Mặt khác, theo PTKT cổ phiếu tăng giá hoặc giảm giá nếu đi kèm với khối lượng giao dịch tương đối lớn là dấu hiệu của xu thế sẽ được duy trì còn nếu kèm với khối lượng tương đối nhỏ là
Trang 1Phân Tích Kỹ Thuật
Trang 2L ch s PTKT ị ử
L ch s PTKT ị ử
Th k 8, Sokyo Honma, ng ế ỷ ườ i Nh t, đã ghi chép l i giá g o d ậ ạ ạ ướ i
d ng hình nh đ phân tích bi n đ ng c a th tr ạ ả ể ế ộ ủ ị ườ ng Candlestick.
Charles Dow đ ượ c xem là cha đ c a Phân tích k thu t hi n t i ẻ ủ ỹ ậ ệ ạ
Lý thuy t Dow ế
1920-1970: Là th i gian phát tri n c c th nh c a PTKT v i r t ờ ể ự ị ủ ớ ấ nhi u ph ề ươ ng pháp và công c phân tích đ ụ ượ c t o ra trong giai ạ
đo n này ạ
1930-1940, Graham & Dodd sáng t o ra tr ạ ườ ng phái Phân tích c ơ
b n ả
Phân tích k thu t sau đó xu t hi n s thoái trào khi lý thuy t th ỹ ậ ấ ệ ự ế ị
tr ườ ng hi u qu (Efficient Markets Hypothesis) ra đ i ệ ả ờ
Tuy nhiên, s phát tri n c a máy tính và các ph n m m ghi nh n ự ể ủ ầ ề ậ giá đã giúp Phân tích k thu t có b ỹ ậ ướ c phát tri n m nh m tr ể ạ ẽ ở
l i ạ
Ngày nay, PTKT là m t b ph n không th thi u trong phân tích ộ ộ ậ ể ế
Trang 31.1 Khái niệm:
PTKT là sự nghiên cứu biến
động của TT, chủ yếu thông qua việc sử dụng các đồ thị nhằm
mục đích dự đoán các xu thế
biến động của giá trong tương
lai.
Trang 61.2 Có 3 giả định làm cơ sở cho
việc tiếp cận PTKT:
- Biến động thị trường phản ánh tất cả.
- Giá dịch chuyển theo xu thế
chung.
- Lịch sử sẽ tự lặp lại.
Trang 7 Biến động thị trường phản ánh
tất cả:
Đây có thể coi là nền tảng của
PTKT Mọi lý thuyết, phân tích
khác muốn được chấp nhận thì
trước tiên phải hiểu và chấp nhận
giả định này
Trang 10 Lịch sử sẽ tự lặp lại.
Phần lớn nội dung của PTKT và việc
nghiên cứu biến động TT đều phải nhằm vào nghiên cứu tâm lý con người Chẳng hạn như những mô hình giá, những mô
hình này đã được xác định và chứng
minh từ hơn 100 năm nay, chúng giống như những bức tranh về đồ thị biến động giá.
Trang 11Những thách thức đối với PTKT:
- Bất lợi đấu tiên đối với PTKT là có thể các diễn
biến giá trong quá khứ hay các biến số thị trường
cụ thể và giá chứng khoán không lặp lại.
Theo đó, một kỹ thuật mà đã từng mang lại kết
quả trước đó có thể không cón giá trị trong
những biến động tiếp theo của thị trường.
Trang 12Mặt khác, theo PTKT cổ phiếu tăng giá hoặc giảm giá nếu đi kèm với khối lượng giao
dịch tương đối lớn là dấu hiệu của xu thế sẽ được
duy trì còn nếu kèm với khối lượng tương đối
nhỏ là dấu hiệu của sự biến động mang tính tạm
thời.
Điều này trên thực tế khó tìm được câu trả lời
một cách logic vì mọi sự thay đổi của giá cổ
phiếu đều xuất phát từ nhận định của nhà đầu tư
về giá trị của loại cổ phiếu đó.
Trang 13Ngoài ra , PTKT đòi hỏi những điều kiện nhất định về dữ liệu chứng khoán
và TTCK, nên nếu thị trường không đáp ứng đủ các yêu cầu đó người PTKT phải điều chỉnh công cụ phân tích với các
mức độ khác nhau cho phù hợp và như
vậy kết quả phân tích mang tính chủ
quan
Trang 14Nh ững lợi thế của PTKT:
a)Một trong những thế mạnh lớn nhất của PTKT
là có thể ứng dụng trong bất kỳ phương thức giao
dịch nào và bất kỳ khoảng thời gian nào,nhà
PTKT có thể sử dụng đồ thị và vẽ bao nhiêu tuỳ
thích
b)PTKT l à phương pháp phân tích khá dễ học
và dễ dùng.Nhà đầu tư không cần phải mắc nhiều
năm học những chỉ số phân tích phức tạp không
cần học cách đọc các thông tin tài chính từ các báo
cáo tài chính.
Trang 15c) PTKT kh ông phụ thuộc vào báo cáo tài
chính.Trong khi đó các nhà PTCB coi PT báo cáo
tài chính về tình hình hoạt động của DN là cơ sở
cho những dự đoán về lợi nhuận và rủi ro của từng ngành nghề, từng mã CK.
d) PTKT c ó thể cho thấy bức tranh tổng thể về thị trường,từ đó tránh được tình trạng có cái nhìn bó
hẹp về thị trường điều rất dễ xảy ra nếu chỉ chú
trọng vào một hay một nhóm nhỏ thị trường nhất
định.
Trang 16Ngoài ra,lý thuyết PTKT còn
có thể xác định thời điểm
mua bán CK nhanh và tốt hơn
các phương pháp phân tích
khác
Trang 172 C ÁC CHỈ BÁO VÀ QUI TẮC
GIAO DỊCH KỸ THUẬT
2.1 Các kỹ thuật liên quan đến giá và
khối lượng giao dịch
LÝ THUYẾT DOW
Trang 18Lý thuyết Dow là cơ sở đầu tiên cho mọi nghiên cứu kĩ thuật
trên thị trường Mặc dù, nó
thường bị coi là trễ so với thị
trường và bị những người chống
đối dựa vào đó để chỉ trích, nhưng
nó vẫn được đông đảo những
người có quan tâm đến và tôn
trọng
Trang 19Rất nhiều người, dù ít hay nhiều có sử dụng lý thuyết này
cho việc đề ra cho riêng mình
một quan điểm đầu tư đều
không nhận ra một điều là bản
chất của Lý thuyết Dow là hoàn toàn mang “tính kỹ thuật”
Trang 20 Xu thế cấp 1:
Như đã nói đến ở phần trước,
xu thế cấp 1 là những chuyển
động lớn của giá, bao hàm cả thị
trường, thường kéo dài hơn 1
năm và có thể là trong vài năm
Trang 21 Xu thế cấp 2
Xu thế cấp 2 là những điều chỉnh có tác
động làm gián đoạn quá
trình vận động của giá
theo xu thế cấp 1
Chúng là những đợt suy
giảm tạm thời (trung
gian) hay còn gọi là
những điều chỉnh xuất
hiện ở các Bull Market.
Bull Market
Trang 22Hoặc những đợt tăng giá hay còn gọi
là hồi phục xuất hiện
ở các Bear Market
Thường thì những
biến động trung gian
này kéo dài từ 3 tuần
đến nhiều tháng.
Bear Market
Trang 23 Xu thế cấp 3 (xu thế nhỏ)
Đây là những dao động trong thời gian ngắn (thường chỉ dưới 6 ngày dài tối đa 3 tuần) mà theo như lý thuyết Dow đã nói đến, bản thân chúng không thực sự có ý
nghĩa nhưng chúng góp phần tạo
nên các xu thế trung gian.
Trang 24Thị trường được chia ra làm 2 thời kỳ, mỗi thời kỳ gồm 3 giai đoạn:
Thời kỳ tăng giá:
Giai đoạn tích luỹ: Vào thời kỳ này các báo cáo tài chính thường vẫn
còn rất xấu, nhiều khi là tồi tệ; các nhà đầu tư dường như không còn mặn mà với thị trường chứng khoán, khối lượng giao dịch giảm mạnh
Và tâm lý chung của các nhà đầu tư là muốn bán ra cổ phiếu
Giai đoạn tăng trưởng đều: Trong giai đoạn này tình hình hoạt động
của các công ty tốt dần lên và thị trường chứng khoán bắt đầu thu hút các nhà đầu tư, mà trước đó đã quay lưng, trở lại với thị trường
Giai đoạn tăng trưởng nóng: Tất cả những tin tức thị trường đều là
tin tốt, thị trường tăng điểm nhanh và mạnh với khối lượng giao dịch liên tục gia tăng, ngay cả những cổ phiếu xấu nhất cũng tăng giá Đa
số các nhà đầu tư đều muốn mua vào
Trang 25Tương tự, thời kỳ giảm giá cũng tồn tại 3 giai đoạn:
Giai đoạn phân phối: Trong giai đoạn này, các báo cáo tài chính vẫn
đang rất tốt, nền kinh tế vẫn đang phủ màu hồng Tuy nhiên, những
nhà đầu tư có tầm nhìn xa cho rằng thị trường đã ở mức quá cao và liên tục bán ra cổ phiếu khi thị trường tăng Khối lượng giao dịch vẫn duy trì ở mức cao, tuy nhiên đa số nhà đầu tư bắt đầu có tâm trạng thất vọng khi không còn kiếm được nhiều lợi nhuận từ thị trường.
Giai đoạn sợ hãi: Các nhà đầu tư sốt sắng với việc bán ra hơn là
mua vào, thị trường rớt gần như đường thẳng trong khi khối lượng tăng lên đỉnh điểm.
Giai đoạn phục hồi: Trong giai đoạn này, thị trường thường đi
ngang, xu hướng giảm giá chậm lại nhưng vẫn tồn tại những nhà đầu
tư muốn bán ra để dùng tiền vào những việc khác Những cổ phiếu xấu đồng loạt giảm mạnh trong khi những cổ phiếu mạnh thường giảm ít hơn bởi các chủ doanh nghiệp lớn vẫn tiếp tục giữ cổ phiếu của họ.
Trang 262.2 Lý thuyết ý kiến đối nghịch.
Quan điểm của lý thuyết này
là nên đi ngược lại hành động
của một nhóm nhà đầu tư cụ thể Điển hình của lý thuyết này là lý thuyết "lô lẻ", theo đó giao dịch
lô lẻ thường do các nhà đầu tư
không chuyên
Trang 27Với số vốn mua hạn chế thực hiện Lý thuyết này cho rằng, các
nhà đầu tư nhỏ thường hành động
không mấy hiệu quả vì vậy nên
đưa ra chiến lược đi ngược lại với
những gì mà các nhà giao dịch lô
lẻ đang làm.
Trang 28 Số dư có xuất hiện khi
người đầu tư bán chứng khoán
mà không rút tiền ra khỏi tài
khoản giao dịch với hy vọng
tiếp tục tái đầu tư.
Các nhà PTKT coi số dư có trên TKGD là sức mua tiềm
năng.
Trang 29Vì thế họ giải thích sự
sụt giảm của số dư có
cũng tương đương với
việc đầu cơ giá hạ bởi
vì khả năng mua vào
của nhà đầu tư khi đó
sẽ thấp.
Trang 30 Số dư nợ trên tài khoản môi giới.
Khi số dư nợ tăng Dấu hiệu
của xu thế giá lên
Khi số dư nợ giảm Dấu hiệu
của xu thế giá xuống (dấu hiệu
bán ra) phản ánh sự giảm sút của nguồn vốn sẵn sàng tham
gia thị trường
Trang 31Thuyết bán khống khối lượng:
kinh nghiệm chuyên nghiệp
khi tổng khối lượng bán khống
tăng phản ánh TT có triển vọng
Trang 32Dấu hiệu tích cực: mọi giao dịch bán khống lại tất toàn (người giao dịch cuối cùng
sẽ phải mua c ổ phiếu để hoàn trả cổ phiếu họ vay) mức cầu phát sinh do việc mua cổ
phiếu sẽ đẩy giá lên.
Một số loại và dạng đồ thị Biểu đồ dạng
đường (Line chart):
Là biểu đồ biểu diễn mức giá đóng cửa được nối
liên tục với nhau.
Trang 33Ví dụ về biểu đồ dạng đường:
Trang 34Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên TTCK và nó cũng là loại biểu đồ được dùng trong thời gian lâu dài nhất Hiện tại, nó chủ yếu được sử dụng trên các TTCK mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn (như TTCK VN).
Trang 35Vì thế, loại biểu đồ này ngày càng ít được sử dụng nhất là trên các TTCK hiện đại vì ở thị trường này có diễn biến khá phức tạp, mức độ dao động trong thời gian ngắn với độ lệch khá cao Nếu dùng loại biểu đồ này để phân tích thì thường mang lại hiệu quả thấp trong phân tích.
Trang 36Hiện nay, trên các TTCK hiện đại đang dùng một số loại biểu đồ PTKT
mang lại hiệu quả cao, đó là Bar chart
và Candlestick chart.
Biểu đồ cột ( Bar chart):
Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart): Là
biểu đồ biểu diễn diễn khoản giá giao
dịch hằng ngày,hằng tháng hoặc hàng
năm.
Trang 37Ví dụ về biểu đồ dạng then chắn:
Trang 38Hiện nay, TTCK hiện đại trên thế giới các chuyên viên phân tích
thường dùng loại biểu đồ này Bởi
nó phản ánh rõ nét sự biến động của
giá chứng khoán Hai ký tự mà dạng biểu đồ này sử dụng đó là:
Trang 40Loại biểu đồ này thường được áp dụng để phân tích trên các TTCK hiện đại khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh liên tục, độ dao động của giá chứng khoán trong một phiên giao dịch là tương đối lớn.
Trang 41Bi u đ d ng ng ể ồ ạ ố
Bi u đ d ng ng ể ồ ạ ố
Trang 43Cận trên (Resistance Level):
là mức giá mà tại đó người PTKT
cho rằng người đầu tư sẽ lieân tục
bán ra Và họ cho rằng chứng khoán vượt qua cận trên là dấu hiệu của
tích cực vì nó báo hiệu chứng khoán
sẽ đạt tới một mức cao điểm mới
Trang 44Cận trên có xu hướng hình thành sau
khi cổ phiếu đã trải
qua một đợt giảm giá
từ mức giá cao hơn.
Trang 45Đáy kép (Double Bottom):
Khi dạng thức này hình thành nhà PTKT
cho rằng giá chứng khoán sẽ không xuống
thấp hơn, tuy nhiên nếu giá chứng khoán
giảm thì nó sẽ xuống tới điểm đáy mới.
Đỉnh kép (Double Top):
Ngược lại với đáy kép thì giá chứng khoán
không tiếp tục tăng cao hơn nhưng khi tăng thì PTKT cho rằng nó sẽ đạt đỉnh cao.
Trang 46Một số hình thức đồ thị
Đường xu thế:
Được hình thành bằng cách nối các
mức giá cao nhất và thấp nhất của
chứng khoán tại một thời gian nhất
định Góc nghiêng đường này phản ánh
xu thế PTKT cho rằng xu thế mới sẽ xuất hiện.
Trang 47Không bao giờ đi ngược lại xu hướng
- Never buck the trend
Luôn luôn kinh doanh theo xu hướng
- Always trade in the direction of trend
Xu hướng là bạn
- The trend is your friend
Trang 48Giá không đi theo đường thẳng mà đi thành 1 chuỗi của các đỉnh và đáy
Xu hướng lên: Khi đỉnh sau cao hơn đỉnh trước
và đáy sau cao hơn đáy trước.
Xu hướng xuống: Khi đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước và đáy sau thấp hơn đáy trước.
Không xu hướng: Khi các đỉnh và đáy đi ngang.
Khi thị trường nằm trong xu hướng lên Mua; khi thị trường nằm trong xu hướng xuống Bán; Khi thị trường không xu hướng Đứng
Trang 49Hình nh minh h aả ọ
Hình nh minh h aả ọ
Trang 53Nếu chuyển động của đồ thị vượt lên đường xu thế giảm
hoặc xuống dưới đường xu thế
tăng thì đây là dấu hiệu, có thể
nói là sớm nhất cho sự thay đổi
trong xu thế thị trường
Trang 54Điểm đột phá xuất hiện khi giá chứng khoán vượt qua mức
cận trên (thường là cao điểm)
hoặc xuống thấp hơn mức cận
dưới dấu hiệu xu thế sẽ xuất
hiện tiếp diễn
Trang 55Dạng thức giao dịch này sẽ được hình thành bằng cách vẽ
một đường nối các điểm đáy
trong khoản thời gian nhất định
của chứng khoán Hai đường vẽ
song song này sẽ có xu thế dốc
lên hoặc dốc xuống dạng giao dịch dài hạn của chứng khoán
Trang 56 Kênh:
Là khoảng giao động của giá, nếu giá
sẽ dao động trong một dải thì dải đó
gọi là kênh Dải dao động đó được xác
định bởi hai đường biên là đường xu
thế và đường kênh (channel line), hai
đường này song song với nhau Vấn đề
là làm sao có thể xác định được hai
đường này?
Trang 57Dạng đồ thị của kênh
Trang 58Mức hỗ trợ và mức kháng cự
Trang 60Mức kháng cự
Trang 62Các hình mẫu kỹ thuật (Chart Patterns)
- Tam giác hướng lên (Ascending
triangle)
Mô hình này nhìn chung được coi là một dạng mô hình trung gian mang
tính củng cố hay báo hiệu sự tiếp tuïc
xu thế hiện tại của thị trường.
Trang 64Hình tam giác hướng lên
Trang 65-Tam giác hướng xuống (Descending Triangles)
Mô hình tam giác này thường xuất
hiện trong thị trường xuống giá và
cũng mang tính củng cố (hay duy trì)
xu thế hiện tại Thời gian tồn tại của
mô hình này là khoảng 1 đến 3 tháng.
Trang 67Mô hình này phản ánh tâm lý người mua cho
rằng cổ phiếu đang vượt quá giá trị thực của
nó và mức giá hợp lý phải thấp hơn Do đó
mà đường kháng cự đi xuống trong khi
đường hỗ trợ nằm ngang Rõ ràng nếu xuất
hiện "breakout" thì giá sẽ tiếp tục giảm.
Điểm khác biệt với mô hình tam giác
hướng lên là ở chỗ khối lượng giao
dịch sẽ ít dần đi và càng ít khi tiến gần
đến điểm hội tụ
Trang 68Mô hình tam giác hướng xuống
Descending Triangles
Trang 69Hình mẫu kỹ thuật tam giác cân
Trang 71Mô hình cờ chữ nhật và cờ đuôi nheo (Flags and Pennants)
Lá cờ (Flag): Dạng này hình thành từ những
giao động giá trong một khoảng thời gian hẹp,
diễn ra sau đợt tăng giá hoặc giảm giá mạnh
Hình mẫu kỹ thuật Flags & Pennants là những
mô hình tiếp tục xu thế của thị trường trong ngắn hạn, nó đánh dấu một bước củng cố để tiếp tục
lấy lại xu thế của thị trường Thông thường trước khi xảy ra những hình mẫu kỹ thuật này
Trang 72thì được xác nhận bằng sự tăng hoặc
giảm giá mạnh kết hợp với khối lượng
giao dịch lớn, nó đánh dấu điểm chính
giữa của xu thế biến động giá (thực chất
nó là những hình mẫu kỹ thuật mang tính chất củng cố của xu hướng biến động giá chứng khoán)
Trang 74Hình mẫu kỹ thuật củng cố (duy trì) xu
thế thị trường
+ HMKT hình tam giác hướng lên(1)
+ HMKT cốc và chuôi( Cup and Handle)
(2)
+ HMKT hình tam giác hướng xuống(3)
+ HMKT hình tam giác cân(4)
+ HMKT hình cờ chữ nhật và hình cờ đuôi nheo(5)
+ HMKT hình chữ nhật(6)
Trang 75Hình mẫu kỹ thuật đảo chiều xu thế thị trường
+ Mô hình hai đáy(7)
Trang 76Khối lượng khẳng định xu hướng giá
Nếu mức giá tăng và khối lượng giao dịch
tăng
-Người mua đang quan tâm đến thị trường -Xu hướng giá lên đang tiếp diễn
Nếu giá giảm và khối lượng giao dịch tăng
-Người bán đang quan tâm đến thị trường
-Xu hướng giá giảm đang tiếp diễn
Trang 77Khối lượng khẳng định xu hướng giá
Trang 78Khối lượng không thể khẳng định xu hướng giá