THAM KHẢO 1.Bình giảng chất thơ của đoạn “ Thuyền tôi trôi trên sông Đà…trên dòng trên” Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân.. của Nguyễn Tuân, ta cùng tác giả vượt thác xuống ghềnh và r
Trang 1NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ - Nguyễn Tuân
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ ( Trích tùy bút Sông Đà - Nguyễn Tuân)
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
A. TÁC GIẢ -Nguyễn Tuân (1910 – 1987).
Thái Lan, ông viết báo, viết văn Năm1941 ông bị bắt giam vì giao du với những người hoạt động chính trị
biểu của nền văn học mới
nghệ thuật
hóa cổ truyền của dân tộc
túng, ham thích du lịch
khắc, sân khấu…)
trạng u uất trước cuộc đời tù đọng
tin yêu cuộc sống và liên tiếp cho ra đời những tác phẩm mang tính thời sự,
- Khám phá phát hiện sự vật ở phương diện văn hoá, thẩm mĩ
- Nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ
- Tô đậm những nét phi thường, tuyệt vời của cảnh vật, con người
- Vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hoá, nghệ thuật khác nhau trong sáng tác
- Từ vựng phong phú
- Tổ chức câu văn xuôi có giá trị tạo hình cao, có nhạc điệu trầm bổng, cách phối âm, phối thanh linh hoạt,tài hoa
Trang 2 Sử dụng thể loại tùy bút thuần thục, có những thành tựu đặc sắc.
- Trước Cách mạng tháng tám1945, phong cách Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ NGÔNG Đó là thái
độ khinh đời, ngạo đời dựa trên tài hoa, sự uyên bác và nhân cách hơn đời của mình
- Sau Cách mạng tháng tám, Nguyễn Tuân hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân, ca ngợi cái đẹp không chỉ ở những tính cách phi thường mà còn ở cả những người lao động bình thường
Là kết quả chuyến đi thực tế Tây Bắc của Nguyễn Tuân vào năm 1958 Ông đến với nhiều vùng khác nhau, sống với bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân cầu đường và đồng bào các dân tộc Thực tiễn cuộc sống mới ở vùng cao và vẻ đẹp của thiên nhiên cùng “ thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông thơ mộng ấy đã đem lại cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo và ông sáng tác tùy bút SÔNG ĐÀ (1960), trong đó có NGỪỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Giang, Ly Tiên
+ Tính cách hung bạo hiểm ác:
thẳm, những quãng sông đầy ghềnh thác, những vách đá dựng thành vách.
sánh được sử dụng một cách đặc sắc để miêu tả nước và đá ở khúc thác
khích, giọng gằn mà chế nhạo… nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng…”
tợn chỉ chờ ăn chết cái thuyền
phương, hất hàm hỏi cái thuyền…
Nhận xét:
thuật so sánh,nhân hóa giàu liên tưởng và lớp ngôn ngữ tượng hình,phong phú làm nổi bật phong cách nghệ thuật
Trang 3của Nguyễn Tuân.
đo, , là một mụ dì ghẻ ác độc
+ Tính cách trữ tình, thơ mộng, hiền hòa:
chuyển như mái tóc của một người thiếu nữ Câu văn giàu nhạc điệu kết hợp nghệ thuật so sánh độc đáo gợi liên tưởng Sông Đà như hình ảnh của người thiếu nữ Tây Bắc kiều diễm, trẻ trung, duyên dáng
lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữaNươć của dòng sông thay đổi theo mùa, theo phong cảnh hai bên bờ
Sự thay đổi sắc màu của dòng nước tạo cho Sông Đà vẻ đẹp thơ mộng, huyền ảo
o Chuồn chuồn , bướm bướm bay lượn…, cỏ gianh còn đẫm sương đêm, ngô non vừa mới nhú, đàn hươu…
o So sánh độc đáo, sáng tạo: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.
o Bâng khuâng, xao xuyến như gặp lại cố nhân.
o Như đắm mình vào không khí thơ mộng, cổ kính của Đường thi.
o Cảm nhận niềm vui tron vẹn như thấy nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm…
o Cảm xúc tình tứ, tha thiết của một người tình nhân chưa quen biết.
ưa “xê dịch” kết hợp sự liên tưởng phong phú, độc đáo, Nguyễn Tuân miêu tả sông Đà như một công trình nghệ thuật của tạo hóa
tình yêu nước
+ Nhìn sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mỹ, tô đậm cái phi thường, tuyệt vời của cảnhvật
+ Vận dụng kiến thức của nhiều ngành khác nhau để xây dựng hình tượng con sông
của ông
trên con sông nổi tiếng vùng Tây Bắc
=> Ông lái đò là người rất gắn bó với nghề nghiệp, từng trải trong nghề chèo đò.
Trang 4– Trền nền sông nước Đà giang hùng vĩ ông lái đò hiên lên với tư thế của một dũng tướng tài năng và phong thái của một nghệ sĩ tài hoa trong cuộc vượt thác.
một cách dũng cảm, quyết liệt, thông minh, táo bạo như một tay vượt thác nhà nghề Vượt qua ba trùng vi thạch
trận một cách điêu luyện, linh hoạt ( cưỡi lên thác sông Đà, nắm chắc lấy bườm sóng…).
ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ
hùng dũng vừa tài hoa trong cuộc đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để giành sự sống Nhà văn cũng thể hiện quan niệm mới mẻ, độc đáo về người anh hùng và người nghệ sĩ:
chiến đấu với thiên nhiên để giành sự sống
ở vùng cao Tây Bắc
kì tài của “bậc thầy ngôn ngữ tiếng Việt”.Thiên tuỳ bút ấy đã kế thừa nét riêng biệt đặc sắc về đề tài, nguồn cảm hứng trong phong cách của Nguyễn Tuân - cảm hứng trước cái dữ dội, tài hoa, tuyệt mỹ
II LUYỆN TẬP
III. THAM KHẢO
1.Bình giảng chất thơ của đoạn “ Thuyền tôi trôi trên sông Đà…trên dòng trên” ( Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân).
Trong cuộc kháng chiến mất còn của dân tộc, những dòng sông, cánh đồng, mảnh đất, ngôi làng đã đồng hành sống và chiến đấu với con người và hóa thân vào văn chương thành những vẻ đẹp của quê hương, đất nước Một sông Mã gầm khan trầm uất, một sông Đuống cuộn trôi mang bao ảnh hình xứ sở…Đến với Người lái đò sông Đà
Trang 5của Nguyễn Tuân, ta cùng tác giả vượt thác xuống ghềnh và rồi thả thuyền hồn trôi xuôi trong một đoạn tả sông
Đà trữ tình: “ Thuyền tôi trôi trên sông Đà…trên dòng trên”
Nếu ví người lái đò sông Đànhư bản trường ca với những cung bậc khi mãnh liệt lúc réo rắt ngân vang thì đoạn văn trên là một khúc ca êm ái nhất Không những thế đoạn văn còn như một bài thơ, với những ý tưởng vần điệu nhịp nhàng, mềm mại Ở những giai đoạn trên, ta bắt gặp một con thuyền chiến của người lái đò, còn đây là một con thuyền thơ của một hồn văn đầy chất thơ Nhưng phải chăng vì cả ông lái đò và tác giả đều là người nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình nên cả hai con thuyền đều là thuyền thơ, chỉ khác là một tứ thơ dữ dội, khốc liệt và một tứ thơ êm đềm, dịu dàng Hòa vào tứ thơ ấy, không gian liên tưởng của người đọc cứ mở ra mãi nhờ những cách so sáng Các nhà văn khác thường so sáng cụ thể hóa sự vật còn Nguyễn Tuân, ông so sánh để làm vạn vật trở nên kích thích, mở rộng trí tưởng tượng Hãy nghe cách so sáng của ông: “ Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Từ một hình ảnh cụ thể, hữu hình “ bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cố tích tuổi xưa” Từ một hình ảnh cụ thể, hữu hình “ bờ sông” gợi đến bao cái vô hình “
bờ tiền sử”, “ nổi niềm cổ tích tuổi xưa” Câu trên nghe hoang vắng, xa xăm Câu dưới òa ập, xôn xao cảm xúc Tác giả nhắc nhở tuổi thơ, ý văn tiếp nối với đoạn văn trên khui tả sông Đà “ loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy” Tuổi thơ như khoảng thời gian thần tiên trong hồn người Và đi bên tuổi thơ của mỗi con người là tuổi thơ của nhân loại, bởi dòng sông nào cũng là chứng nhận của việc an cư lạc nghiệp, của biết bao biến đổi thăng trầm của lịch sử Ở trên, Nguyễn Tuân đã nhìn sự vật trong chiều sâu lịch sử, trong ý thức hướng về truyền thống khi nói cái “ lặng tờ” của cảnh sông Dường như dòng sông lặng tờ lại càng lặng tờ hơn bởi bề dày lịch sử của mấy trăm năm cộng lại Tiếp nối sức mạnh quá khứ là hình ảnh bờ sông – bờ tiền sử Và khi nhà văn “ them được giật mình vì tiếng còn xe lửa” thì tương lai đã náo nức reo vui Cứ thế văn Nguyễn Tuân đưa người đọc từ thế giới này đến thế giới khác một cách uyển chuyển khéo léo Và phải chăng, Nguyễn Tuân đã viết văn đúng như quan niệm về thơ của ông “ từ một cái hữu hình nó thức dậy được những cái vô hình bao la, từ một cái điểm nhất định mà nó mở ra được một cái diện không gian thời gian”, khi so sánh bờ sông như vậy? Ngoài ra, ông còn đem vật thể so sáng với tình cảm, cảm xúc trong hình ảnh” một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa hay như “ Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương…Con sông như đang lắng nghe…” Nguyễn Tuân đã nhập thân vào dòng sông để lắng nghe và xúc động, lòng dâng dầy chất thơ Mơ mộng thay khi nối tiếp những vần thơ bập bềnh sông nước của Tản Đà là những cảm xúc rất thơ như thế! Thế giới vật chất, thế giới tinh thần xa xăm cứ thế mà nối qua những liên tưởng của nhà văn Con sông đang “ nhớ thương”, đang “ lắng nghe” hay chính nhà văn đang thương nhớ, lắng nghe những tâm tình của cuộc sống?
Chất thơ của đoạn trích còn thể hiện ở cách viết văn như thơ của Nguyễn Tuân Câu mở đoạn “ Thuyền tôi trôi trên sông Đà” êm êm những thanh bằng như một câu lục trong thơ lục bát Vần lưng “ tôi trôi” và điệp âm “ t” gợi hình ảnh con thuyền nổi nênh trên mặt sông Những thanh ngang nằm giữa hai thanh bằng hai đầu câu văn như tạo một khoảng ngưng đọng cho cảm xúc Thuyền trôi mà như không trôi, như tình cảm cứ đọng mãi, chất chứa trong thuyền Và cụm từ “ thuyền tôi trôi” ấy cứ như một điệp khúc bằng lặng trong suốt cả đoạn văn Đây là một kiểu trùng rất đặc trưng của thơ hay cũng là sự điệp trùng của cảm xúc “ Thuyền tôi trôi qua một nương ngô ”, “ thuyền tôi trôi trên dải sông Đà…” tưởng như thuyền hồn người đọc cũng xuôi lặng theo dòng tâm tư khởi toàn thanh bằng nhẹ bỗng như thế Hồn người như tan ra hòa cùng cảnh sắc Con thuyền cũng trôi trên một dòng sông cũng lững lờ trôi theo những câu văn ngắn, chảy dài, chảy dài theo những câu văn dài Có phải câu văn cứ khi dài, khi ngắn linh hoạt như dòng chảy lúc nhanh lúc chậm của con sông? Câu “ Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” xao động với những thanh trắc nhỏ nhẹ cố như khép lại nén lại cảm xúc đang dân trào Ngoài câu văn mở đầu với sáu thanh bằng còn có vế câu nhiều thanh bằng nữa như “ chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên…” Những thanh bằng ấy như cố lắng xuống để ghi nhận trong khoảnh khắc ánh nhìn của chú nai tơ Và hai từ láy “ chăm chăm”, “ lừ lừ” chỉ trong một vế câu ngắn như đong đầy cảm xúc Ngoài ra còn có những từ láy khác như “ lững lờ”, xa xôi, êm êm” đều gợi cảm, tạo nhạc Bên cạnh một thứ nhạc thơ thấm đẫm đoạn văn là một
Trang 6điệu nhạc tâm hồn cứ khe khẽ hát lên, một chất thơ trở đầy tâm trạng.
Chất thơ mơ mộng còn bao trùm cả cảnh sông bằng những ảnh nai tơ, mỡ màng nhất: “ lá ngô non đầu mùa”, nõn búp, búp cỏ gianh, những con vật hiền lành: con hươu thơ ngộ, đàn cá dâm xanh Cảnh sắc thơ như từ một thế giới cổ tích nào đấy hiện về, vừa chân thực mà hư ảo, gần gũi mà xa xăm, bảng lảng một lớp sương huyền hồ của “ cỏ gianh đẫm sương đêm”, “ áng cỏ sương” và cả “ tiếng còi sương” Tưởng như một tâm hồn lần đầu bắt gặp sự xanh non của cuộc sống Những câu văn tươi xanh như thức dậy phần non tơ nhất của hồn người, thức dậy một ý thơ của Xuân Diệu “ Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non” Có t” thể hình dung đây là một buổi sớm mùa xuân tinh khôi, mùa xuân của cuộc sống và mùa xuân của lòng người Mỗi câu văn “ đẫm sương” ấy là một nét vẽ, tưởng như hòa vào nhau song tách bạch rất rõ rang Một màn sương cứ rải nhẹ trong tâm trí độc giả, như nhắc nhở bao huyền thoại xa xưa, bao không gian cổ tích diễm ảo Ta như cùng Nguyễn Tuân ngây ngất đắm say những nét diệu kỳ nhất của tạo hóa Có một sự sống của mình trong ba thanh trắc “ nhú”, “ mấy”, “ lá”, có một cái
gì mềm mại trong “ đầu nhung” Và ấn tượng nhất là cỏ, ta chỉ nghe “ ngọn cỏ”, “ sóng cỏ” nhưng “ búp cỏ”, “ áng
cỏ sương” thì có lẽ chưa bao giờ Nếu thi hào dân tộc Nguyễn Du tả ngọn cỏ như một minh chứng cho sự đồng điệu đến kỳ lạ của thiên nhiên đối với con người thì Nguyễn Tuân đã đưa ngọn cỏ lên khía cạnh thơ nhất, đẹp nhất Màu xanh của bờ đồng cỏ mênh mông đã nhuộm non cả đoạn văn - bài thơ của Nguyễn Tuân
Đoạn văn cuối ấy còn đạt đến chất thơ tuyệt vời bằng nghệ thuật cổ điển lấy động tả tĩnh Khung cảnh lặng tờ đến nỗi tác giả cảm nhận được cả tiếng cá quẫy “ Tiếng cá đập nước sông đuồi mất đàn hươu vụt biến” Phải chăng đó cũng là khoảng lặng trong tâm hồn của Nguyễn Tuân để hứng lấy những âm thanh nên thơ của sự sống, một sự sống trỗi mình trong lá ngô non, búp cỏ non mạnh mẽ trong tiếng đập nước của cá? Đàn hươu hiện ra chạy mất, phải chăng trong đoạn văn thơ mộng của Nguyễn Tuân, mọi vật đều trở nên hiền lành đến mức thơ ngây nhất? Từ cái mênh mang một điệp khúc xanh của ngô non, áng có, nhà văn điểm vào sắc trắng của bụng cá Nghệ thuật hội họa cổ điển đã đuộc vận dụng, khám phá mọi vẻ đẹp của cuộc sống
Trong không gian hoang sơ, hiền hòa ấy bỗng tác giả “ thèm được giật mình vì một tiếng còi sương” Đặt vào hoàn cảnh chưa có chuyến tàu nào đi Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu., câu văn như một tiếng reo náo nức của tác giả trước công cuộc xây dựng miền Bắc ( 1958 – 1960) Khi ấy, Tố Hữu đã cho ra đời những vần thơ đẹp
Yêu biết mấy những dòng sông bát ngát
Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non
Yêu biết mấy những con đường ca hát
Qua công trường mới dựng mái nhà son.
Tiếng còi sương là ảo, là âm thanh trong tâm tưởng nhưng lại nói lên một ước vọng rất thực tế của nhà văn Thèm được nghe một tiếng còi xa lửa đã quý, như Chế Lan Viên
Mắt ta them mái ngói đỏ trăm ga.
( Tiếng hát con tàu)
Nhưng “ thèm giật mình” thì lại càng quý hơn bởi Nguyễn Tuân khao khát cái cảm giác khi được nghe tiếng còi Tây Bắc mở mang Ta đã từng trân trọng cái giật mình vì phẩm giá “ thương mình xót xa” của Kiều, cảm thông cái giật mình hoài nhớ của Tú Xương khi “ vẳng nghe tiếng ếch” thì nay ta lại nâng niu thêm một cái giật mình ước tương lai của tác giả sông Đà Và như thế đoạn văn của sông Đà của Nguyễn Tuân đã là văn chương mới của một thời đại mới Trước Cách mạng, ông đã từng “ xê dịch” để tìm những cảm giác mới lạ, để trốn tránh trách
Trang 7nhiệm thì sau ngày đổi đời của dân tộc, ông lại đi để tìm hình ảnh quê hương và nhận chân trách nhiệm của mình Thưởng ngoạn nhưng không quên vì người, vì cuộc sống mới, quả thật văn Nguyễn Tuân đã “ hợp lưu” với lòng người đọc dễ dàng nhờ những suy nghĩ như thế Hòa cùng tiếng hát của con tàu thơ Chế Lan Viên, một tiếng còi sương của Nguyễn Tuân, mái nhà sơn của Tố Hữu, “ Ngói mới” của Xuân Diệu… đã góp thành sắc mới của thơ văn phản ánh màu mới của quê hương đất nước Cuộc sống mới đã ngấm vào cảnh vật, và con hươn thơ như cũng lắng nghe tiếng còi sương Cảnh vật có màu sắc, âm thanh dù là trong tâm tưởng
Một tứ thơ xưa đọng lại nơi quãng sông càng làm tăng chất thơ: “ Dải sông Đà bọt nước lên đênh Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình.” Nguyễn Tuân đã chọn câu thơ hết sức trữ tình của nhà thơ quê hương sông Đà, sống hết lòng với sông Đà Câu thơ ấy hòa với những câu văn đẹp như thơ của Nguyễn Tuân đã “ đề thơ” vào sóng nước Đà giang như khẳng định sự tồn tại của một sinh thế có hồi, coi sông Đà như một bạn đồng hành? Đưa vào câu thơ của Tản Đà, đoạn văn, bỗng dậy lên hơi thở nồng ấm, quấn quýt của tình người, tình yêu Tình đã nồng cho nên
những câu văn tiếp theo chất chứa cảm xúc “ nhớ thương”, “ lắng nghe những giọng nói êm êm”
Có một sông Đà gầm thét, chảy trôi miên man giữa trời Tây Bắc vời vợi chất thơ của sông núi, và có một sông Đà trong văn Nguyễn Tuân chảy vào lòng người Văn chương đã làm cho thiên nhiên đẹp lên bội phần Con sông Đà
sẽ mãi đồng hành cùng với con người cũng như áng văn đẹp của Nguyễn Tuân sẽ luôn là hành trang của mỗi người, của dân tộc đi tới trong cuộc sống hôm nay
Lê Thị Thúy Hằng ( Trường chuyên Lê Hồng Phong – TP Hồ Chí Minh)*
2 Phân tích hình tượng người lái đò trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
I.Mở bài
Tuỳ bút "Người lái đò sông Đà" là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập sông Đà
(1960) Viết tuỳ bút này Nguyễn Tuân tự coi mình là người đi tìm cái thứ vàng mười của màu sắc núi sông Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa được vui và vững bền Chất vàng mười của con người ấy chính là người lái đò sông Đà Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân người lái đò vừa là người anh hùng vừa là người nghệ sỹ tài hoa trong nghề của mình
II Thân bài
1 Lai lịch
Khi được tác giả hỏi chuyện, người lái đò đã 70 tuổi, làm nghề đò dọc mười năm liền và đã nghỉ làm nghề đôi
chục năm Nhưng mười năm người lái đò đã in dấu ấn khá đậm ở ngoại hình ông lão : Tay ông lêu nghêu như cái
sào Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như
tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù.Những dòng này được nhà văn viết ra không chỉ để giới thiệu ngoại hình một con người mà còn để ca ngợi sự gắn bó, yêu quý nghề ở chính người đó Nguyễn Tuân là nhà văn luôn nén câu văn của mình nhiều điều muốn nói, “hàm lượng thông tin” ở đó không bao giờ chỉ ở một tầng hiển ngôn
2 Tính cách
a.Sự từng trải:
Những nét tả ngoại hình của nhà văn cho thấy người lái đò thực sự là người từng trải, thành thạo nghề Chưa đủ,
Nguyễn Tuân còn cho biết : người lái đò còn là một linh hồn muôn thuở của sông nước này; ông làm nghề đò đã
mười năm liền, trên sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay ông giữ lái độ sáu chục
lần… Sự từng trải của người lái đò còn thể hiện, dòng sông Đà với bảy mười ba con thác nhưng ông đã lấy mắt
Trang 8mà nhớ tỉ mỉ như đóng đinh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả các con thác hiểm trở Hơn thế nữa, sông Đà đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông thuộc lòng đến cả những cái chấm than
chấm câu và cả những đoạn xuống dòng Không phải bỗng dưng mà nhà văn nổi tiếng tài tử lại đưa vào trang viết
của mình tỉ mỉ các ngọn thác, thời gian ông lái đò làm nghề Phải chi li, cụ thể như vậy mới thấy hết sự từng trải, gắn bó của với nghề đến độ kỳ lạ ở ông lão lái đò Đấy cũng là cách nhà văn bày tỏ nỗi thán phục của chính mình
về một con người như được sinh ra từ những con sóng, ngọn thác hung dữ ở sông Đà
b.Lòng dũng cảm :
Chỉ từng trải thôi chưa đủ, đối với con sông Đà, ai chế ngự được nó đòi hỏi phải có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà
ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình Nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà Đó chính là cuộc vựơt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một :
… Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả một chân trời Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mặt hòn đat nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này… Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông Đám tảng hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn…
Trong thạch trận ấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra
giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ
huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ
hiểm “Phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”, người lái đò “phá luôn vòng vây thứ hai” Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Đến vòng thứ bà, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng
người lái đã chủ động “tấn công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó Thuyền vút qua cổng đá cánh
mở khép Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được Thế là kết thúc
c.Nghệ sĩ tài hoa :
Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa Khái niệm tài hoa, nghệ
sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa rộng, không cứ là những người làm thơ, viết văn mà cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ đạt đến trình độ tinh
vi và siêu phàm Trong người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do
Song, quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt Một chút thiếu bình tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ tay,
quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống Mà ngay ở những khúc sông không có thác nó dễ dại tay dại chân mà
buồn ngủ như người Mèo kêu mỏi chân khi dẫm lên đồng bằng thiếu dốc thiếu đèo Chung quy lại, nơi nào cũng
hiểm nguy Ông lão lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc
binh pháp của thần sông thần đá Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài
ba Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác Xong trận, lúc nào cũng
ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: Sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ Sông nước lại thanh bình
Trang 9Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra đầy tràn ruộng.Cũng chả thấy ai bàn thêm
một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình Nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét : Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dế thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, người lái đò chỉ có Nguyễn Tuân Và, lời ghi chú của nhà văn thật đáng để suy ngẫm !
III Kết bài
(Nêu bật phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân, ý nghĩa nhân vật người lái đò sông Đà)
Nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là nhân vật chính diện luôn được nhà văn chú ý mô tả ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ Nếu như trước cách mạng tháng Tám 1945, theo Nguyễn Tuân, cái tài hoa chỉ có ở lớp nhà nho trong quá khứ thì nay, trong Người lái đò sông Đà và nhiều tác phẩm khác, tác giả đã tìm thấy và khẳng định cái đẹp ở ngay trong cuộc sống hàng ngày của người dân lao động, trong hiện tại của đất nước Cuộc đời của người lái đò vô danh, không tên tuổi, nơi có những ngọn thác hoang vu, khuất nẻo kia là cả một thiên anh hùng ca, một pho nghệ thuật tuyệt vời Nếu như thiên nhiên sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân là “kẻ thù
số một” của con người, thì cũng chính thiên nhiên, qua ngòi bút của nhà văn là nơi đã tôn vinh giá trị con người vào lao động
3 Phân tích hình tượng con sông Đà
Bằng phong cách nghệ thuật độc đáo: uyên bác, tài hoa, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề nhằm tìm cho ra những chữ nghĩa xác đáng nhất, có khả năng lay động người đọc nhiều nhất, Nguyễn Tuân đã sáng tác được rất nhiều tác phẩm có giá trị lớn, trong đó có sông Đà, một thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà tác giả thu hoạch được trong chuyến đi tới vùng Tây Bắc tổ quốc xa xôi, rộng lớn Ông đã tìm được cái chất vàng của thiên nhiên cùng thứ vàng mười đã qua thử lửa được thể hiện trong thiên
tùy bút “người lái đò Sông Đà” mà con sông Đà với sự hung bạo, trữ tình và thơ mộng của nó đã được tác giả
miêu tả thật tài hoa
Sông Đà bắt nguồn từ huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đi qua một vùng núi ác, đến gần nửa đường xin nhập quốc tịch Việt Nam Sông có tổng cộng 73 con thác dữ và có tổng chiều dài là 983 km Qua cái
nhìn của Nguyễn Tuân, con sông Đà trở nên có tính cách phong phú, phức tạp, như một cố nhân “lắm bệnh lắm
chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy”.
Sông Đà hung bạo, lắm thác nhiều ghềnh: “Đường lên Mường Lễ bao xa – Trăm bảy cái thác, trăm ba cái
ghềnh” (Ca dao) và cái hung bạo ấy còn được thể hiện qua dòng chảy ngỗ ngược của nó: “Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu”, một dòng chảy riêng, không khuôn mình vào lẽ thường Vẻ nguy hiểm của sông
không chỉ được thể hiện qua thác nghềnh mà đó còn là “đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc
đúng ngọ mới có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang
đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện” Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo,
Nguyễn Tuân đã cho thấy sự nguy hiểm của dòng sông, một nơi hẹp như thế mà lưu tốc dòng nước vốn nhanh bây giờ lại trở nên xiết vô cùng Cứ thử tưởng tượng con thuyền nào mà kẹt vào cái khe ấy thì tiến không được,
Trang 10lùi cũng không xong chỉ chờ sóng nước và đá đập cho tan xác mà thôi.
Cũng như “quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng
gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua quãng đấy”
Bằng kết cấu trùng điệp, tác giả đã làm rõ sự nguy hiểm của con sông hung dữ, sẵn sàng lấy đi tính mạng bất cứ tay lái nào khinh suất
Những cái hút nước ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La lại ghê rợn hơn nữa “Nước ở đây thở và kêu như
cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số
ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới” Thật là những cái bẫy ghê sợ, chết người !
Tiếng thác réo nghe càng ghê sợ hơn! “Như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng
gằn mà chế nhạo Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa
nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng” Bằng nghệ thuật so
sánh, nhân hóa tài ba cùng những liên tưởng “rất đắt”, Nguyễn Tuân đã cho thấy một cảnh tượng thác nước hùng
vĩ, nguy hiểm vô cùng Lần đầu tiên trong thơ văn có người lại dùng lửa để miêu tả nước, hai nguyên tố có sức hủy diệt rất lớn lại luôn tương khắc với nhau, có nước thì không có lửa, ngược lại, có lửa thì không có nước Vậy
mà Nguyễn Tuân đã làm được điều đó Ông quả là một nghệ sĩ bậc thầy!
Phối hợp với sóng nước với tiếng thác ầm ầm là “sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá Đá ở đây từ ngàn
năm vẫn mai phục hết trong lòng sông Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này” Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn, để chúng phối hợp lại thành ba trùng vi nguy
hiểm:
Trùng vi thứ nhất: Sông Đà bày ra năm cửa trận, có bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, thực chất chúng đóng vai trò dụ chiếc thuyền vào tuyến giữa Ở trùng vi thứ nhất này sóng nước đóng vai trò chính để tiêu diệt chiếc thuyền Vừa vào trận địa,
chúng tấn công chiếc thuyền tới tấp: “Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí
trên cánh tay mình Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền Có lúc chúng đội cả thuyền lên Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình
ra giữa trận nước vang trời thanh la bão nạt Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước
vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò”.
Vượt qua trùng vây thứ nhất, ông lái đò phải đương đầu với trùng vây thứ hai: “Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh
lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá đánh khuýp quật vu hồi chiếc thuyền” Tại trận chiến đánh giáp lá cà này, chúng quyết sinh quyết tử với
ông lái đò Khi chiếc thuyền đã vượt qua, bọn sóng nước cửa tử “vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng
đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng” Đúng là bọn đá sóng nước hiểm độc!
Đến trùng vi thứ ba: Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay