1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

NATM method Phương pháp thi công đường hầm

16 1,7K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 491,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp xây dựng hầm mới của Áo (NATM) là phương pháp xây dựng hầm được hình thành trên cơ sở lý thuyết đúc kết từ thực tế xây dựng hầm trong thời gian dài, bao gồm các trình tự, biện pháp thi công và xử lý khối đất đá trên vòm hầm sao cho đất đá xung quanh hầm được liên kết thành kết cấu vòm chống đỡ. Do đó, tự bản thân khối đất đá xung quanh sẽ trở thành một phần kết cấu chống đỡ hầm.

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP NATM

GVHD: TS NGUYỄN DANH THẮNG

(BM Cầu Đường, Khoa KT Xây Dựng, ĐH Bách Khoa Tp HCM)

Email: ndthang@hcmut.edu.vn

Tel: 0913-88-3456 Facebook: Nguyen Danh Thang

Trang 2

GIỚI THIỆU

Phương pháp xây dựng hầm mới của Áo (NATM) là phương pháp xây dựng hầm được hình thành trên cơ sở lý thuyết đúc kết từ thực tế xây dựng hầm trong thời gian dài, bao gồm các trình tự, biện pháp thi công và xử lý khối đất đá trên vòm hầm sao cho đất đá xung quanh hầm được liên kết thành kết cấu vòm chống đỡ Do đó, tự bản thân khối đất đá xung quanh sẽ trở thành một phần kết cấu chống đỡ hầm

Trang 3

SỰ KHÁC BIỆT CỦA NATM

Về công tác khảo sát:

- Thu thập được các chỉ tiêu cơ học của đất đá, điều kiện địa chất, điều kiện thuỷ văn phục vụ cho công tác thiết kế tuyến, hình dạng, tiết diện công trình, đánh giá mức độ

ổn định của khối đá và lập phương án thi công…

-Trong qúa trình thi công, những khảo sát bổ sung cũng sẽ được thực hiện nếu cần thiết khi gặp điều kiện đất đá thay đổi ngoài dự kiến hoặc đường hầm mất ổn định mạnh sau khi đào để phục vụ việc điều chỉnh thiết kế hay đưa ra biện pháp chống giữ

bổ sung

Về công tác thiết kế:

Không còn tồn tại khái niệm kết cấu chống tạm hay kết cấu chống cố định Tất cả các thành phần kết cấu chống “ban đầu” ngay sau khi đều được xem là một phần trong kết cấu chống “cuối cùng”, đây là khái niệm chỉ thể hiện thời gian kết cấu chống được lắp dựng chứ không thể hiện sự khác nhau về vai trò và nhiệm vụ của chúng

Yêu cầu về tính chính xác và hiệu quả của các giải pháp thiết kế trong giai đoạn trước khi thi công không đòi hỏi ở mức độ cao nhất và thường xuyên được điều chỉnh, bổ sung trong suốt quá trình thi công dựa trên kết quả quan trắc thu được

Trang 4

SỰ KHÁC BIỆT CỦA NATM

Về công tác thi công:

- Ảnh hưởng quyết định tới toàn bộ quá trình xây dựng Khác biệt lớn nhất là việc áp dụng và đánh giá đúng vai trò của công tác quan trắc như là một phần bên trong của chu trình xây dựng

- Có tính linh hoạt rất cao, người thi công không bị bó buộc hay phải cứng nhắc tuân theo một vấn đề đã đưa ra trong thiết kế, đòi hỏi phải có đủ trình độ, kinh nghiệm để

có thể đưa ra những quyết định chính xác một cách nhanh nhất giải quyết những khó khăn gặp phải ngay tại hiện trường

- Công nghệ thi công không thể hiện sự khác biệt nhiều Thành công nhờ quan niệm linh hoạt trong quá trình thi công, hay là sự kết hợp các giải pháp khác nhau một cách hợp lý để đạt được mục tiêu “bảo dưỡng” khối đá ở mức tối đa Đây chính là chìa khoá

để đạt được cả 3 yếu tố: tính an toàn, chất lượng công trình và hiệu quả kinh tế

Trang 5

YÊU CẦU ÁP DỤNG NATM

• Công tác lập kế hoạch

- Tiến hành khảo sát điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn thật thận trọng và tổng

quát

- Xây dựng các chỉ tiêu cơ học đất, đá và địa chất với ý nghĩa thực tiễn cao làm cơ

sở cho việc khảo sát, đánh giá mức độ ổn định khối đá

- Chuyển hoá hợp lý những nhận thức có được về khối đất, đá vào công tác lập

kế hoạch chi tiết, theo từng giai đoạn thi công dưới dạng các phương án thi công cụ thể, bao gồm: trình tự thi công, các kết cấu chống và trình tự lắp dựng theo từng công đoạn cho đến khi hoàn thiện kết cấu chống

- Lập chương trình đo quan trắc địa kỹ thuật song song với quá trình thi công

- Cần có những khẳng định, quyết định về giải pháp cho những khu vực đất đá

yếu

Trang 6

YÊU CẦU ÁP DỤNG NATM

* Công tác thi công

- Thực hiện chính xác các phương án thi công đã lập

- Ghi chép và phân tích thường kỳ các thông tin về điều kiện khối đá, độ ổn định

của đường hầm sau khi đào để có những biện pháp hợp lý, tối ưu kịp thời chính xác ngay tại hiện trường bởi những người có đủ kinh nghiệm để gia cố bổ sung, điều chỉnh quy trình đào chống phục vụ các đoạn đào tiếp theo

- Phải có sự cộng tác chặt chẽ của các chuyên gia đầy kinh nghiệm trong mọi công việc từ giai đoạn quy hoạch, thiết kế đến khi thi công

- Đội ngũ cán bộ, công nhân trực tiếp thi công phải có hiểu biết nhất định về phương pháp NATM, có tinh thần trách nhiệm ý thức chủ động cao trong công việc

* Công tác điều hành, quản lý

Phải có một cơ cấu tổ chức quản lý đủ mạnh để đảm bảo chất lượng, tính an toàn và hiệu quả kinh tế của công trình

Trang 7

ƯU ĐIỂM CỦA NATM

- Có khả năng áp dụng trong nhiều điều kiện khối đá khác nhau

- Dễ dàng và linh hoạt để sự dụng cho các hình dạng tiết diện ngang công trình ngầm khác nhau

- Có tính kinh tế cao do tối ưu hoá được kết cấu chống giữ

- Sử dụng có tính kinh tế đối với các dự án đấu thầu được phân chia thành nhiều gói thầu nhỏ

- Kết hợp dễ dàng với phương pháp đào bằng máy (TBM)

- Yêu cầu vốn đầu tư ban đầu tương đối nhỏ và có khả năng thu hồi vốn nhanh

Trang 8

NHƯỢC ĐIỂM CỦA NATM

-Khi áp dụng trong điều kiện có nước ngầm đòi hỏi phải có công tác khảo sát bổ sung

- Tốc độ tiến gương tương đối nhỏ

- Đội ngũ cán bộ công nhân tham gia xây dựng đòi hỏi phải được đào tạo và đã trải qua thực tế

- Mức độ đòi hỏi cao về vật liệu và biện pháp thi công

- Có khả năng gây rủi ro với cả nhà thầu và chủ đầu tư

- Khả năng tự động hoá các công tác bị hạn chế

Với những ưu điểm vượt trội kể trên, cộng thêm với sự hỗ trợ của các phương tiện máy móc tân tiến, NATM ngày càng được sử dụng nhiều để thay thế phương pháp mỏ truyền thống để thi công hầm và các công trình ngầm qua núi

Trang 9

NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG CƠ BẢN

1) Kết cấu hầm là tổ hợp giữa đá núi và vỏ hầm Hầm được chống đỡ chủ yếu bằng

khối đá xung quanh Hệ thống chống đỡ hầm chỉ nên áp dụng hạn chế và mang tính hỗ trợ hiệu ứng tự ổn định của khối đá

2) Phải duy trì cường độ nguyên thủy của khối đá Cách chống đỡ truyền thống

bằng gỗ và/hoặc bằng vòm thép không thể giúp ngăn ngừa sự biến dạng của khối đá xung quanh hầm Bê tông phải được phun ngay sau khi đào để có thể ngăn sự biến dạng của khối đá một cách hữu hiệu

Theo công nghệ thi công hầm truyền thống, vẫn có một khoảng trống giữa hệ thống chống đỡ và khối đá Khối đá xung quanh chỉ được chống đỡ thông qua các điểm tiếp xúc nên có xu hướng biến dạng vào phía trong đường hầm nhằm lấp đầy khoảng trống nói trên Sự rời rạc (biến dạng) của khối đá sẽ có xu hướng phát triển đến độ sâu tính

từ tường hầm Theo phương pháp NATM, sử dụng bêtông phun trực tiếp và bám chặt với bề mặt khối đá quanh đường hầm nên ngăn không cho khối đá biến dạng

Trang 10

3) Biến dạng của khối đá phải được ngăn chặn hợp lý vì việc khối đá rời rạc sẽ làm

cho cường độ của nó bị giảm đi Cường độ của khối đá, phụ thuộc chủ yếu vào lực ma sát của mỗi phân khối đá, sẽ giảm xuống khi ma sát giảm Nguyên tắc này áp dụng chủ yếu đối với đá cứng Đối với đá mềm, chẳng hạn như lớp đá trầm tích sau Kỷ Đệ Tam đến Kỷ Đệ Tứ, đặc tính của chúng sẽ phụ thuộc vào lực dính và góc nội ma sát

4) Khối đá phải được giữ trong các điều kiện ứng suất nén ba trục Cường độ của

khối đá chịu ứng suất nén đơn trục và/hoặc hai trục thì thấp hơn cường độ trong điều kiện ba trục

Cường độ chịu nén của khối đá ở điều kiện nén nhiều trục sẽ cao hơn khối đá trong điều kiện nén một trục Sau khi đào hầm, vách hầm sẽ ở trong trạng thái nở hông cho đến khi hệ thống chống đỡ được lắp đặt Để duy trì trạng thái ứng suất nén ba trục và

sự ổn định của khối đá, vách hầm phải được phủ kín bằng bêtông phun

Trang 11

5) Biến dạng của khối đá phải được ngăn chặn hợp lý Phải thiết lập hệ thống

chống đỡ để ngăn chặn sự giãn nở hoặc nguy cơ đổ sập của khối đá Nếu hệ thống

chống đỡ được thiết lập một cách thích hợp thì chất lượng của việc đào hầm sẽ tăng đồng thời đảm bảo hiệu quả kinh tế

Nếu biến dạng cho phép vượt quá giới hạn, vùng biến dạng dẻo quanh hầm phát triển

và khe nứt xuất hiện “Ngăn chặn sự biến dạng” nghĩa là giảm thiếu tối đa sự biến

dạng xung quanh hầm do những biến dạng xảy ra trong khi đào hầm là không thể tránh khỏi, ví dụ biến dạng đàn hồi và/hoặc biến dạng do nổ mìn Vì thế, giới hạn biến dạng cho phép cần được đề ra ứng mỗi loại hệ thống chống đỡ và được cập nhật từ các kết quả đo đạc quan trắc Địa kỹ thuật

6) Hệ thống chống đỡ phải được lắp đặt kịp thời Lắp đặt các hệ thống chống đỡ

quá sớm hay quá muộn sẽ đem lại kết quả bất lợi Hệ thống chống đỡ cũng không

được quá mềm hay quá cứng Các hệ thống chống đỡ cần có một độ mềm dẻo thích hợp để duy trì cường độ của khối đá

Nếu hệ thống chống đỡ được lắp đặt quá sớm, áp lực tác dụng lên kết cấu chống đỡ sẽ rất cao Mặt khác áp lực sẽ tiếp tục tăng lên khi lắp đặt hệ thống chống đỡ chậm Hệ thống chống đỡ được lắp đặt đúng lúc có khả năng giảm tải trọng đến nhỏ nhất Nếu

hệ thống chống đỡ quá cứng sẽ đắt, quá mềm thì khối đá biến dạng nhiều, tải trọng tác dụng lên hệ thống chống đỡ sẽ rất cao Tải trọng tác động lên hệ thống chống đỡ sẽ giảm đến nhỏ nhất khi hệ thống chống đỡ có độ mềm dẻo thích hợp

Trang 12

7) Cần nghiên cứu khảo sát đặc tính biến dạng phụ thuộc thời gian của khối đá để

đánh giá thời gian thích hợp khi lắp đặt hệ thống chống đỡ

8) Không chỉ dựa vào công tác thí nghiệm trong phòng mà còn phải tiến hành đo đạc biến dạng đường hầm để đánh giá thời gian thích hợp lắp đặt kết cấu chống

đỡ Thời gian tự đứng vững của vách hầm, tốc độ của sự biến dạng và loại đá là những

nhân tố quan trọng để tính toán thời gian chống đỡ vách đào của khối đá

Đối với phương pháp NATM, công việc không thể thiếu được là đo đạc quan trắc

Những nhân tố được nhắc đến ở trên được xác định từ kết quả đo đạc quan trắc và

những tính toán mang tính thống kê dựa trên kết quả của việc đo đạc quan trắc rất có ích cho việc dự đoán được sự biến dạng ở bước đào hầm tiếp theo

9) Nếu sự biến dạng và/hoặc sự tơi của khối đá được dự đoán là rất lớn, bề mặt hầm đã đào phải được phun bê tông kín như là màn che Kết cấu chống đỡ bằng gỗ

và thép chỉ tiếp xúc với bề mặt tường hầm ở các điểm chèn Vì thế, đất đá giữa các điểm tiếp xúc sẽ vẫn còn không được chống đỡ nên sự biến dạng và/hoặc tơi của khối

đá sẽ phát triển

10) Vỏ hầm phải mỏng và có độ mềm dẻo thích hợp nhằm triệt tiêu mô men uốn

và tránh được phá hoại do ứng suất uốn gây ra Không chỉ lớp vỏ hầm ban đầu

(bêtông phun) mà cả lớp vỏ hầm hoàn thiện cũng cần phải mỏng

Trang 13

11) Trong trường hợp hệ thống chống đỡ (ban đầu) cần phải gia cường, các thanh thép, khung chống thép và neo đá nên được sử dụng Không nên tăng chiều dày lớp

bê tông vỏ hầm vì sẽ làm giảm diện tích tiết diện khai thác của hầm

12) Thời gian và phương pháp thi công vỏ hầm được quyết định dựa trên kết quả quan trắc của thiết bị Thông thường lớp bê tông vỏ hầm được thi công sau khi biến

dạng của hầm đã ổn định Nếu sự biến dạng có xu hướng gia tăng, cần kiểm tra kỹ nguyên nhân Trong trường hợp này , lớp bê tông vỏ hầm phải được thiết kế đủ cường

độ chống lại áp lực của khối đá tác dụng lên

13) Về mặt lý thuyết, cấu trúc của hầm giống như một cái ống hình trụ dày gồm

hệ thống chống đỡ và vỏ hầm cùng với môi trường đất đá xung quanh Các cấu

trúc này hợp lại với nhau làm cho hầm tự ổn định

Hệ thống chống đỡ truyền thống gồm phần vòm và trụ đỡ, khối đá xung quanh được xem như là tải trọng tác dụng lên hầm Theo lý thuyết NATM, hầm được xem như là một cấu trúc hỗn hợp gồm khối đá, hệ thống chống đỡ và vỏ hầm

14) Việc cấu tạo mặt cắt hầm kín bằng vòm ngược tạo nên đường ống hình trụ là cần thiết vì cấu trúc này có thể chịu ứng suất của đá cao hơn.

Trang 14

15) Hành vi (trạng thái) của khối đá phụ thuộc vào tiến trình đào hầm và sự lắp đặt hệ thống chống đỡ cho đến khi kết cấu của hầm kín được hình thành Mômen

uốn bất lợi xuất hiện tại khu vực tiếp giáp của phần trên vòm hầm và tường giống như kết cấu dầm hẫng khi khoảng cách giữa các bề mặt gương hầm của phần vòm và phần tường là quá dài

Ứng suất uốn như mô tả ở trên sẽ phát triển do lún tác động lên hệ thống chống đỡ lắp đặt ở phần trên vòm hầm, khi sức chịu tải của móng hệ thống chống đỡ nhỏ hơn tải trọng tác động lên

16) Từ quan điểm phân bố lại ứng suất, phương pháp đào toàn mặt cắt tốt hơn các phương pháp khác Chia gương hầm thành nhiều gương nhỏ sẽ khiến cho chất

lượng khối đá xung quanh hầm giảm đi nhanh chóng do phân bố lại ứng suất

Tuỳ thuộc vào quá trình đào hầm, việc phân bố ứng suất của khối đá xung quanh sẽ xảy ra và cuối cùng đạt đến một trạng thái ứng suất mới Khối đá xung quanh hầm gặp phải tình trạng có tải và không tải lặp đi lặp lại trong suốt quá trình phân bố lại ứng suất Đôi khi trạng thái này lặp lại dẫn đến kết quả khối đá bị phá hoại Tuy nhiên, rất khó thực hiện phương pháp đào toàn mặt cắt ở những vùng đá xấu như đá phong hoá nặng và/hoặc đất Trong các trường hợp như vậy ta phải chia gương hầm thành những gương nhỏ và cần phải đo đạc kiểm tra tính ổn định của mỗi phần hầm đó

Trang 15

17) Phương pháp đào hầm có ánh hưởng rất lớn đến khối đá xung quanh, chẳng

hạn chu kỳ và trình tự đào hầm, thời gian thi công vỏ hầm, thời gian đóng kín vỏ

hầm, và cần được kiểm soát để tạo ra tổ hợp kết cấu cũng như thiết lập sự ổn định của đường hầm

18 ) Mỗi bộ phận hầm phải duy trì hình dạng tròn nhằm tránh sự tập trung ứng suất

bất lợi

19) Đối với hầm kết cấu vỏ đôi thì vỏ hầm bên trong phải mỏng Bất kỳ lực cắt tác

động vào đường biên bên ngoài hầm và khối đá sẽ không truyền sang bê tông vỏ hầm Chỉ có lực hướng tâm truyền đến kết cấu vỏ đôi của hầm

20) Kết cấu tổ hợp của khối đá và kết cấu chống đỡ bên ngoài (ban đầu) phải

hình thành trước khi thi công lớp bê tông vỏ hầm bên trong Lớp vỏ hầm bên trong

chỉ có tác dụng làm tăng hệ số an toàn cho hầm Tuy nhiên, độ ổn định của kết cấu hầm cần được xem xét bao gồm cả lớp bê tông vỏ hầm khi hầm gặp một lưu lượng lớn nước thấm vào và/hoặc dự báo sự ăn mòn của các neo đá

21) Thiết bị đo đạc, quan trắc đóng vai trò quan trọng đối với công tác thiết kế và thi

công hầm Việc đo ứng suất tác động lên vỏ hầm và đo đạc sự dịch chuyển của

vách hầm là đặc biệt cần thiết khi thi công hầm.

Trang 16

22) Giải phóng áp lực của nước ngầm xuất hiện trong khối đá bằng hệ thống thoát nước.

Áp lực thủy tĩnh xung quanh đường hầm sẽ thay đổi tùy thuộc vào sự biến đổi mực nước ngầm Hệ thống thoát nước ngầm là cách làm giảm áp lực thủy tĩnh hữu hiệu nhất

Ngày đăng: 07/06/2017, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w