1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SOP lấy mẫu nước thải

25 583 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 359 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một số tình huống cần lấy mẫu nước cống thô được pha trộnvới nước hồi lưu thí dụ để đánh giá tải lượng và hiệu quả của bể lắng sơ bộ, một sốtrường hợp khác lại yêu cầu loại

Trang 1

Mã số: HD.LMN.03-02 Lần ban hành: 02 Ngày ban hành: 15/10/2015 Lần sửa đổi: 01

QUY TRÌNH THAO TÁC CHUẨN

LẤY MẪU NƯỚC THẢI

Năm 2015

Trang 2

Mã số: HD.LMN.03-02 Lần ban hành: 02 Ngày ban hành: 15/10/2015 Lần sửa đổi: 01

QUY TRÌNH THAO TÁC CHUẨN

LẤY MẪU NƯỚC THẢI

Tài liệu viện dẫn:

Trang 3

CÁC THÔNG TIN QUAN TRẮC NƯỚC THẢI

Vì các kênh thải thường thiết kế chung cho cả nước thải và nước mưa, điều kiệndòng chảy rối thường xảy ra Nếu không có điều kiện chảy rối thì có thể tạo ra bằng cáchthu hẹp dòng chảy thí dụ như dùng vách ngăn Thu hẹp dòng chảy phải được làm thế nào

để không sảy ra sự lắng cặn ở thượng lưu vật cản Điểm lấy mẫu phải ở hạ lưu của chỗthu hẹp, và theo qui tắc, phải cách chỗ thu hẹp ít nhất một khoảng bằng 3 lần đường kínhống nước thải Đầu vào của thiết bị lấy mẫu cần hướng về phía dòng chảy tới, nhưngcũng có khi phải quay về hướng hạ lưu vì quá nhiều rác rưởi gây ra bít tắc

Chú ý: Nếu sự trộn lẫn xảy ra tốt ở ngay thượng lưu của vật cản thì có thể đặt ống vào

ngay ở đó, chú ý không lấy cặn lắng và đầu ống lấy vào phải ở dưới mặt nước

Khi thực tế cho phép, nên xác định những vị trí lấy mẫu thường xuyên, chú ý bảođảm những điều kiện lấy mẫu đồng đều

Trước khi lấy mẫu nước thải công nghiệp, những điều kiện ở trong xí nghiệp côngnghiệp (như các quá trình và tốc độ sản xuất) cần được ghi nhận và kèm theo cả nhữngnguy hiểm có thể xảy ra thí dụ như nền, sàn rất ướt

Theo quy tắc, điểm lấy mẫu phải nằm ở 1/3 chiều sâu dưới bề mặt nước

1.1.2 Lấy mẫu ở trạm xử lý nước thải

Khi chọn địa điểm lấy mẫu ở các trạm xử lý nước thải, cần luôn ghi nhớ mục tiêucủa chương trình lấy mẫu

Những mục tiêu điển hình là:

 Kiểm tra hiệu quả của trạm xử lý về tổng thể: các mẫu cần lấy ở đầu vào chính vàđầu ra chính;

 Kiểm tra hiệu quả xử lý của từng công đoạn hoặc một nhóm các công đoạn; cácmẫu cần lấy ở đầu vào và đầu ra của bộ phận cần kiểm tra

Khi lấy mẫu ở đầu vào của các trạm cần phải nghiên cứu cẩn thận mục tiêu củachương trình lấy mẫu Trong một số tình huống cần lấy mẫu nước cống thô được pha trộnvới nước hồi lưu (thí dụ để đánh giá tải lượng và hiệu quả của bể lắng sơ bộ), một sốtrường hợp khác lại yêu cầu loại bỏ nước hồi lưu (thí dụ để đánh giá nước thải sinhhoạt/công nghiệp đưa vào trạm xử lý, hoặc để kiểm soát dòng nước thải công nghiệp)

Trang 4

Lấy mẫu ở hạ lưu của một máng đo hoặc một bờ ngăn sẽ tạo điều kiện thuận lợi choviệc mẫu đại diện.

Khi lấy mẫu nước thải từ trạm xử lý gồm nhiều công đoạn (thí dụ có nhiều bể lắng),cần chú ý rằng mẫu phải đại diện cho toàn thể chứ không phải cho riêng một công đoạn

xử lý nào (trừ khi muốn nghiên cứu riêng công đoạn đó)

Phải thường xuyên xem xét lại các địa điểm lấy mẫu để bảo đảm những thay đổi rõràng trong vận hành của các quá trình phải được tính đến ngay Thí dụ, quá trình lọc thấm

có thể chuyển từ "một chiều" sang "hồi lưu" hoặc "lọc kép", vận hành của trạm cũng cóthể thay đổi như nước đã xử lý được dẫn trở lại trạm (thí dụ dẫn trở lại nước từ bể tràn,thay đổi vị trí mà ở đó nước đã xử lý được dẫn trở lại vào trạm)

Khi lấy mẫu nước thải cần hết sức chú ý khắc phục hoặc giảm thiểu sự không đồngđều thương có mặt do các chất rắn lơ lửng gây ra Sự phân tầng do nhiệt ở các dòng thảicông nghiệp cũng thường thấy, và trong những trường hợp đó phải dùng những biện pháptăng cường khuấy trộn dòng chảy trước khi lấy mẫu Lấy mẫu trên bề mặt nước

Có khi cần lấy mẫu lớp nước trên bề mặt bằng cách hớt để thu thập thông tin về cácchất nổi và nhũ hoá Trường hợp này cần dùng bình rộng miệng, nhưng nên tham khảo ýkiến phòng thí nghiệm nhận mẫu

1.2 Phương pháp lấy mẫu

1.2.1 Mẫu đơn, mẫu riêng lẻ

Trong một mẫu đơn, toàn bộ thể tích mẫu được lấy ở một thời điểm Các mẫu đơnthường được dùng để xác định thành phần nước thải ở một thời điểm nhất định Trongnhững trường hợp dòng nước thải ít thay đổi về thể tích và thành phần, một mẫu đơn cóthể đại diện cho thành phần dòng nước thải trong thời gian dài

Cần phải lấy mẫu đơn khi mục tiêu của chương trình lấy mẫu là đánh giá sự tuânthủ các tiêu chuẩn không liên quan đến chất lượng trung bình Khi sự tuân thủ được xemxét trên cơ sở chất lượng trung bình thì phải dùng mẫu tổ hợp

Trong một số trường hợp xác định chỉ dùng mẫu đơn Thí dụ phân tích dầu và mỡ,oxi hoà tan, clo và sunfua

Trong trường hợp này kết quả phân tích sẽ bị sai khác nếu không tiến hành xác địnhngay sau khi lấy mẫu và nếu toàn bộ thể tích mẫu không được dùng một lần Mẫu đơnthường lấy thủ công nhưng cũng nhưng cũng có thể bằng thiết bị lấy mẫu tự động

1.2.2 Mẫu tổ hợp

Mẫu tổ hợp được chuẩn bị bằng cách trộn một số mẫu đơn hoặc bằng cách lấy liêntục từng phần nhỏ của dòng nước thải

Có hai loại mẫu tổ hợp: mẫu theo thời gian và mẫu theo dòng chảy

Mẫu tổ hợp theo thời gian chứa những mẫu đơn có thể tích bằng nhau và được lấy ởnhững khoảng thời gian bằng nhau trong chu kỳ lấy mẫu Mẫu tổ hợp theo thời gian dùng

để nghiên cứu chất lượng dòng thải trung bình (thí dụ khi xác định sự tuân thủ một tiêu

Trang 5

chuẩn dựa trên chất lượng trung bình hoặc khi xác định nồng độ trung bình nước thải đểthiết kế quá trình, và trong những trường hợp dòng nước thải không đổi).

Mẫu tổ hợp theo dòng chảy chứa những mẫu đơn được lấy và pha trộn sao cho thểtích của mẫu tỉ lệ với tốc độ hoặc thể tích dòng trong suốt thời gian lấy mẫu Mẫu tổ hợptheo dòng chảy được dùng khi mục tiêu lấy mẫu là để xác định tải lượng của các chất ônhiễm (thí dụ BOD ở trạm xử lý nước thải, phần trăm chất rắn được loại, tải lượng cácchất dinh dưỡng và các chất khác đưa vào môi trường)

Mẫu tổ hợp theo dòng chảy có thể lấy ở những khoảng thời gian bằng nhau nhưngvới những thể tích thay đổi tỷ lệ với dòng chảy ở mỗi thời điểm lấy mẫu, hoặc gồmnhững mẫu đơn thể tích bằng nhau được lấy mỗi khi một lượng xác định nước thải đi quađiểm lấy mẫu

Trong cả hai loại mẫu tổ hợp, thể tích mỗi mẫu đơn phải lớn hơn 50ml Nên lấymẫu đơn từ 200 đến 300ml để có được các mẫu đại diện

1.3 Thiết bị lấy mẫu

 Khối lượng, dạng và kích cỡ hợp lý;

 Dễ làm sạch và có thể dùng lại;

 Dễ kiếm và giá rẻ

Nên dùng bình bằng chất dẻo để lấy mẫu nước thải Một số trường hợp yêu cầudùng bình thuỷ tinh, thí dụ khi cần phân tích: dầu mỡ; hydrocacbon; các chất tẩy rửa;thuốc trừ sâu

1.3.2 Thiết bị lấy mẫu thủ công

Thiết bị lấy mẫu nước thải đơn giản nhất là xô, muôi, hoặc bình rộng miệng buộngvào một cái cán có độ dài thích hợp Thể tích không nên nhỏ hơn 100ml Khi các mẫulấy, thủ công dùng để chuẩn bị mẫu tổ hợp thì thể tích của xô, muôi, bình cần phải chínhxác đến 5% Lấy mẫu thủ công cũng có thể dùng bình Rettner hoặc Kemmerer, bình nàylà một ống có dung tích từ 1 đến 3 lít và hai đầu đều có nắp, hoặc các thiết bị lấy mẫukhác có nguyên lý tương tự

Thiết bị lấy mẫu thủ công phải được làm bằng vật liệu trơ, không gây ảnh hưởngđến phân tích sau này

Trang 6

Trước khi lấy mẫu, thiết bị phải được làm sạch bằng chất tẩy rửa và nước, hoặc theohướng dẫn của hãng sản xuất, và cuối cùng tráng bằng nước Thiết bị lấy mẫu có thểđược tráng bằng chính nước cần lấy ngay trước khi lấy mẫu, điều đó làm giảm khả nănggây ô nhiễm mẫu Nếu lấy mẫu để phân tích các chất tẩy rửa thì phải tráng bình rất kỹ saukhi rửa

Chú ý: không được tráng bình bằng nước cần lấy khi điều đó ảnh hưởng đến phân tích

sau này (thí dụ phân tích dầu và mỡ, phân tích vi sinh vật)

1.3.3 Thiết bị lấy mẫu tự động

Nhiều thiết bị bán trên thị trường cho phép tự động lấy mẫu liên tục hoặc mẫu hàngloạt Chúng thường dễ mang và có thể dùng để lấy mẫu mọi loại nước thải Thường cóhai loại máy lấy mẫu tự động, lấy theo thời gian và lấy theo dòng chảy, nhưng cũng cómột số máy gộp cả hai chức năng đó Máy lấy mẫu có thể dựa trên những nguyên tắc lấymẫu sau:

 Một bơm chuyền (bơm hạt);

 Không khí nén và /hoặc chân không;

 Dòng chảy liên tục;

 Bơm (thường bằng bơm nhu động)

Không nguyên tắc nào có thể thích hợp cho mọi tình huống lấy mẫu Khi chọn máylấy mẫu cần chú ý những đặc điểm sau đây, và người dùng cần xác định tầm quan trọngtương đối của mỗi đặc điểm để áp dụng vào từng trường hợp cụ thể

 Máy lấy mẫu phải có khả năng lấy mẫu tổ hợp theo thời gian, thí dụ lấy mẫu trongnhững khoảng thời gian khác nhau khi tốc độ dòng chảy không đổi

 Máy lấy mẫu phải có khả năng lấy hàng loạt mẫu riêng lẻ ở những khoảng thời giancố định và chứa vào từng bình riêng Thí dụ khi tiến hành nghiên cứu hàng ngày để xácđịnh chu kỳ tải lượng cực đại;

 Máy lấy mẫu phải có khả năng lấy liên tiếp các mẫu tổ hợp ngắn hạn và chứa vàotừng bình riêng Điều đó có thể có ích trong quan trắc những chu kỳ đặc biệt cần quantâm

 Máy lấy mẫu phải có khả năng lấy mẫu tổ hợp theo dòng chảy, nghĩa là lấy nhữngthể tích mẫu khác nhau tuỳ theo tốc độ dòng chảy và ở những khoảng thời gian cố định.Thiết bị này có thể có ích khi tiến hành nghiên cứu tải lượng nền;

 Máy lấy mẫu phải có khả năng lấy liên tiếp các mẫu theo khối lượng dòng chảy vàchứa vào từng bình riêng Điều đó có thể có ích khi nghiên cứu phát hiện những thời kỳtải lượng nền thay đổi, khi số liệu có liên quan tới tốc độc dòng chảy

 Khả năng của máy có thể nâng các mẫu qua một chiều cao mong muốn trong bất kỳhoàn cảnh đã chọn nào;

 Cấu tạo bền chắc và ít cấu kiện chức năng;

 Ít bộ phận tiếp xúc hoặc ngâm xuống nước;

Trang 7

 Máy lấy mẫu phải không rỉ và bộ phận điện phải được bảo vệ khỏi tác động củabăng tuyết, hơi ẩm hoặc khí quyển ăn mòn;

 Máy lấy mẫu phải có thiết kế đơn giản, dễ vận hành, bảo dưỡng và dễ làm sạch;

 Ống lấy mẫu từ điểm hút mẫu vào dẫn đến điểm phân phối mẫu phải có đường kínhtrong tối thiểu là 9mm để tránh bị tắc, và ống vào phải được bảo vệ để tranh gây tắc choống ra;

 Tốc độ chất lỏng chạy vào máy tối thiểu phải là 0,5m/s để tránh tách pha trong ốnglấy mẫu và buồng đo;

 Khả năng rửa sạch ống lấy để lấy mẫu mới;

 Thể tích được phân chia phải có độ chính xác và độ đúng ít nhất là 5% thể tích yêucầu;

 Khoảng thời gian giữa các mẫu gián đoạn phải điều chỉnh được từ 5min đến 1h;

 Các bình lấy mẫu và ống nối cần phải dễ tháo, thay thế và làm sạch;

 Máy lấy mẫu cần có đủ chỗ chứa các bình mẫu ở chỗ tối ở từ 0oC đến 4oC trongthời gian đang lấy mẫu, và cho phép thêm chất bảo quản vào các bình trước hoặc trongkhi lấy mẫu;

 Các máy lấy mẫu xách tay phải đủ nhẹ, chắc chắn, bền, chịu được thay đổi thời tiết,và có thể vận hành tốt trong mọi điều kiện xung quanh;

 Các máy lấy mẫu phải vận hành được trong những thời gian lấy mẫu đủ dài (nhiềungày) mà không cần chú ý tới luôn;

 Máy lấy mẫu phải không tạo những tia lửa ở bên trong để tránh rủi ro nổ, đặc biệt là

ở những vùng có khí mêtan hoặc các dung môi hữu cơ dễ bay hơi;

 Máy có thể lấy mẫu từ những nguồn thải có áp lực Đó là yếu tố cần lưu ý trướcquyết định cuối cùng để chọn máy

Khi chọn máy lấy mẫu, người dùng cần lưu ý bản hướng dẫn vận hành Bản nàyphải được viết bằng ngôn ngữ hiểu được và dễ đọc Cũng cần xem xét khả năng bảohành, sửa chữa sau khi bán và các phụ tùng thay thế Cuối cùng, cần chú ý đến cấp điệnhoặc không khí nén ở nơi máy được sử dụng

1.4 Thời gian lấy mẫu

1.4.1 Thời gian lấy mẫu

Khi lấy mẫu nước cống và nước thải, thường cần chú ý những nguyên nhân thay đổichất lượng sau:

 Thay đổi hàng ngày (nghĩa là thay đổi trong thời gian của ngày);

 Thay đổi giữa các ngày trong tuần lễ;

 Thay đổi giữa các tuần lễ;

 Thay đổi giữa các tháng và các mùa;

 Xu hướng

Trang 8

Nếu thay đổi hàng ngày hoặc giữa các ngày không có hoặc rất nhỏ, thời gian lấymẫu trong ngày hoặc ngày trong tuần tương đối không quan trọng Cách giải quyết là lấymẫu đều đặn suốt năm, ở bất cứ thời gian nào đó trong ngày hoặc bất cứ ngày nào đótrong tuần (sao cho thuận tiện).

Nếu bản chất và độ lớn của tải lượng cực đại là quan trọng, cần lấy mẫu ở thời điểmcủa ngày, tuần, tháng, khi tải lượng cực đại xuất hiện

Thời gian lấy mẫu tượng quan với quá trình đặc biệt cần kiểm soát có thể là rất quantrọng trong nghiên cứu các dòng thải công nghiệp theo mùa hoặc theo lo Dù trongtrường hợp nào thì sự thải cũng không liên tục và chương trình lấy mẫu phải tính đếnđiều này

Lấy mẫu để phát hiện xu hướng cần có kế hoạch thận trọng Thí dụ khi phát hiện xuhướng trên cơ sở hàng tháng thì nên lấy mẫu ở cùng ngày trong tuần Điều đó giúp loạiđược những thay đổi hàng ngày ra khỏi độ biến động của số liệu, và như vậy cho phépxác định xu hướng một cách chính xác hơn

Sau khi quyết định số mẫu cần lấy theo như mục 5.2.2 cần xác định những thời gianlấy mẫu Các mẫu thường được lấy ở những khoảng xác định trong toàn bộ chu kỳ kiểmsoát Chu kỳ kiểm soát có thể là một năm, một số tháng hoặc tuần, hoặc ngắn hơn

Nếu chu kỳ kiểm soát là một năm, những ngày lấy mẫu được xác định theo côngthức (1) khi số mẫu lớn hơn khoảng 25, và theo công thức (2) khi số mẫu nhỏ hơnkhoảng 25

Trong đó: n là số mẫu;

A là một số ngẫu nhiên trong khoảng -365/n đến 0

Công thức (2) cho biết số tuần cần lấy mẫu Ngày của mỗi tuần được xác định saocho mẫu được lấy vào các ngày làm việc của tuần

Trong đó: n là số mẫu;

B là một số ngẫu nhiên trong khoảng -52/n đến 0

Những công thức tương tự có thể được dùng cho những chu kỳ kiểm soát khác, thí

dụ một tháng, ba tháng, sáu tháng v.v Chu kỳ được chọn cần bao gồm mọi thay đổitheo mùa

Sau khi đã chọn khoảng thời gian, số ngày hoặc số tuần, cần lưu ý để sự lấy mẫukhông dẫn đến sai số hệ thống, thí dụ luôn luôn thấy mẫu vào một ngày đặc biệt, hoặcloại bỏ một cách hệ thống những ngày làm việc đặc biệt

1.4.2 Khoảng thời gian của mỗi chu kỳ lấy mẫu

Khi chọn thời gian mỗi chu kỳ lấy mẫu cần chú ý hai yếu tố:

Trang 9

 Mục tiêu lấy mẫu: Thí dụ cần đánh giá tải lượng trung bình chất hữu cơ của mộtdòng chảy trong những chu kỳ 24h thì cần lấy mẫu tổ hợp theo dòng chảy trong một ngàyđêm.

 Độ bền của mẫu: Trong thí dụ trên không cần kéo dài thời gian lấy mẫu tổ hợp quá24h vì chất hữu cơ trong mẫu cần nghiên cứu đã có thể bị phân huỷ

Khoảng thời gian lấy mẫu có thể thay đổi từ vài giờ, khi nghiên cứu các chất hữu cơ

dễ bay hơi, đến nhiều ngày, khi quan trắc các hợp chất vô cơ bền

Độ bền của mẫu thường có thể hạn chế khoảng thời gian lấy mẫu Trong nhữngtrường hợp đó cần áp dụng những kỹ thuật phân tích đặc biệt và hỏi ý kiến phòng thínghiệm nhận mẫu để có thể dùng những biện pháp bảo quản dùng

1.5 Quy định về lưu giữ bảo quản dụng cụ lấy mẫu và mẫu trước khi phân bổ mẫu cho phòng thí nghiệm phân tích.

Nếu cần thiết, phải bảo quản dụng cụ lấy mẫu và các hình mẫu Các phương tiệnbảo quản phải sẵn sàng và tất cả dụng cụ lấy mẫu có thể được giữ sạch sẽ Phải ngănngừa sự nhiễm bẩn vào mọi thời gian trong ngày

Không được lưu giữ các bình đựng mẫu mới hoặc đã làm sạch gần kề các chai hoặcdụng cụ chứa chất bảo quản

Nếu mẫu phải được lưu giữ trước khi phân phát cho phòng thí nghiệm thì cácphương tiện thích hợp dùng để lưu giữ mẫu (mà có thể được để cùng với các bình không

có mẫu tại nơi lưu giữ) phải bảo vệ được tính toan vẹn của các mẫu

Tính bền vững và toàn vẹn của mẫu là rất quan trọng

1.6 Lấy mẫu

Đối với mẫu yêu cầu dùng cho phép xác định các thành phần hóa lý, nạp đầy mẫuvào bình chứa và đậy nắp sao cho không có khoảng không khí ở trên bề mặt mẫu trongbình Điều này giảm sự tương tác với pha khí và giảm thiểu các tác động của mẫu trongquá trình vận chuyển

Khi mẫu được làm đông lạnh để bảo quản, bình chứa mẫu không được nạp đầymẫu

1.6.1 Súc rửa dụng cụ lấy mẫu

Tất cả các dụng cụ có tiếp súc với nước đều phải được súc rửa Lấy đủ một thể tíchnước của thủy vực được lấy mẫu để súc rửa kỹ tất cả các dụng cụ, sử dụng cùng kỹ thuậtlấy mẫu đang được dùng tại nơi lấy mẫu Nếu dùng dây để lấy mẫu thì tưới một vài lầnnước chứa trong bình lấy mẫu trước Giữ nước sũng ở dây bằng cách lắc mạnh Không đểđoạn dây ướt này bị nhiễm bẩn lại, ví dụ để dây tiếp xúc với mặt đất Súc rửa tương tựvới thanh gỗ dùng để lấy mẫu trong trường hợp dùng Nếu, và chỉ khi, hướng dẫn củaphòng thí nghiệm có yêu cầu bình lấy mẫu cần được súc rửa thì chỉ mở nút bình ngaytrước lúc lấy nước để súc rửa, giữ nút bình theo cách thức sao cho bề mặt trong của bình

Trang 10

không trở nên bị nén nhiễm bẩn, nên dùng một tay để giữ cả bình và nút hoặc lồng cả haithứ trong một túi ni lông.

Súc rửa bình lấy mẫu bằng cách lấy đủ nước vào bình rồi xoay bình để nước lắngđều tất cả bề mặt bên trong của bình Đổ bỏ nước súc rửa trong bình vào phía hạ lưu nơilấy mẫu hoặc theo cách thức sao cho nước súc rửa đó không làm nhiễm bẩn nước nơiđược lấy mẫu Bản thân nước súc rửa trong bình hoặc nước dư của mẫu tổng khí đổ bỏphải không được trở thành một nguồn ô nhiễm Không được đậy trở lại nút bình lấy mẫucho tận đến khi mẫu được lấy xong trừ khi nhận thấy rõ có lẫn vào nhiều bọt khí

1.6.2 Lấy mẫu trực tiếp

Cách lấy mẫu trực tiếp tạo ra ít nhất nguy cơ nhiễm bẩn đồng thời đảm bảo mẫu làđại diện Tuy vậy, không nên sử dụng các bình chứa chất bảo quản Cách lấy mẫu trựctiếp chỉ nên áp dụng khi việc lấy mẫu được coi là an toàn và không nguy hại gì Trướckhi tiến hành lấy mẫu trực tiếp, các bình chứa mẫu cần được súc rửa kỹ

Nhúng ngập bình vào trong nước của thủy vực được lấy mẫu, hướng miệng bình vềphía thượng nguồn dòng chảy của nước, mở nút bình (nếu vẫn còn đậy) và giữ bình trongmột tay Đưa cổ bình đã mở nút xuống dưới mặt nước cho đến khi ngập ở độ sâu khoảng

25 cm Nếu nước nông thì phải đảm bảo mẫu nước lấy không bị nhiễm bùn đáy

Nghiêng cổ bình sao cho bình hướng hơi nghiêng về phía mặt nước và về phía dòngchảy Để cho nước chảy vào bình với lượng mẫu cần yêu cầu Trong phần lớn các trườnghợp, lấy mẫu đầy đúng đến miệng bình để đẩy được hết không khí trong bình ra, vì traođổi khí có thể làm thay đổi nhanh chất lượng của mẫu Trong một vài trường hợp, nhưkhí dung môi được bổ sung trực tiếp vào các bình lấy mẫu ví dụ như trong trường hợpphân tích dầu trong nước, thì bình chỉ được lấy mẫu đến vai bình Phóng thí nghiệm sẽđưa ra hướng dẫn về mức nước lấy mẫu vào bình Khi đã lấy đúng lượng mẫu cần lấy,nhấc bình ra khỏi nước và đậy nắp bình lại thật kỹ Quay lên bờ và dán nhãn lên bình.Nếu phải lấy mẫu trực tiếp vào một bình lấy mẫu, thì phải giữ bình đó trong một cái

"lồng" tương tự như lồng được sử dụng trong trường hợp lấy mẫu ở các độ sâu cụ thểhoặc lấy mẫu xuyên qua băng tuyết

1.6.3 Lấy mẫu gián tiếp bằng cách sử dụng chai lấy mẫu

Hạ thấp bình một cách nhẹ nhàng đến bề mặt, đảm bảo bình không bị nhiễm bẩntrong lúc hạ xuống Để cho nước chảy vào bình và theo dõi trong suốt thời gian lấy mẫu.Cố gắng đừng lấy phải quá nhiều phần nước ở bề mặt và cố gắng tránh lấy phải các vậtliệu trôi nổi trên nước Không được để cho bình chạm với đáy sông Nhấc bình ra khỏinước, lần này cũng phải đảm bảo không để xảy ra nhiễm bẩn mẫu

Dùng một thanh gỗ thì dễ điều khiển hơn nên dễ tránh được sự nhiễm bẩn các vậtthể từ đáy và trôi nổi trong nước nhưng thể tích mẫu thu được có thể bị ít hơn nhiều sovới dùng một sợi dây và dùng bình lấy mẫu to cho nên cần lấy nhiều lần mẫu nhỏ Cácmẫu nhỏ này có thể được sử dụng để lập nên mẫu tổng trước khi chia vào từng chai mẫu

Trang 11

Rót mẫu cẩn thận vào trong bình theo như yêu cầu, rót trực tiếp hoặc sử dụng mộtcái phểu và phải đảm bảo không để cho cặn có đủ thời gian lắng xuống Nếu có dùng chấtbảo quản thì cần đảm bảo rằng khi rót quá đầy vào bình thì cũng không gây ra nhiễm bẩncho thủy vực Đậy nút các bình và ghi nhãn.

II LẤY MẪU, BẢO QUẢN VÀ VẬN CHUYỂN

2.1 Bổ sung chất bảo quản

Một số thành phần vật lý và hóa học nhất định trong mẫu có thể ổn định hóa bằng

bổ sung các hợp chất hóa học có lựa chọn, bổ sung trực tiếp vào mẫu sau khi thu thậpxong hoặc bổ sung sẵn trước vào bình lấy mẫu

Các thuốc thử cụ thể cần thiết cho sự bảo quản đặc biệt của các thành phần nhấtđịnh (ví dụ phép xác định oxy, tổng cyanua và sulfua) yêu cầu mẫu được bảo quản tạihiện trường

Điều quan trọng là các chất bảo quản được sử dụng không ảnh hưởng tới phép phântích; trong trường hợp nghi ngờ thì cần tiến hành phép thử để kiểm tra tính thích hợp.Mọi bước pha loãng mẫu với dung dịch chất bảo quản bổ sung đều phải được xem xéttrong quá trình phân tích và tính toán kết quả Khi bổ sung chất bảo quản vào mẫu nên ưutiên sử dụng loại dung dịch nồng độ cao để sao cho thể tích chất bảo quản được dùng lànhỏ Cũng do vậy, trong hầu hết các trường hợp không cần phải xem xét đến hệ số phaloãng Cần tránh sử dụng các chất bảo quản thể rắn, ví dụ như natri hydroxit, vì có thểlàm nóng cục bộ gây ảnh hưởng bất lợi đến mẫu

Bổ sung các tác nhân bảo quản có thể làm biến đổi hoặc thay đổi bản chất vật lýhoặc hóa học của thành phần mẫu, có nghĩa là các thay đổi này không tương thích vớimục đích của các phép xác định sau đó Ví dụ, axit hóa có thể làm tan các thành phần keo

tụ hoặc thể rắn, và vì thế nên sử dụng rất cẩn trọng nếu mục tiêu của phép phân tích làxác định các thành phần hòa tan và chỉ vì mục đích duy nhất đó Lọc mẫu trước khi bổsung chất bảo quản là cần thiết đối với các ion hòa tan Tương tự, cần cẩn trọng nếu mụcđích của phép phân tích là để xác định độc tích của mẫu đối với động vật thủy sinh vì mộtsố hợp chất nhất định, đặc biệt như hợp chất kim loại nặng, là độc hơn ở dạng ion Vì thế,các mẫu cần được phân tích càng nhanh càng tốt

Tiến hành phép thử mẫu trắng là rất cần thiết, đặc biệt trong các phép xác định cácnguyên tố lượng vết, để tính đến khả năng các chất bảo quản gây nhiễm thêm một lượngcác chất cần xác định vào trong mẫu (ví dụ: các axit có thể làm nhiễm thêm lượng đáng

kể asen, chì và thủy ngân) Trong trường hợp như vậy, các mẫu của chất bảo quản được

sử dụng để xử lý mẫu nước cần phải được giữ lại để sử dụng cho chuẩn bị phép thử mẫutrắng

2.2 Vận chuyển mẫu

Các bình chứa mẫu cần được bảo vệ và làm kín để chúng không bị hỏng hoặc gâymất mát một phần mẫu trong khi vận chuyển

Trang 12

Vật liệu bao gói phải bảo vệ được các bình chứa khỏi bị nhiễm bẩn từ bên ngoài và

bị vỡ, đặc biệt là gần các chỗ mở của bình chứa mẫu và không là một nguồn gây nhiễmbẩn

Trong khi vận chuyển, các mẫu cần được bảo quản theo hướng dẫn nêu trong Bảng

1, Bảng 2 và Phần Kỹ thuật bảo quản đối với các thông số

Trong trường hợp mẫu được vận chuyển và lưu giữ vượt quá thời gian khuyến nghịbảo quản tối đa trước khi bắt đầu phân tích, dù mẫu có được phân tích hay không thì cầnđược kiểm tra lại cùng với khách hàng, và nếu mẫu được quyết định là sau đó vẫn đượcdùng để phân tích thì cần báo cáo rõ thời gian từ khi lấy mẫu đến khi phân tích

Ngày đăng: 18/04/2017, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w