Những nét sơ lược về cuộc đời của đại thi hào Đỗ Phủ: Ông sinh năm 712- mất năm 770 T T M , hi u Th o ự Tử Mĩ, hiệu Thảo Đường ử Mĩ, hiệu Thảo Đường ĩ, hiệu Thảo Đường ệu Thảo Đường ả
Trang 2Những nét sơ lược về cuộc đời của đại thi hào Đỗ Phủ:
Ông sinh năm 712- mất năm 770
T T M , hi u Th o ự Tử Mĩ, hiệu Thảo Đường ử Mĩ, hiệu Thảo Đường ĩ, hiệu Thảo Đường ệu Thảo Đường ảo Đường Đường ng
Ơng sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam Ơng nội
là Đỗ Thẩm Ngơn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ
Đường Cha là Đỗ Nhàn, cĩ làm quan
Trang 4 Với trí thông minh hơn người, Đỗ Phủ bắt đầu sáng tác thơ ca vào lúc
bẩy tuổi Tài cộng với sự cần cù
nhẫn nại: "Đọc sách vỡ muôn quyển,
Hạ bút như có thần" (Phụng tặng Vi
tả thừa trượng nhị thập nhị vận)
trở thành nhà thơ trẻ được các bậc đàn anh mến phục
Trang 5• Năm hai mươi tuổi, bắt đầu đi ngao
du tổng cộng ba lần với thời gian
trên dưới mười năm:
• lần 1: sau khi ngao du, năm 21 tuổi, ông trở về Lạc Dương thi tiến sĩ nhưng không đậu
• lần 2: trong khoảng thời gian này, năm
744, Đỗ Phủ gặp Lí Bạch lần thứ nhất
• lần 3: Đỗ Phủ, Lí Bạch,Cao Thích cùng rủ nhau đi săn bắn, uống rượu ngâm thơ
Trang 6 Đỗ Phủ luôn nuôi chí lớn được
đóng góp sức mình cho quê hương đất nước, luôn ước mơ được làm quan,là người có những ý tưởng
lớn nhưng ông lại không thành
công trên con đường quan lộ Hai lần đi thi nhưng đều thất bại, chỉ
được giữ những chức quan nhàn.
Trang 7• Cuộc sống lưu lạc phong trần cộng
thêm tuổi già sức yếu, vào mùa đông năm 770 , Đỗ Phủ đã qua đời trên một chiếc thuyển nát lên đênh trên sông
Tương.
• Biến cố lớn nhất trong đời của Đỗ Phủ
chính là nạn An Lộc Sơn đã khiến Đỗ Phủ rơi vào con đường lưu lạc
Trang 8Tác phẩm và phong cách thơ của Đỗ Phủ:
Trong suốt cuộc đời đầy thăng trầm của mình, Đỗ Phủ đã sáng tác được
1500 bài thơ
Những bài hay nhất đều được sáng
tác trong gia đoạn ông lưu lạc
Trang 9 Nghệ thuật của thơ Đỗ Phủ:
- phạm vi sử dụng từ vựng rộng lớn
- từ cách nói trực tiếp và thông tục cho đến cách nói
bóng và ngôn ngữ văn
chương
Trang 10• - Nổi tiếng nhất ở cận thể thi , một kiểu thơ có nhiều ràng buộc về
hình thức và số lượng từ trong
câu Khoảng hai phần ba trong
1.500 tác phẩm hiện còn của ông là
ở thể này, và nói chung ông được coi là nhà thơ tiêu biểu cho thể loại này
Trang 11•Những bài thơ đạt nhất của ông
trong thể loại dùng phép đối
song song để thêm nội dung
biểu đạt thay vì chỉ là một quy
định kỹ thuật thông thường.
Trang 12 Nội dung thơ xoay
quanh ba khía cạnh chủ
yếu: tinh thần phản kháng cường quyền, lòng yêu
thương nhân dân và nhiệt
Trang 13 Đỗ Phủ còn có một danh hiệu khác là “Thi
Thánh” , ngang hàng với Khổng Tử- vị thánh về triết học.
Nhiều người cho rằng Đỗ Phủ là người theo chủ nghĩa duy ngã vì ông rất hay nhắc đến sự thống
khổ của riêng mình Nhưng thực tế hình ảnh
ơng trong đĩ luơn được quan sát dưới gĩc độ khách quan và hầu như chỉ được đưa ra sau chĩt để tự cảm thán Vì thế, ơng khiến bức
tranh xã hội trong thơ mang tính khái quát cao
hơn khi so sánh nĩ với một cá nhân tầm
thường là chính mình.
Trang 14Thi hào dân tộc Nguyễn Du rất
ngưỡng mộ Đỗ Phủ :
"Thiên cổ văn chương, thiên cổ sư
Bình sinh bội phục vị thường li"
( Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương)
Câu thơ trên nghĩa là: Văn chương
lưu truyền muôn đời, là bậc thầy
muôn đời Bình sinh ta khâm phục,
Trang 15Hoàn cảnh sáng tác bài “Thu hứng” :
- “Thu hứng” là một chùm bài thơ rất nổi tiếng của Đỗ Phủ, gồm 8 bài, được làm vào năm 766, khi nhà thơ đang ở Quỳ Châu Trong chùm bài thơ này thì bài được xem là cương lĩnh của cả chùm thơ Hà
Nam, quê Đỗ Phủ, có thành Lạc Dương từng bị An Lộc Sơn chiếm đóng và hiện còn là nơi tranh chấp giữa các thế lực cầm quyền Vì thế, tuy có rất nhiều chỗ tả cảnh song tư tưởng cơ bản của cả chùm thơ là lòng yêu quê hương sâu nặng của nhà thơ Ở Việt
Nam xưa, các cô ả đào trước khi ca bài “Tì bà
hành” của Bạch Cư Dị thường ca bài “Thu hứng số
Trang 16玉露凋傷楓樹林, 巫山巫峽氣蕭森。 江間波浪兼天湧, 塞上風雲接地陰。 叢菊兩開他日淚, 孤舟一繫故園心。 寒衣處處催刀尺, 白帝城高急暮砧。
Trang 17Phiên âm
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu Sơn, Vu Giáp, khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm
Trang 18Dịch nghĩa
Sương móc trắng xóa làm tiêu điều cả rừng cây phong, Núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt.
Giữa dòng sông, sóng vọt lên tận chân trời,
Trên cứa ải, mây sa sầm giáp mặt đất.
Khóm cúc nở hoa đã hai lần(làm) tuôn rơi nước mắt
ngày trước,
Con thuyền lẻ loi buộc mài tấm lòng nhớ nơi vườn cũ
Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét,
Về chiều, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo
Trang 19Bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ
Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khí thu loà.
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước,
Thành Bạch, chày vang bóng ác tà
Trang 202 phần: tiền giải:4 câu đầu: tả cảnh mùatiền giải
thu ở Quỳ Châu
hậu giải::4 câu sau: tả tình-cảm xúc của nhà thơ trước cảnh thu ở Quỳ Châu
Trang 21Hai câu đề (liên đầu)
Lác đác rừng phong hạt móc sa, Ngàn non hiu hắt,khí thu lòa.
cảnh thu buồn bã(hiu hắt,lòa…….)
so sánh với nguyên tác (điêu thương,tiêu
sâm,ngàn non)
• bổ ngữ (rừng phong)trạng ngữ; động từ(làm tiêu điều,thương tổn)tính từ(lác đác)
Trang 22Hai câu thực (liên cằm)
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm, Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
cảnh sắc hùng vĩ –nét tiêu biểu của cảnh sông
núi Quỳ Châu
Không khí hãi hùng của khung cảnh:rợn, đùn
So sánh với nguyên tác
Hình ảnh kì vĩ của bức tranh thiên niên này không đượctiếp tục mở ra mà như bị đóng sập lại ở câu thơ thứ tư:
Mặt đất mây đùn cửa ải xa
Trang 23Hai câu luận (liên cổ)
Hai câu luận (liên cổ)
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,Con thuyền buộc chặt mối tình nhà
Trang 24Hai câu kết (liên đuôi)
Lạnh lùng giục kẻ tay giao thướcThành Bạch,chày vang bóng ác tà
cảnh thực ngoài đời :không khí chuẩn bị cho mùa đông
tiếng chày đập vải :âm thanh đặc biệt có sức gợi cảm
_phương thức tả pha kể để biểu cảm