yêu cầu nhất định
Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (2006) khẳng định một câu đúng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Câu phải viết đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt: Để thực hiện chức năng giao tiếp, trong mỗi ngôn ngữ tồn tại những qui tắc cấu tạo đặc trưng cho ngôn ngữ đó và để giao tiếp có hiệu quả, mỗi cá nhân của cộng đồng ngôn ngữ phải tuân thủ các qui tắc đó Vì thế, yêu cầu đầu tiên đối với việc đặt câu là phải đặt câu đúng với qui tắc tiếng Việt
Tuy nhiên, các quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt, trong quá trình sử dụng, vẫn có sự linh hoạt uyển chuyển
Trang 31+ Câu phải có quan hệ ngữ nghĩa phù hợp với tư duy người Việt Nghĩa
là trong quá trình đặt câu, người viết ngoài việc phải chú ý đến yêu cầu viết đúng ngữ pháp, còn phải chú ý đến các quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ ngữ trong câu Yêu cầu về quan hệ ngữ nghĩa được cụ thể hoá ở các nội dung sau:
- Phản ánh đúng quan hệ trong thế giới khách quan
- Quan hệ giữa các thành phần câu, các vế câu phải hợp logic
- Quan hệ giữa các thành phần đẳng lập phải là quan hệ đồng loại
+ Câu phải có thông tin mới Xét về cấu trúc nội tại của câu, hai yêu cầu đã nêu là hai yêu cầu cần nhưng chưa đủ Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp,
mà giao tiếp, về bản chất là quá trình trao đổi thông tin Quá trình trao đổi thông tin thật sự có hiệu quả chỉ khi người nói (viết) đưa ra những thông tin mới đối với người nghe (đọc)
+ Câu phải được đánh dấu câu phù hợp Nghĩa là khi đặt câu, người viết phải chú ý đến việc đặt dấu câu làm cho các quan hệ về ngữ pháp, ngữ nghĩa được tách bạch, rõ ràng; tránh cho người đọc có thể hiểu sai ý nghĩa của câu
Ngoài những yêu cầu trên, xét theo quan hệ hướng ngoại (quan hệ giữa câu với mọi yếu tố khác ngoài câu), câu là một đơn vị cấu thành văn bản nên
nó phải chịu sự chi phối của tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung và hình thức của văn bản [25, 148- 156]
1.2.2.2 Câu đúng về cấu tạo ngữ pháp
Về mặt cấu tạo một câu được coi là chuẩn có nghĩa là nó có đúng kết cấu chủ - vị tức là có đủ hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ, một câu như thế được coi là câu bình thường
Nhưng trên thực tế ta thấy có những câu không đúng, không đủ kết cấu chủ vị nhưng ta vẫn cho nó là một câu đúng: đó là hiện tượng câu tỉnh lược, câu đặc biệt nhưng để hiểu được những câu này thì ta phải gắn liền với ngữ cảnh nếu không ta sẽ không hiểu hoặc không hiểu đúng ý của các câu văn đó
Trang 32Có những câu xét diễn đạt về mặt ngữ nghĩa là những câu đúng ngữ
pháp nhưng lại là những câu sai
Ví dụ: Cái bàn tròn này vuông.Sai ở đây là sai về mặt logic ngữ nghĩa 1.2.2.3 Câu sai về cấu tạo ngữ pháp
Câu sai về cấu tạo ngữ pháp là những câu không đủ thành phần, câu thừa thành phần, câu không phân định rõ thành phần
Ví dụ: Trên sân trường đang mưa.
1.3 Các lỗi câu xét về mặt cấu tạo ngữ pháp của câu trong chương trình Tiểu học
Lỗi về cấu tạo ngữ pháp của câu là lỗi thuộc về cấu trúc như thiếu hoặc thừa thành phần câu, không phân định các thành phần câu hoặc sắp xếp sai các thành phần câu
bị xem là thiếu chủ ngữ khi hiện dạng của nó chỉ có động từ, tính từ, ngữ động từ, ngữ tính từ có giá trị như vị ngữ, hay hiện dạng gồm có vị ngữ và thành phần phụ
Ví dụ: Nhà em trồng rất nhiều hoa hồng Mùa xuân đến nở rất nhiều hoa 1.3.1.2 Câu thiếu thành phần vị ngữ
Trang 33Câu thiếu thành phần vị ngữ là kiểu câu chỉ có một danh từ (xét trong quan hệ với các câu trước và sau nó cũng không có nghĩa rõ ràng nên không được xem là câu đặc biệt)
Ví dụ: Tiếng khóc của mọi người trong nhà.
1.3.1.3 Câu thiếu thành phần chủ ngữ và vị ngữ.
Những câu được xem là thiếu hai thành phần chính là những câu chỉ có
bộ phận trạng ngữ và cũng không nối được với câu tiếp theo sau để tạo thành một câu mới có trạng ngữ
Câu thiếu thành phần chủ - vị nòng cốt thường rơi vào câu đơn, và hiện dạng của kiểu lỗi câu sai này có thể quy về hai biểu hiện chính:
(1) Giới ngữ /danh ngữ (có chức năng như trạng ngữ)
(2) Giới ngữ / danh ngữ (có chức năng như trạng ngữ), danh ngữ (có chức năng như giải thích ngữ)
1.3.3 Câu không phân định rõ thành phần (câu có kết cấu rối nát)
Câu không phân định thành phần là những câu về cấu tạo khó xác định các bộ phận câu kết hợp với nhau theo quan hệ ngữ pháp nào đó Câu không xác định thành phần có thể ngắn, có thể dài, càn dài càng lủng củng Về ý nghĩa, mối quan hệ câu giũa các bộ phận không rõ ràng, chính xác, không logic do đó các câu tối nghĩa và vô nghĩa Có thể liệt kê câu các lỗi không phân định rõ thành phần như sau:
- Câu không xác định được thành phần
Trang 34Ví dụ: Em phải giữ gìn bút chì đặt vào trong hộp.
- Câu sắp xếp sai vị trí các thành phần
Ví dụ: Cái áo màu hồng trông rất đẹp in hình con mèo.
Trang 35CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỬA LỖI CÂU VỀ MẶT CẤU TẠO NGỮ PHÁP CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU 2.1 Khảo sát khả năng nắm kiến thức ngữ pháp của học sinh lớp 4
2.1.1 Mục đích khảo sát
Mục đích của việc khảo sát là nhằm đánh giá khả năng tiếp thu những kiến thức ngữ pháp mà các em đã học và kỹ năng thực hành ngữ pháp (kỹ năng nhận diện các thành phần câu, phân tích thành phần câu, phân loại và viết các kiểu câu, kỹ năng xác định từ loại)
Đối tượng điều tra là các học sinh lớp 4 tại trường tiểu học Minh Lương, huyện Văn Bàn,tỉnh Lào Cai (học sinh lớp này vừa học xong lý thuyết
về các kiểu câu, thành phần câu)
2.1.2 Nội dung khảo sát
Việc khảo sát được thực hiện bằng các câu hỏi nhằm kiểm tra sự hiểu biết của học sinh lớp 4 về những kiến thức ngữ pháp mà các em đã học
Các phiếu khảo sát việc nắm kiến thức ngữ pháp tiếng Việt dành cho học sinh có ở phần phụ lục
2.1.3 Kết quả khảo sát
Số học sinh được khảo sát: 106 học sinh
Bảng 1.1 Thống kê số HS trả lời đạt yêu cầu phiếu khảo sát kiến thức ngữ pháp
Tổng số
học sinh
Số học sinh đạt yêu cầu
Phiếu 1 Phiếu 2 Phiếu 3
SL TL% SL TL% SL TL%
106 78 41 52,6% 22 28,2% 15 19,2%
Trang 36Nhận xét:
Từ bảng thống kê trên chúng tôi rút ra nhận xét sau:
Số học sinh trả lời đạt yêu cầu phiếu khảo sát có sự chênh lệch khá rõ rệt Ở phiếu số 1 số học sinh trả lời đạt yêu cầu (41 học sinh chiếm 52,6%), tiếp đó phiếu số 2 học trả lời đạt yêu cầu (22 học sinh chiếm 28,2%), phiếu số
3 học sinh trả lời đạt yêu cầu (15 học sinh chiếm 20,2%)
Đúng như tôi dự đoán việc tiếp thu kiến thức của học sinh mà đối tượng là học sinh dân tộc còn thấp.Cụ thể ở phiếu số 1 học sinh trả lời đạt yêu cầu nhiều nhất chiếm 52,6% Nguyên nhân chủ yếu học sinh ở đây là đối dân tọc thiểu số nên khả năng dùng từ, đặt câu của các em còn hạn chế khi đã được học các khái niệm sơ giản về câu, các kiểu câu phân loại theo mục đích nói: câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu cầu khiến các em vẫn còn chưa nắm chắc nên khi khảo sát các em vẫn kể được chính xác
Ở phiếu 3 học sinh trả lời đạt yêu cầu thấp nhất chiếm 20,2%, học sinh biết được trong có thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ) và thành phần phụ (trạng ngữ), các em chưa nắm vững được ý nghĩa của chủ ngữ, vị ngữ và trạng ngữ trong câu Học sinh tiếp thu kiến thức về các thành phần của câu
một cách cụ thể, máy móc Từ ba mẫu câu kể Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?, các em mới có thể đặt câu hỏi để xác định chủ ngữ, vị ngữ của câu và mới
nhận diện được hai bộ phận chính của câu là chủ ngữ và vị ngữ Ngoài ra, câu
hỏi Thế nào? thường làm cho các em nhầm xác định vị ngữ với việc xác định
bổ ngữ của động từ, tính từ (trả lời câu hỏi như thế nào?) đã học ở lớp 2, 3.
Trong chương trình, sách giáo khoa Tiếng Việt 4 lý thuyết về thành phần chính của câu được dạy học trong 9 tiết, lý thuyết về thành phần phụ của câu (trạng ngữ) được dạy học trong 6 tiết Lý thuyết về thành phần câu được hình thành thông qua các bài tập theo con đường quy nạp - luyện tập, gắn với kiểu
câu kể phổ biến Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì? nhưng học sinh không nhớ.