Theo ông , không có tình thương đối với đồng loại thì không đáng gọi là NGƯỜI Đời thừa.Mỗi tác phẩm của Nam Cao viết về người nghèo, mà chủ yếu là nông dân, là một thiên trữ tình đầy xót
Trang 3 Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri , sinh ngày 29/10/1917 trong một gia đình trung nông, tại làng Đại Hoàng thuộc Tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh
Hà Nam)
Cha ông là ông Trần Hữu Huệ, sinh năm 1895, làm nghề chạm trổ và bốc thuốc bắc Sau cha ông trở thành chủ một hiệu đồ gỗ ở Hàng Đàn, thành phố Nam Định Mẹ ông là bà Trần Thị Minh, sinh năm 1897 làm vườn, làm ruộng, dệt vải.
Nam Cao viết văn từ năm 1936, lúc đầu không chỉ viết truyện mà còn làm thơ,soạn kịch
Từ năm 1941,với Chí Phèo, nhà văn mới thật sự chứng tỏ tài năng độc đáo và xác định chắc chắn con đường nghệ thuật của mình Sau cách mạng tháng Tám, Nam Cao hăng hái đem ngòi bút phục vụ cách mạng và kháng chiến, chân thành đặt lợi ích của cách mạng và kháng chiến lên trên hết Rất tiếc ông đã sớm hi sinh khi sức sáng tạo đang đầy hứa hẹn.
Trang 4 Năm 1943: Nam Cao tham gia nhóm Văn hóa cứu quốc ở
Hà Nội Bị khủng bố, ông phải tránh về quê và tham gia tổng khởi nghĩa (tháng 8-1945) ở đây.
1946: Ông có mặt trong đoàn quân Nam tiến vào đến nam Trung Bộ
1950: Nam Cao tham gia chiến dịch Biên Giới.
11-1951: Trên đường vào công tác vùng địch hậu Liên khu III, Nam Cao bị giặc Pháp phục kích và sát hại.
Nam Cao được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.
Trang 6Bề ngoài Nam Cao vụng về, ít nói, có vẻ lạng lùng, nhưng đời sống nội tâm thì luôn sôi sục,
có khi căng thẳng : Nam Cao thường lấy làm xấu
hổ về những tư tưởng mà ông tự cảm thấy tầm thường, hèn kém của mình Nam Cao muốn khắc phục những tư tưởng ấy để sống xứng đáng với danh hiệu CON NGƯỜI Hầu như ông không bao giờ có được cuộc sống bên trong thanh thản Trong tâm hồn nóng bỏng ấy, thường xuyên diễn ra cuộc xung đột âm thầm
mà gay gắt giữa lòng nhân đạo và thói ích kỉ, giữa tinh thần dũng cảm và thái độ hèn nhát, giữa tính chân thực và sự giả dối, giữa những khát vọng tinh thần cao cả và những dục vọng phàm tục.
Trang 7Nam Cao rất giàu ân tình đối với người nghèo khổ
bị áp bức và bị khinh miệt trong xã hội cũ Theo ông , không có tình thương đối với đồng loại thì không đáng gọi là NGƯỜI (Đời thừa).Mỗi tác phẩm của Nam Cao viết về người nghèo, mà chủ yếu là nông dân, là một thiên trữ tình đầy xót thương đối với những kiếp sống lầm than
Trang 8Ông luôn suy tư về bản thân, cuộc sống, đồng loại, từ kinh nghiệm thực tế mà đề lên những khái quát triết lí sâu sắc và đầy tâm huyết.
Trang 9Nhà văn hiện thực
Trang 10 Các tác phẩm của ông đã phản ánh hiện thực bộ mặt xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng 8, một xã hội mà ở
đó số phận của những người nông dân chất phác hồn hậu
đã bị bần cùng trong đói khổ, quằn quại trong sự chèn ép.
Thông qua việc sử dụng ngôn ngữ tài tình, tinh tế với những tình huống điển hình Nam Cao đã làm được một việc lớn lao hơn hẳn một số nhà văn hiện thực phê phán tiêu biểu cùng thời là “sự tổng hợp của nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu, nhiều lớp ý nghĩa, nhiều màu sắc thẩm
mỹ, gợi sự suy ngẫm, liên tưởng” của người đọc khi đọc tác phẩm của ông và qua tác phẩm của ông thấy yêu quý, trân trọng ông – một nhà văn đầy nhân ái, đầy tình người
Các tác phẩm của ông đã phản ánh hiện thực bộ mặt xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng 8, một xã hội mà ở
đó số phận của những người nông dân chất phác hồn hậu
đã bị bần cùng trong đói khổ, quằn quại trong sự chèn ép.
Thông qua việc sử dụng ngôn ngữ tài tình, tinh tế với những tình huống điển hình Nam Cao đã làm được một việc lớn lao hơn hẳn một số nhà văn hiện thực phê phán tiêu biểu cùng thời là “sự tổng hợp của nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu, nhiều lớp ý nghĩa, nhiều màu sắc thẩm
mỹ, gợi sự suy ngẫm, liên tưởng” của người đọc khi đọc tác phẩm của ông và qua tác phẩm của ông thấy yêu quý, trân trọng ông – một nhà văn đầy nhân ái, đầy tình người
Trang 11Nam Cao là nhà văn tâm lý hiện thực Nếu như Nguyễn Công Hoan tả được những khoảnh khắc tâm lý đơn
giản thì Nam Cao đi vào những vấn đề tâm lý phức tạp Nam Cao đi vào những vùng tâm lý tinh vi nhưng chưa rạch ròi, chưa hẳn ở phía bên này mà chưa hẳn ở phía bên kia, nửa cười nửa khóc, nửa tỉnh nửa say
Nam Cao rất ít diễn tả hành vi (hành động) bên ngoài mà chủ yếu đi vào thế giới nội tâm Có khi tả diện mạo thì toàn tả những khuôn mặt dị dạng, khác thường, gớm ghiếc,
Nam Cao là nhà văn tâm lý hiện thực Nếu như Nguyễn Công Hoan tả được những khoảnh khắc tâm lý đơn
giản thì Nam Cao đi vào những vấn đề tâm lý phức tạp Nam Cao đi vào những vùng tâm lý tinh vi nhưng chưa rạch ròi, chưa hẳn ở phía bên này mà chưa hẳn ở phía bên kia, nửa cười nửa khóc, nửa tỉnh nửa say
Nam Cao rất ít diễn tả hành vi (hành động) bên ngoài mà chủ yếu đi vào thế giới nội tâm Có khi tả diện mạo thì toàn tả những khuôn mặt dị dạng, khác thường, gớm ghiếc,
Trang 12NAM CAO
Nhà văn giàu lòng nhân ái
Trang 13Có lẽ bất cứ một con người nào, dù ở các cương vị
xã hội khác nhau cũng đều cần nuôi dưỡng tâm hồn, nhân cách của mình bằng cách này hay cách khác mà trong đó, các tác phẩm văn học là một loại hình rất có ý nghĩa trong quá trình này
Nam Cao, nhà văn đã sống cách chúng ta hàng nửa thế kỷ, người đã từng luôn tự giày vò khổ sở vì lẽ sống thế nào cho phải, viết thế nào cho hay để cho ra đời những tác phẩm mà cho đến bây giờ và cả mãi mãi sau này vẫn còn nguyên giá trị
Đọc tác phẩm của Nam Cao, cảm nhận được rất nhiều điều trong đó nổi bật lên tình người, lòng nhân ái, bao dung thấm đậm chất nhân văn
Trang 14Giá trị nhân đạo của các tác phẩm của Nam Cao thể hiện sâu sắc ở tấm lòng yêu thương trân trọng của tác giả với những người nghèo khổ
Nói như văn hào Nga Eptusenco:
“Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời Mỗi số phận chứa một điều cao cả”
Trang 15Nam Cao đã tìm thấy những hạt trân châu lóng lánh trong sâu thẳm những thân phận con người - Nam Cao tỏ ra rất nhạy bén trong việc miêu tả tâm lý nhân vật, ông đi vào từng ngóc ngách tâm hồn của con người để tìm ra được những cái hay, cái dở trong mỗi nhân vật và bao trùm lên tất
cả là một tấm lòng nhân ái, tình người thấm đậm trong từng trang viết và trong cuộc sống thời đại nào và lúc nào cũng cần lòng nhân ái, cái nhìn thiện chí – nó giúp con người sống vươn tới “chân, thiện, mỹ” hơn, xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn
Trang 17 Nam Cao khai sinh văn nghiệp từ năm 1936 với truyện
ngắn Cảnh cuối cùng ( bút danh Thúy Rư, in trên Tiểu
thuyết thứ bảy số 123, ngày 21/10/1936) và tiếp đó là Hai
cái xác ( Thúy Rư, đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy, số 133,
ngày 12/12/1936) Rồi từ mạch nguồn ban đầu ấy, các sáng tác tiếp theo của nhà văn, kể cả thơ và truyện cho
thiếu nhi lần lượt ra mắt bạn đọc với các bút hiệu Xuân
Du, Nguyệt, Nhiêu Khê
Nhưng chỉ từ khi tập truyện Đôi lứa xứng đôi ( gồm 7 truyện ngắn, trong đó có truyện Đôi lứa xứng đôi, tên ban đầu của nó là Cái lò gạch cũ, sau đổi tên thành Chí Phèo) đứng tên Nam Cao xuất hiện trên văn đàn buổi ấy-1941- mới chính thức cấp giấy phép đưa ông bước vào làng Văn, sánh bên các nhà văn đã nổi danh như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng
Trang 18Và từ đấy, Văn học hiện đại Việt Nam có thêm những sáng tác đặc sắc kiểu Nam Cao về kiếp người ở chốn nông thôn hay nơi đô thị của xã hội Việt Nam 1930-1945.
Sống và sáng tác trong đêm trước của cuộc cách mạng dân tộc, trái tim nhà văn dường như đã dự cảm được sẽ có những đổi thay của thời cuộc: “ Nhân loại đang quằn quại trong nỗi đau đớn của thời kỳ lột xác”(Giờ lột xác) Sống trên nỗi buồn triền miên, dai dẳng của cuộc đời mình, nhân vật Thứ trong tiểu thuyết Sống mòn là hóa thân của chính Nam Cao luôn thường trực một câu hỏi: “đã làm gì chưa?” Và cái gì
sẽ đến “Sống tức là thay đổi”.
Trang 20Lao vào dòng thác cách mạng, Nam Cao đã thực sự trở thành nhà văn chiến sĩ Với tư cách công dân, ông chấp nhận mọi công tác khác nhau và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình Trong lĩnh vực sáng tác, Nam Cao
đã tự nâng trách nhiệm của mình trước cuộc đời, trước nghệ thuật Ông đã ý thức sâu sắc văn nghệ phải phục vụ kịp thời yêu cầu của cách mạng, của thời đại Để làm được điều đó, theo Nam Cao, người nghệ sĩ phải:”tìm ra những chủ đề và hình thức không phải thích hợp cho ta mà thích hợp cho đối tượng của chúng ta là đại chúng” Những tác phẩm viết trong kháng chiến của ông đã “làm cho người đọc hiểu biết hơn, tin tưởng vào cuộc kháng chiến của toàn dân và gọi cho họ những việc học có thể làm để giúp ích cho kháng chiến”
Trang 21Đời sống cách mạng và kháng chiến đã dẫn đến
sự đổi mới trong cách nhìn nghệ thuật của Nam Cao Nhà văn đã hào hứng ghi lại những đổi thay của cuộc sống và con người sau cách mạng tháng Tám trong
“Đường vô Nam, Trên những con đường Việt Bắc, Đôi mắt” “Đôi mắt” đã đạt được sự hòa quyện của nét sắc sảo, tài hoa, những thế mạnh vốn có của nhà văn hiện thực với tầm tư tưởng nhiệt huyết của người chiến sĩ cách mạng Cuộc sống kháng chiến đã thực
sự xua đi “ những đám mây đen xưa cũ” trong tâm trí nhà văn, và Nam Cao đã bước hẳn vào quỹ đạo của nền văn học mới.
Trang 22Kể từ thời điểm 1936 cho đến khi nhà văn vĩnh biệt cõi đời(1951), Nam Cao đã có quá trình mười lăm năm gắn bó với văn chương So với những tác giả cùng thời,gia tài văn chương mà ông để lại cho hậu thế không mấy đồ sộ Chỉ với hai tiểu thuyết Sống mòn và Truyện người hàng xóm, dăm bảy chục truyện ngắn cho thiếu nhi Nhưng với số lượng khiêm nhường ấy, tác phẩm Nam Cao lại luôn ám ảnh người đọc, tạo khả năng cho người đọc đồng sáng tạo với tác giả.
Những “dòng văn mọc cánh” của ông khiến các thế hệ độc giả thế kỉ XX tốn không biết bao nhiêu giấy mực để tiếp cận, khám phá, phát hiện các tầng giá trị của một sự nghiệp văn chương lớn chứa đựng nhiều tác phẩm đã trở thành mẫu mực cho thể truyện ngắn cũng như truyện dài
Trang 24Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng những sáng tác của Nam Cao không thua kém những sáng tác của văn chương thế giới Sẽ có một khoảng trống không nhỏ nếu vì một lý do nào đấy dòng văn học của Việt Nam không có Nam Cao Không chủ quan khi chúng ta hoàn toàn có quyền
tự hào xếp Nam Cao của chúng ta bên cạnh những Maupassant (Pháp), Đôttôiepxki, Bunhin, (Nga)
Trang 25Tác phẩm của Nam Cao không có những xung đột căng thẳng, không đao to búa lớn mà cứ đời thường giản dị, thông qua các tình huống, các cuộc đời nhân vật để nêu bật nên những giằng xé trong nội tâm, những ước mơ về một tương lai tốt đẹp Văn Nam Cao viết về những kiếp người mà cuộc đời họ là những chuyển tiếp khác nhau của nỗi buồn, nỗi khổ, của những tâm hồn đẹp đẽ, đáng trân trọng dù là người đàn bà quanh năm bị áp lực của thiếu thốn, lo toan đè nặng, lúc nào cũng nặng mặt, bẳn gắt chì chiết chồng con hay những anh chàng trí thức tiểu tư sản ăn nói độc địa, hằn học
Trang 26Trên tất cả những biểu hiện ấy vẫn toát lên bản chất của họ là hồn hậu, chất phác, chứa chan tình người Nhà văn đã thấy phần “u tối” của cuộc sống, tìm ra trong đó cái đẹp và ông viết về những người nông dân, những trí thức tiểu tư sản cùng khổ với một thái độ đầy tôn trọng, không phải là sự miệt thị cũng không thi
vị hoá.
Nam Cao là nhà văn có tầm cỡ còn là bởi vì ngay từ thời của ông, giữa lúc dòng văn học hiện thực phê phán, dòng văn học lãng mạn đang là một trào lưu mạnh mẽ, Nam Cao đã không quá đắm chìm hoàn toàn theo hướng đó mà ông chọn cho mình một hướng đi đúng đắn
Trang 27Hướng đi ấy đã góp phần xếp Nam Cao là một trong những nhà văn đặt nền móng cho nền văn học hiện đại Việt Nam : “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa - 1943), ông lên án thứ văn chương “tả chân”,
“hời hợt”
Trang 28Hiện thực cuộc sống luôn là chất liệu để nhà văn phản ánh hay nói như Bandăc “Nhà văn là thư
ký trung thành của thời đại” Làng Vũ Đại của Nam Cao chỉ là một làng quê như bao làng quê khác, ta thấy có dòng sông hiền hoà hai bên bờ là những vườn chuối thấm đẫm ánh trăng, thấy tiếng dệt cửi và tiếng lao xao của các bà, các chị
đi chợ sớm, thấy những vườn trầu không, những vườn mía tả tơi sau bão và trên mảnh đất ấy là những người nông dân chất phác, nhân hậu
Trang 35Sự NGHIệP
SÁNG TÁC
CỦA NHÀ VĂN NAM CAO
Trang 363.Các đề tài chính trong tác phẩm của Nam Cao
a.Đề tài người trí thức nghèo trong xã hội cũ
b.Đề tài người nông dân nghèo
4.Sức sống của một sự nghiệp văn chương
Trang 371.Các tác phẩm chính
Truyện người hàng xóm(1944) - Báo Trung văn Chủ nhật
Sống mòn (viết xong 1944, xuất bản 1956), ban đầu có tên Chết mòn - Nhà xuất bản Văn
Nghệ
Và bốn tiểu thuyết bản thảo bị thất lạc: Cái bát, Một đời người, Cái miếu, Ngày lụt
Truyện ngắn
Ngoài ra ông còn làm thơ và biên soạn sách địa lý với Văn Tân Địa dư các nước Châu
Âu (1948), Địa dư các nước châu Á, châu Phi (1949), Địa dư Việt Nam (1951).
Tiểu thuyết
Chí Phèo (1941) Sống Mòn (1944)
Trang 39Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc của Văn học Việt Nam hiện đại Ông
cầm bút từ năm 1936 Sáng tác của anh thơ có, văn xuôi có bắt đầu xuất hiện đều
trên các Tiểu thuyết thứ bảy, Ích hữu, Hà Nội báo với những bút danh như là
những cái tên ướm thử ngập ngừng Xuân Du, Nguyệt, v.v Năm 1941, cuốn
sách đầu tay ký bút danh Nam Cao nhan đề Đôi lứa xứng đôi ra mắt bạn đọc
Các nhà văn lớp tuổi đàn anh như Vũ Bằng, Lê Văn Chương dường như đã nhìn
thấy ở cây bút mới này một văn tài thật sự Nhưng dư luận văn học lúc ấy dường như bị át đi bởi những thông tin chấn động của cuộc thế chiến thứ 2 diễn ra
khốc liệt bên châu Âu và đang lan rộng sang Viễn Đông
Truyện ngắn Chí Phèo được dựng thành phim Dẫu ít được dư luận cổ vũ, sau tập sách mỏng đầu tay trong đó có truyện Chí Phèo bất hủ, ngòi bút nhà văn Nam Cao tự tin, linh hoạt hẳn lên Nghề dạy học thì xuống dốc : trường Công Thanh bị quân Nhật trưng dụng, Nam Cao thôi dạy học ở đây, có lúc sang dạy học ở tận trường tư thục Kỳ Giang bên tỉnh Thái Bình, có lúc về quê, nằm nhà Công việc liên tục bị rút lại, chỉ còn ngòi bút và trang giấy Các năm từ năm 1941 đến 1944, Nam Cao viết được nhiều nhất.
a.Trước Cách mạng tháng tám năm 1945