I. Khái quát về tài nguyên nước. 1. Khái niệm. Nước là yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên trái đất và cần thiết cho mọi hoạt động kinh tế xã hội của con người . Nước là tài nguyên tái tạo được, là một trong các nhân tố quyết định chất lượng môi trường sống của con người. Tài nguyên nước là lượng nước trong các ao, hồ, đầm lầy, biển, đại dương, khí quyển,..Theo Luật Tài Nguyên Nước thì tại khoản 1 điều 2 Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Phân loại và đặc điểm. 2.1. Tài nguyên nước mặt. Nước mặt là do sự bốc hơi nước trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nước ở thực vật và động vật..., hơi nước vào trong không khí sau đó bị ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơi xuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơi thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông và được tích tụ lại ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc được đưa thẳng ra biển hình thành nên lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất.Có hai loại nước mặt là nước ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên các lục địa và nước mặn hiện diện trong biển, các đại dương mênh mông, trong các hồ nước mặn trên các lục địa.
Trang 1I. Khái quát về tài nguyên nước.
1. Khái niệm.
Nước là yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên
trái đất và cần thiết cho mọi hoạt động kinh tế xã hội của con người Nước là tàinguyên tái tạo được, là một trong các nhân tố quyết định chất lượng môi trườngsống của con người
Tài nguyên nước là lượng nước trong các ao, hồ, đầm lầy, biển, đại dương, khí
quyển, Theo Luật Tài Nguyên Nước thì tại khoản 1 điều 2 Tài nguyên nước bao
gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2. Phân loại và đặc điểm.
2.1. Tài nguyên nước mặt.
Nước mặt là do sự bốc hơi nước trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nước ởthực vật và động vật , hơi nước vào trong không khí sau đó bị ngưng tụ lại trở vềthể lỏng rơi xuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơicao đến nơi thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông vàđược tích tụ lại ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc được đưa thẳng rabiển hình thành nên lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất.Có hai loại nước mặt lànước ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên các lục địa và nước mặn hiện diệntrong biển, các đại dương mênh mông, trong các hồ nước mặn trên các lục địa
2.2. Tài nguyên nước ngầm.
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bởrời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, cóthể khai thác cho các hoạt động sống của con người"
Trang 2Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nướcngầm tầng sâu Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh trongcác lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình Nước ngầm tầng mặtthường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt Do vậy, thành phần và mựcnước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt Loại nước ngầm tầngmặt rất dễ bị ô nhiễm Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp đượcngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước Theo không gianphân bố, một lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:
• Vùng thu nhận nước
• Vùng chuyển tải nước
• Vùng khai thác nước có áp
3. Vai trò của tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên quả đất.Nếu không có nước thì chắc chắn không có sự sống xuất hiện trên quả đất, thiếunước thì cả nền văn minh hiện nay cũng không tồn tại được Từ xưa, con người đãbiết đến vai trò quan trọng của nước; các nhà khoa học cổ đại đã coi nước là thànhphần cơ bản của vật chất và trong quá trình phát triển của xã hội loài người thì cácnền văn minh lớn của nhân loại đều xuất hiện và phát triển trên lưu vực của cáccon sông lớn như: nền văn minh Lưỡng hà ở Tây Á nằm ở lưu vực hai con sônglớn là Tigre và Euphrate (thuộc Irak hiện nay); nền văn minh Ai Cập ở hạ lưu sôngNil; nền văn minh sông Hằng ở Ấn Ðộ; nền văn minh Hoàng hà ở Trung Quốc;nền văn minh sông Hồng ở Việt Nam
II. Hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên nước trong sản xuất và vai trò ảnh hưởng của nó đến môi trường.
Trang 31. Hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên nước của con người trong sản xuất.
Nước có vai trò chủ đạo trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như trongchăn nuôi Nước là tài nguyên không thể thiếu trong chăn nuôi thuỷ hải sản cũngnhư trồng trọt nhờ đó đã đạt được những thành tựu đáng kể về sản xuất lúa gạo ởViệt Nam, góp phần quan trọng đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứngđầu thế giới Hiện nay, nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nhiều nhất ở haivùng đồng bằng là đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng, chiếm tỷ lệ 70%lượng nước sử dụng Nước cũng đóng vai trò quyết định trong sự tăng trưởng cácsản phậm cây công nghiệp, như: chè, cà phê, hồ tiêu, mía đường, cao su
Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn Nước dùng để làm nguội các động
cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóahọc Để sản xuất 1 tấn gang cần 300 tấn nước, một tấn xút cần 800 tấn nước.Người ta ước tính rằng 15% sử dụng nước trên toàn thế giới công nghiệp như: cácnhà máy điện, sử dụng nước để làm trong quá trình hóa học, và các nhà máy sảnxuất, sử dụng nước như một mát hoặc như một nguồn năng lượng, quặng và nhàmáy lọc dầu, sử dụng nước dung môi Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loại hình sảnxuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lượng nước, loại nước khác nhau Nước gópphần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nếu không có nước thì chắc chắntoàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đềungừng hoạt động và không tồn tại
Trang 4Nước cũng đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng củaViệt Nam trong điều kiện nhu cầu về năng lượng không ngừng gia tăng Tiềm năngthuỷ điện của Việt Nam là khá lớn, tập trung chủ yếu trên lưu vực sông Hồng, sôngĐồng Nai và các lưu vực sông ở miền Trung và Tây nguyên
Năm 2010, thuỷ điện đã đóng góp khoảng 40% tổng sản lượng điện toàn quốc Dựbáo tổng công suất thuỷ điện đến năm 2025 là 33.310MW, trong đó trên 80% trong
số này là từ các nhà máy thuỷ điện xây dựng trên các sông của Việt Nam.Ảnh hưởng của hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên nước đến môi trường
2. Ảnh hưởng của việc khai thác sử dụng tài nguyên nước trong sản xuất đối với môi trường:
Nước là tài nguyên thiên nhiên quý giá, là điều kiện tất yếu để tồn tại sự sống trêntrái đất Hiện nay, cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội và sự giatăng của các hoạt động sản xuất công, nông nghiệp, dịch vụ đã kéo theo nhu cầu sửdụng nước ngày một gia tăng, cùng với đó là những ảnh hưởng nghiêm trọng đếnmôi trường một cách không kiểm soát
2.1. Những tác động đến môi trường:
Hoạt động của con người có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng, trữ lượng nước, việcsản xuất kinh doanh có đặc thù là sử dụng nguồn nước tập trung với lưu lượng lớn,điều này dễ gây tình trạng khai thác quá mức dẫn đến suy thoái, can kiệt nguồnnước ở những khu vực nhất định
2.1.1. Ô nhiễm môi trường từ nước tải bệnh viện
Nước thải từ bệnh viện cũng là nguồn gây các bệnh truyền nhiễm cho cộng đồng.Trong nước thải bệnh viện chứa nhiều vi khuẩn, vi trùng gây bệnh thải ra xungquanh khu dân cư gây nên những bệnh truyền nhiễm, các trận dịch lớn,… ảnh
Trang 5hưởng đến sức khỏe đời sống của người dân Hiện nay, cả nước có khoảng 1.000bệnh viện, mỗi ngày thải ra hàng trăm nghìn m3 nước thải chưa qua xử lý hoặc xử
lý không đạt tiêu chuẩn môi trường
2.1.2. Hoạt động công nghiệp:
Công nghiệp là nghành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi nghành có một loạinước thải khác nhau Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến sông Cầuthành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục km Khu công nghiệpViệt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn m3 nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu,giấy, dệt xuống sông Hồng làm cho nước bị ô nhiễm đáng kể Nước thải Côngnghiệp xâm nhập gây ô nhiễm các tầng chứa nước dưới đất cũng là nguy cơ gây ônhiễm kim loại nặng, nitơ và asen trong nước ngầm Theo thống kê sơ bộ thì chỉkhoảng 4,26% lượng nước thải công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môitrường (năm 2005) Với lượng chất thải khá lớn từ các nhà máy, xí nghiệp, nướcthải công nghiệp chiếm một lượng lớn trong tổng lượng nước thải hằng ngày ởthành phố lớn, hơn nữa mức độ gây ô nhiễm của nước thải công nghiệp cao hơnnhiều so với nước thải sinh hoạt do chứa nhiều hóa chất độc hại khó phân hủy Dokinh phí còn hạn hẹp, điều kiện chưa cho phép nên hầu hết nước thải thẳng ra hệthống kênh rạch, sông ngòi mà chưa qua xử lý gây nên tình trạng ô nhiễm trầmtrọng cho các nguồn này
2.1.3. Ô nhiễm từ nghành Nông nghiệp
Trong Nông nghiệp tình trạng sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các loại chấtkích thích phát triển thực vật, các loại phân bón tổng hợp quá tiêu chuẩn cho phépgây ra hiện tượng các loại hóa chất theo nước ngấm sâu vào lòng đất, ao, hồ,… gâynên tình trạng ô nhiễm nguồn nước đồng thời gây nên tình trạng thoái hóa đất.Lượng hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón được sử dụng trong nghành nông nghiệp
Trang 6mỗi năm khoảng 0,5-3,5kg/ha/vụ gây ra phú dưỡng (nồng độ chất N, P cao; yếmkhí, nước màu xanh đen có mùi khai thối) hoặc nhiễm độc nước
Ô nhiễm nguồn nước từ các làng nghề truyền thống Các làng nghề thủ công truyềnthống sử dụng nước để sản xuất hàng hóa nhưng cũng thải ra môi trường xungquanh một lượng nước thải khá lớn chưa quá hệ thống sử lý nước thải Các làngnghề truyền thống này không chú trọng đầu tư vào khâu xử lý nước thải hậu quảgây ô nhiễm cho các thủy vực (ao, hồ,…) xung quanh Hiện nay, khoảng gần 1.500làng nghề trên cả nước gây ô nhiễm trầm trọng cho nguồn nước tại nhiều điểm, đặcbiệt là các làng nghề làm giấy, dệt nhuộm,…
a. Ô nhiễm nguồn nước từ chăn nuôi gia súc, gia cầm
Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn chưa có ý thức tiếtkiệm nguồn nước trong việc vệ sinh chuồng trại chưa có hệ thống xử lí chất thải đãthải vào ao hồ , bể tự hoại để thấm vào đất gây ô nhiễm môi trường đặc biệt lànguồn nước ngầm Nước dưới đất xung quanh khu vực chôn lấp gia cầm nhiễmbệnh bị ô nhiễm do nguyên nhân chủ yếu là nước thải sinh ra trong quá trình phânhủy gia cầm phát tán ra bên ngoài hố chôn lấp do lót đáy không kỹ thuật hoặckhông lót đáy Ngoài ra, do không được đầu tư đúng mức nên hệ thống cống thoátnước chưa được xây dựng hoàn chỉnh, hầu hết các cống không có nắp nên ô nhiễmmôi trường là không thể tránh khỏi Mỗi gia đình có trung bình từ 4 – 5 người;chuồng lợn có từ 2 – 4 con; chuồng trâu, bò có từ 1 – 2 con; chuồng gà với khoảng
10 – 15 con, 10 – 20 con ngan vịt Có một đến hai ao nhỏ để thả cá Nồng độ cácchất ô nhiễm trong nước thải này rất cao, tương đương với nước rác rò rỉ trong thờigian phân hủy của gà trong hố sẽ kéo dài có thể tới một vài năm
Trang 7Ngoài ra, do không được đầu tư đúng mức nên hệ thống cống thoát nước chưađược xây dựng hoàn chỉnh, hầu hết các cống không có nắp nên ô nhiễm môi trường
là không thể tránh khỏi
b. Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt sông rạch đã
làm ô nhiễm nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sựkhuấy động nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng mặt
c. Trồng trọt:
Nhiều giếng khoan ngoài ruộng vườn để tưới tiêu không đảm bảo kỹ thuật gâynhiễm bẫn, nhiễm các hóa chất và thuốc trừ sâu …Với tình trạng sử dụng bừa bãi,tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón, các loại thuốc kích hoạt phát triển cây…Nhiều hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và pháttán rộng
Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây thấtthoát lưu lượng nước lớn trong ngành trồng trọt
2.2. Biểu hiện ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất:
a) Nguồn nước ngầm (nước dưới đất)
Nước dưới đất (NDĐ) được coi là nguồn tài nguyên thiên nhiên sử dụng đơn giảnnhất, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tự nhiên và xã hội conngười Nước dưới đất thực chất là một loại khoáng sản lỏng, cung cấp cho cácngành công nghiệp, cho sinh hoạt dân dụng, phục vụ cho nông nghiệp.Nước dưới đất có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của con người Trongnhiều trường hợp NDĐ sạch hơn nước mặt NDĐ thường được bảo vệ chống lại ônhiễm từ bề mặt bởi đất và các tầng đá Điều này giải thích tại sao hầu hết nướcsinh hoạt ở nhiều nơi trên thế giới là NDĐ
Trang 8Hiện nay, do tốc độ phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hoá nhanh chóng, dân sốngày càng tăng, trong điều kiện nhận thức của cộng đồng còn hạn chế, tình trạngkhai thác NDĐ để phục vụ cho nhiều nhu cầu ngày càng gia tăng, ở nhiều nơi đãdiễn ra tình trạng khai thác trái phép, khai thác không tuân thủ đúng quy trình quyphạm dẫn đến NDĐ đang đứng trước nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tácđộng ngược trở lại đến môi trường sống của chúng ta.Những tác động môi trườngchínhthường có thể xảy ra đối với các dự án khai thác NDĐ gồm:
Hiện tượng sụt lún mặt đất:
Khai thác nước dưới đất tạo biến động môi trường tiềm ẩn là làm biến dạng mặtđất trong khu vực khai thác Nguy cơ này thường xảy ra ở những vùng khai tháctập trung kéo dài khi không có lượng bổ cập từ các nguồn khác, từ đó mực nước hạthấp tạo thành phễu hạ thấp mực nước lớn và sâu, gây ra hiện tượng sụt lún
Hiện tượng suy giảm lưu lượng và mực nước trong các lỗ khoan khai thác:
Nguyên nhân của việc suy giảm chất lượng, mực nước còn đang là vấn đề phứctạp Tuy nhiên, một hiện tượng dễ nhận thấy nhất là số lượng lỗ khoan khai tháctăng lên rất nhiều nhưng không được bố trí thích hợp và không quản lý được lưulượng khai thác Hiện tượng này làm hạ thấp mực nước ở các lỗ khoan đang khaithác Sự suy giảm này còn do các nguyên nhân khác như ống lọc bị tắc, do hiệntương ôxít sắt hoặc hiện tượng sét hoá vách lỗ khoan
Hiện tượng suy giảm chất lượng nước dưới đất từ các công trình khai thác, do kémhiểu biết về đối tượng khai thác còn làm suy giảm chất và lượng nước khai thác.Việc khai thác nước dưới đất trong tầng Pleistocen đã làm cho lượng nước ở tầngtrên thấm xuyên qua tầng chứa nước đó làm thay đổi thành phần hoá học của nướcchứa trong tầng này ở một số nơi, việc khai thác nước đã thu hút nước từ tầng
Trang 9chứa nước có tổng lượng khoáng hoá lớn đến công trình khai thác nước, gây nhiễmmặn nước trong lỗ khoan.
Hạ thấp mực nước do hút ra một lượng nước từ lòng đất nên đã tạo ra phễu hạthấp mực nước quanh vùng khai thác Lượng nước khai thác càng nhiều thì mựcnước mặt hạ thấp càng lớn, thời gian khai thác càng lâu thì phạm vi hạ thấp mựcnước càng lớn Dẫn đến nhiễm mặn trong tầng chứa nước: Trong trường hợp khaithác nước dưới đất quá mức gần các biển mặn nước dưới đất có thể bị mặn donước mặn ở xung quanh thâm nhập vào, gây ô nhiễm nước của tầng chứa nước.Nước ở tầng chứa nước bị ô nhiễm do lôi cuốn nước bẩn từ nơi khác đến, từ cáctầng chứa nước bị ô nhiễm đến tầng khai thác qua các lỗ khoan không được xử lý,trám lấp đúng quy trình kỹ thuật
Do hệ thống cung cấp nước tập trung hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụngnước sạch cho các hoạt động sản xuất, sinh hoạt nên việc khoan giếng để khai thácnước ngầm đang diễn ra phổ biến và không có sự quản lý chặt chẽ của các cơ quanquản lý đã dẫn tới nguy cơ suy thoái chất lượng, trữ lượng nước ngầm
Làm thấp mực nước dưới đất:
Việc khai thác nước ngầm tràn lan, không có quy hoạch sẽ làm cho mực nướcngầm tại khu vực cạn kiệt dần và làm thấp mực nước ngầm, ảnh hưởng tới côngtrình khai thác nước ngầm:
Khi một công trình khai thác nước ngầm đi vào hoạt động thì ảnh hưởng của nó sẽlan rộng khá nhanh tới khu vực xung quanh, tác động tới các công trình khai tháclân cận làm cho mực nước trong các công trình này bị hạ thấp, do vậy sẽ làm tăngchi phí và giảm hiệu suất khai thác của công trình Khoảng cách giữa các côngtrình khai thác càng gần nhau thì mực nước hạ thấp càng nhiều gây sụt lún côngtrình xung quanh: Hiện tượng sụt lún do khai thác nước ngầm.Việc hạ thấp mực
Trang 10nước sẽ dẫn tới hiện tượng sụt lún các lớp đất đá trong tầng chứa nước Tại tầngđất chứa nước, có một lực đẩy Ascimet để nâng các khối đất đá lên; khi khai thácnước làm mực nước hạ thấp thì tầng đất này không còn lực đẩy Ascimet nữa và tạo
ra lỗ hổng lớn, dẫn tới sụt lún các công trình, gây thiệt hại về kinh tế cũng như tínhmạng con người
Biến đổi chất lượng nước:
Xâm nhập của nước bẩn và làm biến đổi chất lượng nước So với nước mặt, nướcngầm ít bị ô nhiễm hơn Nhưng đối với các vùng mà lớp phủ trên tầng chứa nướcmỏng hoặc có tính thấm lớn, nước mặt thấm xuống cũng rất dễ gây nhiễm bẩn tầngchứa nước Ngoài ra, ở các lỗ khoan có kết cấu cách ly kém, nước bẩn có thể theothành lỗ khoan thâm nhập vào tầng chứa nước làm ô nhiễm nước dưới đất; quátrình khai thác nước làm cho mực nước hạ thấp sẽ làm tăng độ dốc thuỷ lực củadòng thấm cũng có thể làm tăng quá trình ô nhiễm … Khi nước dưới đất đã bị ônhiễm thì việc khắc phục rất khó khăn và phức tạp, không những tốn kém kinh phí
xử lý mà còn đòi hỏi thời gian khắc phục lâu dài
b) Nguồn nước mặt:
Ngành nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, dùng để tưới tiêu hoa màu
và lúa chủ yếu là ở vùng đồng bằng Việc sử dụng nông dược và phân bón hoá họcngày càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nước nông thôn
Ngành công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nguồn nước mặt cũng rất nhiều, mỗingành có một loại nước thải khác nhau
Khu công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hoá chất, giấy, dệt, bia, nhà máy nhuộm, nhà máy mì chính MIWON… xuống Sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng kể Các Khu công nghiệp lớn và các thành phố
Trang 11lớn đông người đã tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làmnhiễm bẩn tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận.
Nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng của sự
ô nhiễm, của các đô thị ở nước ta Các loại nước thải đều được trực tiếp thải ra môitrường, chưa qua xử lý
Ô nhiễm nước sinh học do các nguồn thải đô thị hay công nghiệp bao gồm các
chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy đường, giấy, nhà máy chế biếnthực phẩm…Nguồn ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do các chất thải, các chấthữu cơ có thể lên men được, chất thải sinh hoạt hoặc công nghiệp có chứa chất cặn
bã sinh hoạt, phân tiêu, nước rửa của các nhà máy đường, giấy, lò mổ nhà máy chếbiến thực phẩm gây ra Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vikhuẩn rất nặng Các bệnh cầu trùng, viêm gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ởnhiều quốc gia chưa kể đến các trận dịch tả Các nước thải từ lò sát sinh chứa mộtlượng lớn mầm bệnh Các nhà máy giấy thải ra nước có chứa nhiều glucid dễ lênmen
Tất cả các nhà máy chế biến thực phẩm, sản xuất đồ hộp, thuộc da, lò mổ, đều cónước thải chứa protein Khi được thải ra dòng chảy, protein nhanh chóng bị phânhủy bốc mùi hôi thối Mùi hôi của phân và nước cống chủ yếu là do indol và dẫnxuất chứa methyl của nó là skatol
Ô nhiễm hoá học do chất vô cơ đã thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng
trong nông nghiệp và các chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Mn,
Cu, Hg… là những chất độc cho thuỷ sinh vật
Sự ô nhiễm do các chất khoáng là do sự thải vào nước các chất như nitrat, phosphat
và các chất khác dùng trong nông nghiệp và các chất thải từ các ngành côngnghiệp Nhiễm độc Chì đó là Chì được sử dụng làm chất phụ gia trong xăng và các