LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan rằng đề tài: “Sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu ” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi không trùng với đề tài củ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
AN THANH NGỮ
SỬA LỖI CÂU VỀ MẶT CẤU TẠO NGỮ PHÁP CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
TS KHUẤT THỊ LAN
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu khóa luận này, tôi gặp rất nhiều
khó khăn và bỡ ngỡ Nhưng với sự giúp tận tình của TS.Khuất Thị Lan tôi
đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận này.Tôi xin chân thành cảm
ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cô!
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoaGiáo dục Tiểu học và các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,cùng các thầy cô, tập thể lớp 4A, 4B, 4C, 4D trường Tiểu học Minh Lương,
xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện giúp đỡ tôihoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2017
SINH VIÊN
An Thanh Ngữ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài: “Sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu ” là kết quả nghiên cứu của
riêng tôi không trùng với đề tài của một tác giả nào Các số liệu của kết quả hoàn toàn trung thực.
Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2017
SINH VIÊN
An Thanh Ngữ
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lí do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Bố cục của khóa luận 13
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN 14
1.1 Khái quát về câu tiếng Việt 14
1.1.1 Khái niệm câu tiếng Việt 14
1.1.2 Các thành phần câu tiếng Việt 15
1.1.3 Phân loại câu tiếng Việt 24
1.2 Đặt câu trong phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học 26
1.2.1 Phân môn Luyện từ và câu trong chương trình Tiểu học 26
1.2.2 Yêu cầu về đặt câu trong phân môn Luyện từ và câu 30
1.3 Các lỗi câu xét về mặt cấu tạo ngữ pháp trong chương trình Tiểu học 32
1.3.1 Câu không đủ thành phần 32
1.3.2 Câu thừa thành phần 33
1.3.3 Câu không phân định rõ thành phần (câu có kết cấu rối nát) 33
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỬA LỖI CÂU VỀ MẶT CẤU TẠO NGỮ PHÁP CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU 35 2.1 Khảo sát khả năng nắm kiến thức ngữ pháp của học sinh lớp 4 35
2.1.1 Mục đích khảo sát 35
2.1.2 Nội dung khảo sát 35
Trang 62.1.3 Kết quả khảo sát 35
2.2 Khảo sát tình hình mắc lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu 37
2.2.1 Mục đích khảo sát 37
2.2.2 Nội dung khảo sát 37
2.2.3 Kết quả khảo sát 37
2.3 Mô tả các lỗi xét về mặt cấu tạo ngữ pháp của học sinh lớp 4 40
2.3.1 Câu không đủ thành phần 40
2.3.2 Câu thừa thành phần 43
2.3.3 Câu không phân định rõ thành phần 43
CHƯƠNG III BIỆN PHÁP SỬA LỖI CÂU VỀ CẤU TẠO NGỮ PHÁP CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU 46
3.1 Dạy phân tích thành phần câu 46
3.1.1 Dạy kiến thức về thành phần câu cho học sinh 46
3.1.2 Thực hành làm bài tập 51
3.2.Dạy chữa các lỗi câu xét về mặt cấu tạo ngữ pháp 58
3.2.1 Câu thiếu thành phần 58
3.2.2 Câu thừa thành phần 62
3.2.3 Câu không phân định rõ thành phần 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤC LỤC
Trang 71 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 8Môn Tiếng Việt có 7 phân môn như: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tậpđọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện giúp học sinh hình thành vàphát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết)trong học tập và trong giao tiếp mọi lứa tuổi Giáo viên dạy phân môn Luyện
từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh,cung cấp cho học sinh nhữngkiến thức sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh
kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tìnhcảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nói củangười khác
Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói,đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em Câu là đơn vị nhỏ nhấtthực hiện chức năng giao tiếp, trong giao tiếp việc việc sử dụng câu được coi
là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Do vậy, việc rèn luyện kỹ năng viết câu và
sử dụng câu cho học sinh là hết sức quan trọng nhưng học sinh phải viết đúngcấu trúc ngữ pháp mới là điều quan trọng
Trong dạy học tiểu học, ngữ pháp có vai trò quan trọng trong việc tổchức hoạt động tạo lập và lĩnh hội ngôn bản, hướng dẫn học sinh nghe, nói,đọc, viết Bên cạnh đó, ngữ pháp là một yếu tố quan trọng góp phần phát triểnnăng lực trí tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho học sinh tiểu học Vaitrò của ngữ pháp trong hệ thống ngôn ngữ đã quy định tầm quan trọng củadạy ngữ pháp ở tiểu học Ngữ pháp trang bị cho học sinh một hệ thống kháiniệm, sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và quy luật hành chức của nó Vì vậy,ngay từ khi bắt đầu học tiểu học, học sinh đã làm quen với ngữ pháp Ở tiểuhọc, ngữ pháp được dạy trong tất cả các phân môn tiếng Việt, ở đâu có dạytiếp nhận và sản sinh lời nói thì ở đó có dạy ngữ pháp Ngoài ra, ngữ pháp cònđược dạy trực tiếp, độc lập ở phân môn Luyện từ và câu
Trang 9Chương trình ngữ pháp ở tiểu học đã lấy câu làm trung tâm dạy học.Học sinh tiểu học được cung cấp những kiến thức ngữ pháp cơ bản, cần thiết,vừa sức với các em như: Khái niệm về câu, kiến thức về cấu tạo ngữ pháp củacâu, các thành phần câu, kỹ năng phân tích thành phần câu, kiến thức và kỹnăng phân loại, viết các kiểu câu theo cấu tạo; Kiến thức về dấu câu, kỹ năngdùng dấu câu trên cơ sở ngữ pháp, học sinh nắm được các quy tắc chính tả,dấu câu, liên kết câu, nắm chuẩn văn hoá lời nói
Như vậy, dạy ngữ pháp ở tiểu học là giúp cho học sinh nhận diện, phânloại các đơn vị ngữ pháp, nắm các quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị nàytrong hoạt động giao tiếp của mình Tuy nhiên hiện nay có nhiều nguyênnhân, học sinh tiểu học nắm kiến thức ngữ pháp còn chưa chắc nên trong quátrình nói, viết còn mắc nhiều lỗi về ngữ pháp như: Các lỗi về dùng từ, các lỗi
về câu, các lỗi về liên kết câu và các lỗi về phong cách nếu không nói đúng,viết đúng thì không thể nói hay viết hay Do vậy, việc phát hiện và chữa cáclỗi về ngữ pháp cho học sinh là vô cùng cần thiết
Vậy việc học sinh tiểu học mắc các lỗi về cấu tạo ngữ pháp là do đâu?
Do hạn chế của chương trình và sách giáo khoa, do trình độ của giáo viên hay
do những khó khăn đặc trưng khi dạy ngữ pháp? Đây là câu hỏi đặt ra khiếncác nhà chuyên môn cũng như các giáo viên trực tiếp đứng lớp luôn phải trăntrở tìm câu trả lời
Qua việc nghiên cứu, điều tra thực tế học ngữ pháp học sinh tiểu học
mà đối tượng là học sinh lớp 4, chúng tôi nhận thấy khả năng nắm bắt kiếnthức ngữ pháp cũng như trong thực hành luyện tập của học sinh còn thấp Cóthể nói trong các bài của học sinh, các lỗi về cấu tạo ngữ pháp còn xuất hiện
rất nhiều và vô cùng đa dạng Chính vì thế, chúng tôi chọn vấn đề: “Sửa lỗi
câu về mặt cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu”.Chúng tôi mong muốn thông qua việc nghiên cứu đề tài góp phần tìm ra
Trang 10nguyên nhân và biện pháp khắc phục các lỗi câu sai về cấu tạo ngữ pháp chohọc sinh lớp 4 để nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Luyện từ và câutrong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề ngữ pháp tiếng Việt và các lỗi ngữ pháp đã được các nhà ngônngữ học quan tâm từ rất sớm Từ đầu thế kỷ XX đã có rất nhiều quan điểm vềnghiên cứu lỗi ngữ pháp ở các bình diện và khía cạnh khác nhau Theo điềutra ban đầu, hiện nay ở Việt Nam có các công trình nghiên cứu về lỗi ngữpháp của học sinh tiêu biểu như sau:
Nguyễn Xuân Khoa (1975), “Lỗi ngữ pháp của học sinh - nguyên nhân
và cách chữa”, Ngôn ngữ số 1 – 1975 đã đưa ra các lỗi ngữ pháp cơ bản của
học sinh và cách chữa
Tác giả Nguyễn Minh Thuyết chủ biên và Nguyễn Văn Hiệp trong
cuốn “Tiếng Việt thực hành” NXB ĐH Quốc gia Hà Nội đã đưa ra một số lỗi
câu sai và chữa lại cho phù hợp với văn bản và phong cách giao tiếp Các lỗiđưa ra rất cơ bản chưa cụ thể và vấn đề này xem xét trên diện rộng chưa thậtphù hợp với bậc Tiểu học
Tác giả Lê Phương Nga - Đặng Kim Nga trong cuốn “Phương pháp
dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” cũng đề cập đến việc dạy cho học sinh biết
cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu phù hợp với hoàn cảnh mụcđích giao tiếp nhưng chưa đề cập đến lỗi đặt câu và cách khắc phục
Tác giả Lê Phương Nga trong cuốn “Dạy học Ngữ pháp ở Tiểu học”
NXB Giáo dục (năm 1988) đã nêu ra các loại lỗi câu mà học sinh Tiểu họcthường mắc phải và đưa ra cách chữa Có thể nói tác giả đã viết rất chi tiết vàđầy đủ về lỗi câu mà học sinh mắc phải Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vàomột phân môn cụ thể ở Tiểu học
Trong cuốn “Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục” năm 2002 NXB Khoa
Trang 11học xã hội do tác giả Cao Xuân Hạo (Chủ biên) đã viết rất rõ các lỗi về câu vàcách khắc phục Tuy nhiên, tác giả chỉ khảo sát các lỗi câu trên phương tiệntruyền thông ở thành phố Hồ Chí Minh chưa thật phù hợp với bậc Tiểu học
Vấn đề về lỗi câu ở Tiểu học cũng được đưa ra trong các bài tập nghiêncứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp
Trong khóa luận “Tìm hiểu kỹ năng viết câu của học sinh lớp 4” của
Đặng Thị Thu Hà đã nêu ra các loại lỗi câu mà học sinh mắc phải và cáchchữa Các loại lỗi này tập trung nghiên cứu trong phạm vi lớp 4
Trong khóa luận “Khảo sát lỗi câu của học sinh Tiểu học” của Nguyễn
Thị Kim Huệ đã khảo sát, phân loại các lỗi câu và cách chữa Tuy nhiênnhững lỗi này còn chung chung chưa ở một phân môn cụ thể
Trong khóa luận “Các biện pháp sửa lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập
làm văn của học sinh lớp 4,5” của Đào Thị Thanh đã đưa ra các loại lỗi câu
rất cụ thể nhưng chỉ ở phân môn tập làm văn
Như vậy, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu chỉ riêng lỗi về cấutạo ngữ pháp của học sinh tiểu học Đây cũng chính là một trong những lí do
cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài“Sửa lỗi câu về mặt cấu tạo ngữ pháp cho
học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu” Trên cở sở tìm và phân loại
được các lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp, nguyên nhân và biện pháp khắc phụccho học sinh cho học sinh lớp 4, góp phần nâng cao chất lượng dạy và họcphân môn Luyện từ và câu trong môn tiếng Việt ở Tiểu học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân
môn Luyện từ và câu”, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối tượng học sinh lớp
4, bởi ở giai đoạn này học sinh mới được trang bị những kiến thức ngữ pháp
cơ bản Do vậy, chúng tôi mới có cơ sở để tìm hiểu, đánh giá lỗi về cấu tạongữ pháp của học sinh khối lớp 4
Trang 12Công việc điều tra sẽ được tiến hành tại trường Tiểu học Minh Lương
xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đây là một trường miền núiđặc biệt khó khăn của huyện Văn Bàn Việc điều tra như thế này sẽ cho kếtquả toàn diện hơn về tình hình học tập của học sinh khi học phân môn Luyện
từ và câu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu “Sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp của học sinh lớp 4 qua
phân môn Luyện từ và câu” là một vấn đề tương đối phức tạp Với khuôn khổ
của một khóa luận tốt nghiệp chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các loại lỗi
về cấu tạo ngữ pháp (không đề cập tới các loại lỗi về nghĩa, lỗi dấu câu)
Việc khảo sát tình hình mắc lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh đượcchỉ được tiến hành ở trường Tiểu học Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh LàoCai , không tiến hành ở các trường,huyện, tỉnh khác
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm hai mục đích sau:
- Phát hiện các loại lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh tiểu học đặcbiệt là học sinh lớp 4
- Đề xuất các biện pháp khắc phục các lỗi về cấu tạo ngữ pháp chohọc sinh
Trên cơ sở đó, chúng tôi hy vọng góp phần nâng cao chất lượng dạy vàhọc phân môn Luyện từ và câu nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, khóa luận phải thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Trình bày khái quát những vấn đề lí luận liên quan đến cấu tạo ngữpháp tiếng Việt được dạy ở tiểu học, đặc biệt là những phần kiến thức ngữpháp học sinh hay mắc lỗi
Trang 13sở cho việc nghiên cứu.
- Phát hiện và hệ thống hoá các lỗi về cấu tạo ngữ pháp mà học sinh lớp
4 thường hay mắc hiện nay
- Đề xuất những biện pháp khắc phục lỗi về cấu tạo ngữ pháp cho họcsinh lớp 4 nói riêng nhằm nâng cao chất lượng dạy - học ngữ pháp ở tiểu họcnói chung
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề của đề tài một cách có cơ sở, chúng tôi đã vậndụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tổng hợp lí luận
Nghiên cứu tài liệu, giáo trình, công trình nghiên cứu, sách báo về ngữpháp tiếng Việt và phương pháp dạy học tiếng Việt, chương trình, SGK tiếngViệt lớp 4, sách giáo viên tiếng Việt lớp 4 , lí luận dạy học tiểu học
5.2 Phương pháp phân tích
Từ những tài liệu đã thu thập được, chúng tôi vận dụng phương phápphân tích nhằm làm rõ các lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh lớp 4 để đề ranhững biện pháp khắc phục hợp lí
5.3 Phương pháp khảo sát, thống kê
- Khảo sát việc nắm kiến thức ngữ pháp cũng như kỹ năng thực hànhngữ pháp học sinh
- Thống kê, phân loại, nhận xét kết quả, trên cơ sở đó xây dựng cácbiện pháp nhằm khắc phục lỗi về cấu ngữ pháp của học sinh
- Tiếp xúc trao đổi với những giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy để
Trang 14tìm hiểu các biện pháp, giải pháp mà họ đã sử dụng trong quá trình dạy họcnhằm giúp học sinh khắc phục lỗi về cấu tạo ngữ pháp
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của khóa luận bao
Trang 15gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp
4 qua phân môn Luyện từ và câu
Chương 3: Biện pháp khắc phục sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu
Trang 16CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái quát về câu tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm câu tiếng Việt
Có rất nhiều quan điểm về câu trong tiếng Việt Sau đây là một vàiđịnh nghĩa câu của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ:
Từ thế kỷ III trước công nguyên, học phái ngữ pháp Alêcxangđria đã
nêu định nghĩa:“Câu là sự tổng hợp của các từ, biểu thị một tư tưởng tương
đối trọn vẹn” [ 9, 9].
Tác giả Nguyễn Thị Hiền Lương cũng đưa ra định nghĩa về câu:
“Câu là một đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng để biểu thị sự tình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực hiện một hành động nói” [ 9, 16].
Tác giả Hoàng Trọng Phiến cũng đưa ra định nghĩa về câu: “Câu là
đơn vị ngữ pháp có cấu tạo ngữ pháp (bên trong, bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn có kèm theo thái độ của người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo ngôn ngữ nhỏ nhất” [8].
Tác giả Diệp Quang Ban đưa ra định nghĩa về câu như sau: “Câu là
đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có câu tạo ngữ pháp ( bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt
tư tưởng tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [5, 107].
Trong khóa luận này chúng tôi thống nhất chọn định nghĩa về câu của
Diệp Quang Ban rất cụ thể, ngắn gọn nhưng mang tính khái quát cao: “Câu là
Trang 17đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp ( bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nó, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [ 5,
107]
1.1.2 Các thành phần câu tiếng Việt
Câu của Tiếng Việt có thể chia ra các thành phần như sau: Thành phầnchính (hay còn gọi là thành phần nòng cốt của câu) và thành phần phụ củacâu
1.1.2.1 Thành phần chính
a Chủ ngữ
a1 Khái niệm
Chủ ngữ là thành phần chính, thành phần quan trọng trong câu nên từnăm 1960 trở lại đây, chủ ngữ được đề cập đến trong nhiều công trình
nghiên cứu Theo Diệp Quang Ban (2000): “Chủ ngữ là thành phần câu có
quan hệ qua lại và qui định lẫn nhau với thành phần vị ngữ, chủ ngữ nêu ra vật, hiện
tượng nằm trong mối quan hệ chặt chẽ và trực tiếp với đặc trưng (động, tĩnh, tính chất) và quan hệ sẽ được nói đến trong vị ngữ” [5, 39- 40].
Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004) khẳng định:“Chủ ngữ
là bộ phận của nòng cốt câu biểu thị chủ thể ngữ pháp của vị ngữ, tạo ra cùng vị ngữ một kết cấu có khả năng nguyên nhân hoá” [38, 153].
a2 Những đặc trưng cơ bản của chủ ngữ
- Vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của chủ ngữ trong câu
Hiện nay, mọi người đều thừa nhận chủ ngữ là một trong haithành phần chính của câu, song hành cùng vị ngữ tạo nên ng cốt câu Chủ
Trang 18ngữ là thành phần nêu lên chủ thể như người, vật, sự vật, sự việc, cóđặc trưng
được miêu tả hoặc nhận xét ở vị ngữ [13, 131], [28, 24] Các tác giả NguyễnMinh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2001) đã trình bày khá đầy đủ và hoànchỉnh về vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của chủ ngữ
Trang 19- Vị trí của chủ ngữ trong câu.
Chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ theo trật tự C-V (“vị trí thuận củachủ ngữ” [32, 187]) Tuy nhiên, chủ ngữ có khả năng đứng sau vị ngữ (“vị trínghịch của chủ ngữ” [32, 187]) trong một số trường hợp nhất định và gắn vớinhững điều kịên nhất định Đó là những trường hợp người nói muốnnhấn mạnh vị ngữ để người nghe chú ý [22, 26]; là khi câu mang rõ màu sắc
biểu cảm [19, 60]; chủ ngữ trong các câu có hệ từ là chuyển theo qui tắc
riêng: chỉ ở những câu đồng nhất tuyệt đối, chủ ngữ mới có thể chuyển rasau vị ngữ, còn trong các câu không có hệ từ, bất cứ một chủ ngữ thể từ nàocũng có thể chuyển ra sau vị ngữ nhờ có chỉ tố phân đoạn thực từ thực tại
“là” [19, 187-188].
- Cấu tạo của chủ ngữ
+ Về mặt từ loại: Chủ ngữ thường được biểu hiện bằng danh từ và đại
từ nhân xưng Ngoài ra, động từ, tính từ, số từ cũng có thể làm chủ ngữ
+ Về cấu tạo: Chủ ngữ thường được cấu tạo từ một từ, một cụm
từ chính phụ, một cụm từ đẳng lập hoặc một cụm chủ vị Ngoài ra, nó còn
- Về khái niệm: Chủ ngữ là thành phần chính của câu thể hiện đối tượng
được thông báo trong câu, cùng với vị ngữ tạo thành nòng cốt câu
- Về vị trí: Chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ theo trật tự C - V nhưng
khi cần nhấn mạnh nội dung thông báo hay biểu thị tình cảm, cảm xúc, người ta có thể đặt vị ngữ trước chủ ngữ
Trang 20- Về cách xác định chủ ngữ: Chủ ngữ có thể được xác định bằng cách
xác định nòng cốt câu, xác định thành phần chính của câu( sử dụng phéplược
Trang 21câu, tìm thành phần cấu tạo tối thiểu của câu), cuối cùng tm những từ, ngữ nêu đối tượng thông báo của câu.
- Về cấu tạo của chủ ngữ: Chủ ngữ có thể được làm từ một từ, một
cụm từ (cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập, cụm từ cố định), một cụm C - Vhay một giới ngữ
b Vị ngữ
b1 Khái niệm
Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004) khẳng định vị ngữ làthành phần chính thứ hai của câu, cùng với chủ ngữ tạo thành nòng cốtcâu Vị ngữ là phần tường thuật về chủ ngữ [28, 154]
Vị ngữ là bộ phận chỉ tình trạng hoặc hành động của chủ thể; vị ngữ làthành phần câu có quan hệ qua lại và qui định lẫn nhau với chủ ngữ, vịngữ nêu nên đặc trưng hoặc quan hệ (động, tĩnh) vốn có của vật nói ởchủ ngữ hoặc có thể áp đặt chúng một cách có lý do cho vật đó; vị ngữ biểuthị thuộc tính P (có thể là hành động, quá trình, trạng thái, đặc điểm, tnhchất hoặc quan hệ) của đối tượng nhận thức [31, 69]
Vị ngữ là bộ phận nòng cốt của câu có thể chen thêm phó từ chỉ thời thể vào phía trước, và trong trường hợp bộ phận này gồm hơn một từ thì
-vị ngữ là từ chính của bộ phận ấy [32, 188]
b2 Những đặc trưng cơ bản của vị ngữ
- Vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của vị ngữ trong câu
Vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu, cùng với chủ ngữ tạonên nòng cốt câu Vị ngữ là thành phần câu có mối quan hệ qua lại vàqui định lẫn nhau với thành phần chủ ngữ; nó thường báo rõ hành động,trạng thái, tính chất của đối tượng được đề cập tới trong chủ ngữ Vị ngữ
thường trả lời câu hỏi Làm gì? Thế nào? Là gì? [22, 27], [24, 150].
Vị ngữ có tác dụng đến toàn câu [23, 115]; vị ngữ biểu thị tính vị thể,
Trang 22miêu tả đặc trưng của sự vật được nói đến ở chủ ngữ [12, 148].
Trang 23Về mặt ngữ pháp, vị ngữ là thành phần chịu sự chi phối của chủ ngữ;
về mặt thông báo, vị ngữ là thành phần thông báo về chủ ngữ, tính thôngbáo thể hiện chủ yếu ở vị ngữ; trong tương quan với chủ ngữ, vị ngữthường là “cái mới” - cái chưa biết - do đó phần này ít khi bị rút gọn [28,185]
Vị ngữ có quan hệ chặt chẽ, trực tiếp và phù hợp với chủ ngữ, kết hợpvới chủ ngữ để tạo thành cấu trúc ngữ pháp cơ bản biểu thị nội dung mệnh
đề [30, 69]; vị ngữ là thành phần dùng một thứ từ ngữ khác để thuật thuyếtcái “thế nào” của chủ ngữ [17, 178]
Vị ngữ là bộ phận quan trọng nhất trong câu song phần, nó là trung tâm
tổ chức của câu, không thể lược bỏ khi câu tách khỏi ngữ cảnh [29, 181], [23,115], [31, 69] Vị ngữ đóng vai trò chủ yếu và là hạt nhân của câu [32, 190]
- Vị trí của vị ngữ trong câu
Vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ theo trật tự C - V Tuy nhiên, vị ngữcũng có thể đứng trước chủ ngữ (trường hợp ngoại lệ) thuộc mặt dụngpháp [38,185] Việc đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ sẽ tạo nên một trật tựkhông bình
thường nhằm đạt hiệu quả tu từ, biểu cảm [31, 70]
- Cấu tạo của vị ngữ
Về mặt từ loại: Phần lớn các nhà nghiên cứu ngữ pháp cho rằngđộng từ, tính từ (vị từ) thường làm vị ngữ, ngoài ra danh từ, đại từ, số từcũng có thể làm vị ngữ
Về mặt cấu trúc: Vị ngữ có thể được tạo nên bởi một từ, một cụm
từ, một cụm từ chính phụ, một cụm từ đẳng lập, một giới ngữ, một kết cấuC-V và những đơn vị đặc biệt như :
+ Từ “đang” + danh từ chỉ thời gian Ví dụ: “Nó đang tuổi ăn tuổi ngủ”.
Trang 24+ Các từ sao, vậy, thế nào Ví dụ: “Anh sao thế ?” [22, 30].
+ Là sự lặp lại một tổ hợp từ về mặt ý nghĩa vốn là trọng tâm của nộidung thông báo ở câu trước
Trang 25Về mặt nối kết với chủ ngữ: Vị ngữ có thể kết hợp trực tiếp với chủ ngữ
(không cần đến hệ từ là), có thể kết hợp gián tếp với chủ ngữ (nhờ hệ từ là).
Tóm lại theo chúng tôi, vị ngữ có thể được hiểu như sau:
- Về khái niệm: Vị ngữ là thành phần chính của câu thể hiện nội dungthông báo ( hoạt động, trạng thái, tính chất, đặc điểm, quan hệ, nhậnxét, ) của đối tượng được nêu ở chủ ngữ, cùng với chủ ngữ tạo nên nòng cốtcâu
- Về vị trí: Vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ theo trật tự C-V, nhưng vịngữ cũng có thể đứng trước chủ ngữ nhằm nhấn mạnh nội dung thôngbáo hoặc mang màu sắc tu từ
- Về cách xác định vị ngữ: Muốn tm vị ngữ của một câu, phải thựchiện các bước phân tích cấu trúc câu: Xác định nòng cốt câu (tối giản), xácđịnh chủ ngữ, phần còn lại là vị ngữ của câu (phần nêu lên thông báo vềđối
tượng được nói đến ở chủ ngữ)
- Về cấu tạo của vị ngữ: Vị ngữ có thể được làm từ một từ (động từ,tính từ, danh từ, đại từ, số từ), một cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập, cụm
Trang 26Các công trình nghiên cứu Việt ngữ đã dùng nhiều thuật ngữ đã dùngnhiều thuật ngữ để gọi tên trạng ngữ Nhưng có thể nói trạng ngữ làthành phần câu duy nhất có sự thống nhất ý kiến cao của các nhà nghiên cứu.
Trang 27Trạng ngữ là thành phần phụ của câu có tác dụng bổ sung ý nghĩa tnhhuống (như thời gian, nơi chốn, phương tện, mục đích, cách thức, nguyênnhân,….) cho nòng cốt câu [13,51], [20,193], [17,134]
a2 Những đặc trưng cơ bản của trạng ngữ
- Vai trò, quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của trạng ngữ trong câu.
Xét về mặt kết cấu ngữ pháp của câu, trạng ngữ là thành phần phụ củacâu, có thể bỏ đi mà câu không sai ngữ pháp [9, 33], [5, 115],…
Xét về mặt ý nghĩa trạng ngữ có tầm quan trọng đặc biệt đối với nòngcốt câu, là thành phần bổ sung ý nghĩa cho câu Trạng ngữ có khi là phầnngười nghe mong đợi [9, 33] Nội dung thông báo của câu chủ yếu ởthành phần trạng ngữ [20, 193] Trạng ngữ xác định hoàn cảnh, điều kiệndiễn ra sự việc nêu trong câu, góp phần làm nội dung được đầy đủ chính xác,trạng ngữ nối kết các câu, các đoạn với nhau, góp phần làm cho đoạn văn,bài văn mạch lạc [13,12,46] Trạng ngữ làm cho nội dung phản ánh hiện thựckhách quan được cụ thể hơn, đầy đủ hơn [16, 78] Trạng ngữ bổ sung chonhững thông tn về tình huống, tức nó thuộc vai chủ tố của sự tnh được biểuthị trong câu Trạng ngữ cũng có thể đảm nhận chức năng liên kết vănbản nhờ vào đặc điểm nào đó trong nội dung ngữ nghĩa mà nó biểu thị [17,
348 -349]
- Vị trí của trạng ngữ trong câu.
Trạng ngữ của Tiếng Việt có thể đứng ở ba vị trí khác nhau trong cấutrúc câu là đứng đầu câu (trước nòng cốt chủ - vị), đứng xen giữa chủ ngữ, vịngữ hoặc cuối câu (sau nòng cốt chủ - vị) Nhưng đặc điểm ngữ phápcủatrạng ngữ thường đặt trước phần nòng cốt câu [13, 50] Đồng quanđiểm trên có rất nhiều người [16, 79], [4, 168]
Trang 28Vị trí thường gặp của trạng ngữ thường đứng ở đầu câu Khi trạng ngữchuyển vị trí đứng sau nòng cốt câu hoặc xen giữa chủ ngữ và vị ngữ phải cóđiều kiện Theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004), sự thay đổi
Trang 29của trạng ngữ trong câu có liên quan đến vai trò của nó trong cấu trúc phânđoạn thực tại của câu Khi nó đứng sau nòng cốt hoặc chen vào giữa chủngữ, vị ngữ, trạng ngữ có khả năng tham gia vào phần thuật đề [17,345].Diệp Quang Ban (2005) cho rằng trạng ngữ, khi ở cuối nòng cốt hoặc xen giữachủ ngữ, vị ngữ, phải được nhấn mạnh tách rời bằng điệu khi nói, dấuphẩy khi viết và có thể kèm theo một kết từ thích hợp [4, 168].
- Cấu tạo của trạng ngữ.
Về từ loại: Hoàng Trọng Phiến (1980) xác định trạng ngữ thường đượcbiểu hiện bằng danh từ, tổ hợp danh từ với các từ có ý nghĩa không gian, thờigian, tổ hợp danh từ với các giới từ, tính từ có ý nghĩa không gian; kết cấuđộng từ - bổ ngữ [10, 126]
Nhóm Bùi Tất Tươm (1995) nhận định: Tất cả các kết cấu ngữ pháp cókhả năng làm vị ngữ đều đều có thể đảm nhiệm thành phần này Ngoài ra,một số phụ từ tnh thái và các kết cấu ngữ pháp có quan hệ mở đầu cũng
có thể làm trạng ngữ [19,186]
Nhóm Lê Cận (1983) quan niệm trạng ngữ thường do danh từ (cụmdanh từ), động từ (cụm tnh từ), tnh từ (cụm tnh từ) có quan hệ từhoặc không có quan hệ từ đảm nhiệm [5,155]
Nhóm Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004) dựa vào dấuhiệu cấu tạo: Trạng ngữ có giới từ đứng trước (trạng ngữ được đánh dấu)hoặc trạng ngữ không có giới từ đứng trước (trạng ngữ không được đánhdấu)
Về cấu trúc ngữ pháp: Trạng ngữ có thể được làm từ một từ, mộtcụm từ, một giới ngữ, một kết cấu chủ - vị
Tóm lại, theo chúng tôi, trạng ngữ có thể được hiểu như sau:
Trang 30- Về khái niệm: Trạng ngữ là thành phần có tác dụng bổ sung ý nghĩacho tình huống nòng cốt câu Ý nghĩa tình huống có thể là thời gian nơi chốn,mục đích, phương tiện, nguyên nhân, trạng thái,…
Trang 31- Về vị trí: Trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu, ở giữa câu, ở cuối câunhưng vị trí phổ biến của trạng ngữ là đứng ở đầu câu.
- Về cách xác định trạng ngữ: Trạng ngữ có thể xác định bằng cách xácđịnh thành phần chính của câu (nòng cốt câu) sau đó xác định thành phầnphụ của câu và dựa vào dấu phẩy tách nó với nòng cốt câu kết hợp với ýnghĩa chỉ thời gian, nơi chốn, mục đích,… của trạng ngữ để phân biệt nó với
M ộ t n g à y c u ố i t h u , tôi và Trũi lên đường.
+ Trạng ngữ có thể được tạo từ một giới ngữ:
Đ ố i v ớ i m ẹ t ô i , tôi vẫn có lý và đáng yêu.
Ở n g o ạ i t h à n h , nông dân trồng nhiều loại rau.
b Đề ngữ
Theo chúng tôi, đề ngữ (khởi ngữ) được hiểu như sau:
- Về khái niệm: Đề ngữ là thành phần câu biểu thị chủ đề của câu biểuthị chủ đề của câu biểu thị, có quan hệ chính phụ với toàn bộ nòng cốt câu và
Trang 32+ Đề ngữ được cấu tạo từ một từ:
Trang 33o a , tôi để trên bàn.
+ Đề ngữ được cấu tạo từ một cụm từ chính phụ:
Tấ m á o ấ y , bấy lâu nay, con thường mặc.
+ Đề ngữ được cấu tạo từ một cụm C - V:
A n h ấ y h ư h ỏ n g n h ư t h ế nào , tôi đã từng được nghe nói.
+ Đề ngữ được cấu tạo từ một giới ngữ:
Vớ i tôi , tất cả như vô nghĩa.
- Về mặt nghĩa: Vai nghĩa của đề ngữ có thể trùng với bổ ngữ, trạngngữ, chủ ngữ, vị ngữ trong câu Ví dụ:
+ Vai nghĩa của đề ngữ trùng với chủ ngữ:
Tô i thì tôi xin chịu.
+ Vai nghĩa của đề ngữ trùng với vị ngữ: Ăn thì tôi không ăn.
c Phụ ngữ câu.
Phụ ngữ của câu là một bộ phận được dùng để nêu các ý nghĩa về quan
hệ có liên quan với nội dung còn lại
Phụ ngữ của câu nhìn chung không có vị trí xác định trong câu Có thểchia thành 3 loại chính:
- Phụ ngữ câu chỉ có quan hệ khách quan với câu nói Nó có thể là sựkhẳng định hay phủ định
- Phụ ngữ câu chỉ quan hệ tình thái
- Phụ ngữ câu chỉ quan hệ người nói với người nghe có thể nêu lời gọiđáp, đưa đẩy
d Giải ngữ câu
Giải ngữ của câu là bộ phận để làm sáng tỏ thêm một phương diện nào
đó liên quan gián tiếp đến câu làm cho người ta hiểu câu nói rõ hơn, đúnghơn Thông thường nó có tác dụng bổ sung các chi thiết, bình phẩm việc nói
Trang 34trong câu, làm rõ xuất xứ, làm rõ thái độ cách thức, thứ tự khi câu được diễnđạt.
Trang 35Về cấu tạo giải ngữ có thể là một từ, một cụm từ, một câu, thậm chí
một chuỗi gồm nhiều câu
e Liên ngữ
Liên ngữ được dùng để nối ý của câu chứa nó với ý của câu đứng trướchoặc đứng sau câu ấy, với ý cả cụm gồm nhiều câu đứng trước hoặc sau câu
ấy
Liên ngữ đứng đầu câu, cũng có khi liên ngữ đứng sau chủ ngữ
1.1.3 Phân loại câu tiếng Việt
Xét về mặt cấu tạo câu được chia thành câu đơn và câu phức
1.1.3.1 Câu đơn
Câu đơn là một câu được cấu tạo từ một cụm chủ - vị duy nhấtlàm thành nong cốt câu
Ví dụ: Trời mưa.
Căn cứ vào ngữ pháp có thể chia câu đơn thành hai kiểu:
- Câu đơn hai thành phần
- Câu đơn đặc biệt (hay câu đơn không xác định thành phần)
(1) Câu đơn hai thành phần
Câu đơn hai thành phần là câu có một cụm chủ vị duy nhất làm thànhnòng cốt câu
Câu đơn hai thành phần chiếm vị trí trung tâm và chủ yếu trong việcmiêu tả ngữ pháp về câu
2) Câu đơn đặc biệt
Câu đơn đặc biệt là kiểu câu có một trung tâm ngữ pháp chính , khôngchứa hay không hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai có quan hệ với nó
như là quan hệ giũa chủ ngữ với vị ngữ Ví dụ: Mưa! Tạnh!
Trang 36Câu đơn đặc biệt chia ra hai loại lớn là câu đơn đặc biệt - danh từ
và câu đơn đậc biệt - vị từ
Trang 37a Câu đơn đặc biệt - danh từ.
Câu đơn đặc biệt- danh từ là kiểu câu có trung tâm cú pháp chính làdanh từ hay cụm danh từ Loại câu này nêu lên sự tồn tại hiển hiện của vật,hiện tượng đang bày ra trước mắt hay xuất hiện tại thời điểm đó
b Câu đơn đặc biệt - vị từ
Câu đơn đặc biệt - vị từ có trung tâm cú pháp chính là động từ, tnh từ
Câu phức thành phần là câu gồm hai cụm chủ - vị trở lên, trong đó chỉ
có một cụm chủ - vị làm nòng cốt câu, những cụm chủ - vị còn lại đều bị baohàm bên trong nòng cốt câu
(2) Câu ghép
Câu ghép là câu gồm hai cụm chủ - vị trở lên, mỗi cụm chủ - vị có tư cáchmột nòng cốt câu, tức là không cm chủ - vị nào bao hàm cụm chủ - vị nào
Ví dụ: Nhờ thời tiết tốt nên mùa màng bội thu.
Câu ghép được chia thành hai loại lớn như sau:
- Loại có từ liên kết (từ chỉ quan hệ) gồm có kết từ và vị từ vói tác dụngliên kết
- Loại không có từ liên kết( câu ghép chuỗi)
a Câu ghép có kết từ và phụ từ.
* Câu ghép có kết từ.
Đây là kiểu câu ghép mỗi vế có một cụm chủ - vị và có kết từ nối các
vế, được coi là kiểu tiêu biểu cho câu ghép
Trang 38Có thể chia thành hai loại: Câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ.
Trang 39- Câu ghép đẳng lập.
Câu ghép đẳng lập là câu ghép có các kết từ đi kèm như: và, rồi, hãy,còn, mà, các kết từ này thường đứng đầu vế sau
Người ta chia câu ghép đẳng lập thanh các loại sau:
+ Câu ghép có quan hệ liệt kê
+ Câu ghép có quan hệ nối tiếp
+ Câu ghép có quan hệ lựa chọn
+ Câu ghép có quan hệ đối chiếu
- Câu ghép chính phụ.
Câu ghép chính phụ là câu ghép mà các kết từ thường làm thành cặp,mỗi kết từ đứng trước một vế
Người ta chia câu ghép thành các tiểu loại sau:
+ Câu ghép có quan hệ nguyên nhân - kết quả
+ Câu ghép có quan hệ điều kiện (giả thiết) - hệ quả
+ Câu ghép có quan hệ nhượng bộ - tăng tiến
+ Câu ghép có quan hệ mục đích - sự kiện
* Câu ghép có phụ từ liên kết.
Đây là câu ghép thường có những cặp phụ từ là: vừa ( mới) đã, mới đã, chưa đã, có mới, càng càng, vừa vừa, không chỉ (những) màcòn,
b Câu ghép không có liên kết.
Câu ghép không có liên kết có thể nêu, liệt kê, hay nối tiếp các sự kiện
Để phân biệt kiểu câu này với câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụngười ta gọi nó là câu ghép chuỗi
1.2 Đặt câu trong phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học
1.2.1 Phân môn Luyện từ và câu trong chương trình Tiểu học
1.2.1.1 Vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Trang 40Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Từ
là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiệnchức năng giao tiếp Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyếtđịnh tầm quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học Việc dạy luyện
từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hoá làm phong phú vốn từ của họcsinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho họcsinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng,tình cảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nóicủa người khác Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trongviệcnghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em
1.2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
a Làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em
Nhiệm vụ này bao gồm các công việc sau:
a1 Dạy nghĩa từ: Làm cho học sinh nắm nghĩa từ bao gồm việc
thêmvào vốn từ của học sinh những từ mới và những nghĩa mới của từ
đã biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của
từ Dạy từ ngữ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mớichưa biếttrong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ,phát hiện ranhững nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩakhác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau
a2 Hệ thống hóa vốn từ: Dạy học sinh biết cách sắp xếp các từ một
cách có hệ thống trong trí nhớ của mình để tch luỹ từ được nhanhchóng vàtạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạtđộng lời nói được thuận lợi Công việc này hình thành ở học sinh kĩ năng đốichiếu từ trong hệ thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên