Rải rác một số nơi chỉ có vài sợi cơ vân riêng rẽ còn phần lớn các sợi cơ vân họp lại với nhau thành bó liên kết với nhau bởi mô liên kết chính thức tạo thành bắp cơ .Có thể xem cơ vân đ
Trang 1Cơ vân thường bám vào xương, một số ít bám vào da như da đầu da mặt, phần trên ủa thực quản.
Trang 2Rải rác một số nơi chỉ có vài sợi cơ vân riêng rẽ còn phần lớn các sợi cơ vân họp lại với nhau thành bó liên kết với nhau bởi mô liên kết chính thức tạo thành bắp cơ
Có thể xem cơ vân được cấu tạo từ lớn đến nhỏ theo trình tự như sau : bắp cơ, bó cơ, sợi cơ và siêu sợi cơ
Trang 3Hình 1:Sơ đồ minh hoạ vị trí cấu trúc sợi A và sợi M
Trang 41 Bắp cơ
Mỗi bắp cơ được bọc bởi một màng được cấu tạo từ mô liên kết đặc gọi là màng ngoài bắp cơ hay bao ngoài bắp cơ
Mỗi bắp cơ có chứa nhiều bó cơ
Trang 52 Bó cơ
Mỗi bó cơ được bao bọc bởi một màng liên kết được gọi là màng quanh bó cơ hay bao bó cơ
•Mỗi bó cơ được cấu tạo từ nhiều sợi cơ, còn gọi là tế bào cơ
Trang 63 Sợi cơ (tế bào cơ vân)
• - Mỗi sợi cơ vân được bao bọc bởi một màng liên kết mỏng, gọi là mô trong cơ
• - Mỗi sợi cơ có chứa nhiều vi sợi cơ và mỗi
vi sợi cơ lại gồm nhiều siêu sợi cơ
• - Siêu sợi cơ được cấu tạo từ những phân tử đặc hiệu, đó là actin và myosin
Trang 7Hình 2: Sợi cơ vân cắt dọc
Trang 8Ở mức độ vi thể sợi cơ vân có dạng hình trụ, kích thước lớn, đường kính có thể đạt đến 0,1mm,thon
ở hai đầu và rất dài
Chiều dài của tế bào cơ vân từ 4- 5cm có sợi dài tới 12cm
Sợi cơ vân hay tế bào cơ vân, cũng giống như những tế bào khác, có đầy đủ các thành phần quan trọng như : màng bào tương, nhân, bào tương, v.v
Tuy nhiên tế bào cơ vân còn có những cấu trúc rất đặc biệt, đó là vi sợi cơ và hệ thống ống T
Trang 10b Nhân
Tế bào cơ vân có nhiều nhân Nhân tế bào
cơ vân có dạng hình bầu dục, hơi dài và phân
bố ở vùng rìa sát ngay dưới màng
Trang 11Hình 3: Sợi cơ vân cắt ngang
Trang 12trúc rất đặc biệt đó là tơ cơ.
Trang 13* Tơ cơ (vi sợi cơ)
Là bào quan rất đặc biệt, có rất nhiều trong tế bào cơ và xếp theo chiều dọc của sợi cơ Ðây là cấu trúc có đặc tính co duỗi
Tơ cơ là những sợi dài có đường kính từ 1pm nằm song song với trục dài sợi cơ và hợp với nau thành từng bó
0,5-Mỗi tơ cơ có những đoạn sáng và đoạn tối nhất định
Trang 14Hình 4: Sợi cơ vân dưới ánh sáng phân cực
Trang 15Trong cùng một sợi cơ những đoạn tối của tơ cơ xếp thành 1 hàng ngang và các đoạn sáng cũng vậy.
• Do vậy khi nhìn một sợi cơ cắt dọc dưới kính hiển
vi quang học ta thấy có những vân ngang
• Thành phần của vân:
- Đoạn sáng sáng được gọi là đĩa I (Isotropic band) Đĩa I có kích thước khoảng 0,8µm, được chia đôi bởi một vạch sẫm màu gọi là vạch Z
(zwischensheibe)
Trang 16Hình 5: Hình siêu vi của tơ cơ vân
Trang 17Hình 6: Tơ cơ cắt dọc và hình siêu vi của tơ cơ cắt dọc
Trang 18Đoạn tối gọi là đĩa A (Anisotropic band) dày 1,5
µm Giữa đĩa A có 1 vùng sáng màu gọi là vùng H,
giữa vùng H là vạch M
Cấu trúc vân sáng tối này lặp đi lặp lại có tính chu kỳ trên toàn bộ sợi cơ.Giữa 2 vạch Z liên tiếp gọi
là một đơn vị co cơ (lồng Krause) hay Sarcomere
Mỗi sarcomere có chiều dài từ 2 đến 3µm
Trang 19Dưới kính hiển vi điện tử tơ cơ được cấu thành bởi 2 loại siêu sợi cơ (xơ cơ).
Xơ Actin: Là sợi mảnh dài 1pm, đường kính
8nm Xơ actin được hình thành do sự đa trùng hợp của protêin hình cầu gọi là G.actin
Xơ Myozin: Là 1 phức hợp prôtêin hình gậy
được hình thành do sự xắp xếp từ 180- 200 phân tử myozin Myozin là 1 protêin hình sợi hình thành do
sự xoắn lại của 2 sợi polypeptid Myozin có đường kính 150- 170A0, dài 1,5pm
Trang 20Sự xắp xếp của xơ Myozin và xơ Actin
• Hình dung sự xắp xếp của xơ myozin và xơ actin
trên cùng một mặt phẳng, khi cắt dọc một sợi cơ mặt cắt ngang qua xơ myozin và xơ actin ta có hình ảnh
2 sợi lồng vào nhau
• Đĩa I (đĩa sáng) chỉ có xơ actin
• Đĩa A (đĩa tối) có cả actin và myozin
• Vùng H không có xơ actin
• Xơ myozin có khoảng giữa phình ra đó là vạch M
Trang 21Hình 6: Tơ cơ cắt dọc và hình siêu vi của tơ cơ cắt dọc
Trang 22*Lưới nội bào: Có nhiệm vụ dẫn truyền xung động điện trên màng và là nơi chứa ion Ca2+, tham gia tích cực vào sự điều tiết co cơ, ngoài ra nó còn là nơi
dự trữ ion K+
– Hệ thống lưới nội bào được phân làm 2 loại: hệ thống ống ngang và hệ thống ống phủ
– Hệ thống ống ngang (Transversal tube) là hệ
thống lưới nội bào dạng ống xuất phát từ màng tế bào chạy sâu vào trong cơ tương
Trang 23Là hệ thống ống nằm ngang theo chiều vuông góc với chiều của các vi sợi cơ Hệ thống ống này
thông thương với môi trường bao bọc xung quanh sợi
cơ Ống T cùng với 2 ống túi ngang của lưới nội bào trơn ở cạnh 2 bên tạo thành một bộ đặc biệt, gọi là bộ ba
Trang 24Ống ngang
Trang 25*Cơ chế sự co giãn cơ
a Sự thay đổi kích thước của sarcomer (lồng Krause):
• Khi có hiện tượng co cơ các siêu sợi actin sẽ trượt vào các siêu sợi myosin, kéo theo sự dịch chuyển của hai vạch Z vào nhau, do đó băng I và vạch H sẽ
bị ngắn lại trong khi băng A vẫn giữ nguyên kích thước Sarcomer vì vậy sẽ ngắn lại
Trang 26• Ngược lại, khi có hiện tượng duỗi cơ, các siêu sợi actin trượt ra ngoài sợi myosin, do đó hai vạch Z
sẽ dịch chuyển ra xa nhau làm cho băng I và vạch H được kéo dài ra, sarcomer cũng được kéo dài ra trong khi băng A vẫn không thay đổi kích thước
Trang 27– Khi có tín hiệu từ luồng xung động thần kinh
truyền đến tế bào cơ sẽ gây ra hiện tượng khử cực
ở màng bào tương và hiện tượng kích thích điện học này sẽ lan đi nhanh chóng đến tất cả các nếp của màng bào tương tại đĩa Z nhờ vào hệ thống
ống T và lưới nội bào trơn bao bọc xung quanh
các siêu sợi cơ
– Tại màng lưới nội cơ tương, hiện tượng khử cực làm thay đổi điện thế màng
Trang 28do đó khởi động các kênh phóng thích Ca++
nhằm mở kênh này ra, do đó sẽ gây ra sự vận chuyển một lượng lớn Ca++ từ lòng lưới nội cơ tương ra dịch
cơ tương theo gradient nồng độ
• - Do xung động thần kinh truyền đi rất nhanh qua hệ thống ống T và lưới nội cơ tương để đến từng sarcomer nên hầu hết các siêu sợi cơ trong tế bào cơ đều co thắt cùng một lúc
Trang 29Tuy nhiên sự gia tăng nồng độ Ca trong dịch bào tương chỉ thoáng qua để rồi sau đó các ion này được bơm một cách chủ động và nhanh chóng vào trong
lưới nội cơ tương nhờ bơm Ca++ -ATPase ở tại màng
Nồng độ Ca trong dịch bào tương giảm làm cho vai trò ức chế gắn kết actin-myosin, cơ trở về trạng
thái nghỉ
Trang 30Hình 8: Sơ đồ minh hoạ khởi đầu sự co cơ
Trang 32Hình : Phân bố mạch máu trong cơ vân
Trang 33II Cơ tim
Cơ tim cũng là một loại cơ vân vì cũng có những vân ngang Các tế bào cơ tim tạo thành
lưới do sự phân nhánh và kết nối của các tế bào cơ tim lân cận bằng các liên kết tế bào
Hoạt động co duỗi của cơ tim không tuân theo sự điều khiển của ý muốn
Khoang nằm giữa các nhánh kết nối có chứa
mô liên kết giàu mạch máu và mạch bạch huyết
Trang 34Hình 1: Cơ tim cắt dọc
Trang 35Hình 2: Cơ tim cắt ngang
Trang 36Tế bào cơ tim (hay sợi cơ tim):
Trang 37Hình 3: Vạch bậc thang của cơ tim
Trang 38Hình 4: Vạch bậc thang dưới kính hiển vi điện tử
Trang 39Hình 5: Vân ngang của cơ tim
Trang 40Cơ tim chứa rất nhiều ty thể chiếm hơn 40% thể tích của tế bào, ngoài ra còn cơ tim còn sử dụng 1
lượng lớn lipid để tạo năng lượng
Trang 41Hình 6: Mô nút của tim
Trang 42III CƠ TRƠN
Cơ trơn là loại cơ tạo nên tầng co rút của một số
cơ quan như cơ lớp thành ống tiêu hóa, bàng quang, tử cung…
Trang 43Hình 1: Sợi cơ trơn cắt dọc
Trang 44Hình 2: Sợi cơ trơn cắt ngang
Trang 45Tế bào cơ trơn có các đặc điểm như sau: + Có dạng hình thoi dài, có thể có phân nhánh
Trang 46Hình 3: Sự xắp xếp của các tế bào cơ trơn ở thành ruột
Trang 47Không có vân như cơ vân và cơ tim.
Các tế bào cơ trơn hợp lại thành bó, các bó hợp lại thành lớp Giữa các bó và lớp, có khi giữa các sợi
cơ có chứa mô liên kết, mạch máu và thần kinh
Cơ trơn giống cơ tim do hoạt động co duỗi không theo ý muốn
Trang 48
Hình 4: Bó sợi cơ trơn
Trang 49Cấu trúc phân tử: tế bào cơ trơn cũng có nhiều sợi actin và myosin nhưng không tạo
thành sarcomer
Cơ trơn được điều khiển bởi hệ thần kinh thực vật thuộc hệ giao cảm và phó giao cảm