1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài thảo luận về SDR

12 517 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 163,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ 1981–1985: USD 42%, DEM 19%, JPY 13%, GBP 13%, FRF 13% + 1986–1990: USD 42%, DEM 19%, JPY 15%, GBP 12%, FRF 12% + 1991–1995: USD 40%, DEM 21%, JPY 17%, GBP 11%, FRF 11% + 1996–2000: USD 39%, DEM 21%, JPY 18%, GBP 11%, FRF 11% + 2001–2005: USD 45%, EUR 29%, JPY 15%, GBP 11% + 2006–2010: USD 44%, EUR 34%, JPY 11%, GBP 11% +20112015: USD 41.9% EUR 34,4%,JPY 9.4%,GBP 11.3% +20162020: USD 41.73% EUR 30.93% JPY 8.23%,GBP 8.09% CNY 10.92%

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN Truờng đại học kinh tế & Quản trị kinh doanh

o0o

BÀI THẢO LUẬN: TÌM HIỂU CHUNG

VỀ ĐỒNG TIỀN TÍN DỤNG SDR

Giảng viên : Nguyễn Thúy Quỳnh

Lớp : Tài chính quốc tế 03

Nhóm : 3

Thái nguyên, tháng 3 năm 2017

Trang 2

I:Tìm hiểu chung về đồng tiền tín dụng SDR

1.Khái niệm

Quyền rút vốn đặc biệt, viết tắt là SDRs (từ các chữ tiếng Anh Special Drawing Rights) là đơn vị tiền tệ qui ước của một số nước thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế SDRs có mã tiền tệ ISO 4217 là XDR

Theo IMF: “SDR là một loại tiền tệ do quỹ tiền tệ quốc tế IMF tạo ra vào năm

1969, đóng vai trò là một bộ phận trong dự trữ quốc tế của các nước thành viên” SDR được phân bổ cho các nước thành viên theo tỷ lệ góp vốn của các nước thành viên vào IMF Giá trị của SDR được tính dựa trên rổ các loại tiền tệ mạnh

Hình thái tồn tại của đồng SDR là những con số ghi trên tài khoản IMF mở cho mỗi nước thành viên một tài khoản để ghi các khoản SDR được phân bổ và để hạch toán các khoản thu chi bằng SDR giữa ngân hàng trung ương các nước trong việc thực hiện theo cán cân thanh toán của các nước Tuy nhiên nó chỉ là đơn vị qui ước, chỉ được sử dụng để tính toán chứ không thực sự tồn tại trong lưu thông do vậy người ta không thể tiêu nó như các loại tiền tệ dùng trong lưu thông khác Khi giải ngân, có thể quy đổi ra một loại tiền

tệ mạnh nào đó như Đô la Mỹ, Euro, hoặc Yên Nhật, tùy tình huống

SDR là một dạng tiền dự trữ quốc tế, được IMF tạo ra vào khoảng những năm cuối của thập kỉ 60 SDR đóng vai trò như một nhân tố bổ sung cho những dạng dữ trữ (vàng, đôla) sẵn có ở các quốc gia

SDR có thể được coi là một loại tiền tệ "nhân tạo" và được định nghĩa như là "chiếc rổ tiền tệ của các đồng tiền quốc gia." Bởi vì IMF sử dụng một số loại tiền tệ chính để tính giá trị cho SDR Hiện tại có 5 loại tiền trong rổ đó là: đồng euro, đồng Bảng Anh, Yen Nhật, Nhân dân tệ và Đôla Mỹ

Số lượng tiền của mỗi loại được tính trong rổ phụ thuộc vào tầm quan trọng của đồng tiền

đó trong hệ thống tiền tệ và tài chính thế giới Việc xác định số lượng của mỗi đồng tiền được Ban Quản trị IMF quyết định 5 năm 1 lần

IMF sử dụng đồng SDR cho mục đích thanh toán sổ sách SDRs được IMF phân bổ cho các nước thành viên và được bảo đảm bằng sự tín nhiệm tuyệt đối của chính phủ các nước này.Một số công ước quốc tế còn sử dụng đồng SDR làm giới hạn trách nhiệm bồi thường cho người chuyên chở trong trường hợp tổn thất đối với hàng hoá xảy ra Như Công ước Warsaw

2.Lịch sử hình thành

- Sau chiến tranh TG thứ II, Anh, Mỹ và các nước đồng minh đã cùng nhau xây dựng hệ thống TGHĐ cố định : Hệ thống Bretton Woods (1944-1973), trong đó, các quốc gia thành viên phải cố định tiền tệ của họ với đồng USD theo TGHĐ chính thức, và NH

Trang 3

trung ương Mỹ phải đảm bảo có thể chuyển đổi USD thành vàng với giá 35USD/ounce vàng Tuy nhiên, với sự phát triển của thương mại và tài chính quốc tế, nguồn lực dự trữ chủ yếu bằng vàng và USD của các quốc gia trở nên không đủ đáp ứng

- Năm 1969, SDR được Quỹ Tiền tệ Quốc tế đặt ra theo đề nghị của 10 nước trong câu lạc bộ Paris gồm: Bỉ, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Đức Khi được khai sinh, SDR là tài sản dự trữ có tính chất quốc tế nhằm bổ sung cho tài sản

dự trữ của các quốc gia thành viên, góp phần giúp duy trì TGHĐ của đồng nội tệ Tại thời điểm này hệ thống TGHĐ cố định trong khuôn khổ Hiệp ước Bretton Woods đang tồn tại nên các nước tham gia hiệp ước phải đảm bảo dự trữ vàng hoặc tiền tệ mạnh để có thể sử dụng nó mua vào nội tệ khi cần thiết nhằm duy trì TGHĐ

- Ban đầu, SDR được tính theo vàng: 1 SDR= 0,888671 g vàng = 1USD

Năm 1974, SDR không được xác định bằng vàng nữa, mà căn cứ vào giá trị một số đồng tiền của một số nước chủ yếu, gồm 16 nước mà mỗi loại chiếm tỷ trọng từ 1% trở lên trong thương mại quốc tế: Hoa Kì, Anh, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Italia, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Canađa, Hà Lan, Bỉ, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy, Ôxtrâylia, Áo, Nam Phi

- Đến 1980, giảm xuống còn 5 nước: Mỹ (Đô la Mỹ), Anh (Bảng Anh), Pháp (Phrăng), Đức (Mác) và Nhật Bản (Yên)

- Từ năm 1999 đến nay, khi đồng tiền chung châu Âu (EUR) ra đời và có sự thay đổi về tiềm lực tài chính của các nước phát triển, IMF đã đưa EUR vào rổ tiền tệ và bỏ Franc (Pháp) và Mac (Đức) ra khỏi rổ tiền tệ

-Sau khi hệ thống TGHĐ cố định bị sụp đổ và áp dụng tỷ giá thả nổi, tỷ giá của các đồng tiền thường xuyên biến động Vì vậy, IMF công bố hàng ngày TGHĐ của từng đồng tiền quốc gia với SDR

- Ngày nay SDR ít được sử dụng như một tài sản dự trữ, mà chức năng chính của nó là sử dụng như một tài khoản tại IMF của các nước thành viên và một số tổ chức quốc tế khác,

sử dụng như một đơn vị tính toán Quốc gia nắm giữ SDR có thể đổi ra các đồng tiền khác theo hai cách:

 Thông qua thoả thuận trao đổi tiền với các nước thành viên khác

 Thông qua một thành viên được chỉ định, có điạ vị đối ngoại cao để trao đổi với một thành viên khác có vị thế yếu hơn

- Tỷ lệ đóng góp vào ngân sách của IMF liên quan đến quyền bỏ phiếu của từng thành viên đối với các quyết định tài trợ, cho vay… của IMF

3 Sứ mệnh:

- SDR ra đời là sự kiện đánh dấu sự thay đổi của hệ thống tỷ giá hối đoái (TGHĐ) cố định sang TGHĐ linh hoạt hơn

- Giảm thiểu những hạn chế trong việc sử dụng đồng đôla và vàng là công cụ thanh toán quốc tế duy nhất SDR ra đời đã bổ sung vào quỹ dự trữ tiền tệ thế giới, làm cho hoạt

Trang 4

động thanh toán quốc tế được thông suốt hơn, đồng thời khiến cho thị trường hối đoái ổn định hơn

4 Xác định giá trị SDR

Từ 1969 đến tháng 6/1974, SDR được định nghĩa bằng giá trị của USD và USD xác định theo giá trị so với vàng:

- Từ 1969 đến ngày 17 tháng 12 năm 1971: 35 USD = 1 oz vàng

- Từ ngày 18 tháng 12 năm 1971 đến ngày 11 tháng 2 năm 1973: 38 USD = 1 oz vàng

- Từ ngày 12 tháng 2 năm 1973 đến ngày 30 tháng 6 năm 1974: 42,22 USD = 1 oz vàng Năm 1973, chế độ tỷ giá hối đoái cố định sụp đổ nên từ tháng 7 năm 1974 đến nay, SDR được định nghĩa theo các điều kiện của một rổ tiền tệ, bao gồm các loại tiền tệ chính được sử dụng trong thương mại và tài chính quốc tế

- Tỷ lệ mỗi loại tiền tệ tạo ra một SDR được chọn theo tầm quan trọng tương đối của nó trong thương mại và tài chính quốc tế Việc xác định loại tiền tệ trong rổ SDR và tỷ lệ của nó do Ban lãnh đạo của IMF thực hiện sau mỗi 5 năm Tỷ lệ của các loại tiền tệ trong giai đoạn từ 1981 tới 2020 là:

+ 1981–1985: USD 42%, DEM 19%, JPY 13%, GBP 13%, FRF 13%

+ 1986–1990: USD 42%, DEM 19%, JPY 15%, GBP 12%, FRF 12%

+ 1991–1995: USD 40%, DEM 21%, JPY 17%, GBP 11%, FRF 11%

+ 1996–2000: USD 39%, DEM 21%, JPY 18%, GBP 11%, FRF 11%

+ 2001–2005: USD 45%, EUR 29%, JPY 15%, GBP 11%

+ 2006–2010: USD 44%, EUR 34%, JPY 11%, GBP 11%

+2011-2015: USD 41.9% EUR 34,4%,JPY 9.4%,GBP 11.3%

+2016-2020: USD 41.73% EUR 30.93% JPY 8.23%,GBP 8.09% CNY 10.92%

- SDR được định giá bằng số bình quân gia quyền của các đồng tiền mạnh (đô la Mỹ, Bảng Anh, Euro và Yên Nhật) IMF tiến hành phân bổ đồng SDR cho các nước thành viên đồng thời cũng được chính phủ các nước thành viên hỗ trợ

1 SDR = Ʃ (giá trị quy ra USD của 5 loại tiền tệ)

= Ʃ (tỷ trọng của 1 loại tiền tệ trong rổ tiền tệ SDR x tỷ giá của loại tiền tệ đó so với USD) (công thức bình quân gia quyền)

- Giá quy đổi theo đôla của SDR được niêm yết hàng ngày trên website của IMF

- Giá này được xác định dựa vào số lượng giao dịch của 5 đồng tiền trên quy đổi ra đôla dựa theo TGHĐ niêm yết vào buổi trưa mỗi ngày trên thị trường tiền tệ (thị trường ngoại hối) London Nếu thị trường ngoại hối London đóng cửa thì dùng tỷ giá trên thị trường ngoại hối New York, cuối cùng là tỷ giá trên thị trường ngoại hối Frankfurt sẽ được sử dụng nếu thị trường New York cũng đóng cửa

- Công thức tính trọng số mới cũng đã được thông qua trong đợt xem xét năm 2015 Nó chỉ định cổ phần bằng với xuất khẩu của tổ chức phát hành tiền tệ và một chỉ số tài chính hỗn hợp Chỉ số tài chính bao gồm, bằng cổ phiếu bằng nhau, các khoản dự phòng chính

Trang 5

thức bằng đồng tiền của thành viên (hoặc tiền tệ) do các cơ quan tiền tệ khác nắm giữ mà không phải là tổ chức phát hành tiền tệ có liên quan, doanh thu ngoại hối bằng đồng tiền,

và tổng ngoại tệ Nợ ngân hàng và chứng khoán nợ quốc tế bằng đồng tiền

Trọng lượng tương ứng của đồng đô la Mỹ, đồng euro, đồng NDT Trung Quốc, đồng Yên Nhật và đồng Bảng Anh là 41,73%, 30,93%, 10,92%, 8,33% và 8,09% Các trọng số này được sử dụng để xác định số tiền của mỗi năm loại tiền tệ được đưa vào giỏ định giá SDR mới có hiệu lực vào ngày 1 tháng 10 năm 2016 Các khoản tiền tệ mới sẽ vẫn được

ấn định trong khoảng thời gian định giá SDR năm năm tiếp theo (xem SDR hàng ngày Định giá ) Vì các khoản tiền được ấn định, trọng lượng tương đối của các loại tiền tệ trong giỏ SDR có thể thay đổi trong thời kỳ định giá, với trọng số tăng lên (giảm) đối với các loại tiền tệ đánh giá cao (giảm giá) so với các loại tiền tệ khác theo thời gian

+ Ví dụ về cách xác định giá SDR ngày 22/03/2017

Thứ Tư, Ngày 22 tháng 3 năm 2017

Tiền tệ Số ngoại tệ theo Quytắc O-1 Tỷ giá 1 Đô la Mỹ tương

đương

Tỷ lệ thay đổi tỷ giá so với đô

la Mỹ so với tính toán trước Yuan Trung Quốc 1.0174 6.86560 0.148188 0,095

Yen Nhật 11.900 111.31500 0.106904 1.136

Anh Pound Sterling 0.085946 1.24490 0.106994 -0,104

Đô la Mỹ 0.58252 1.00000 0.582520

1.361750

- Đơn giản hơn:

1SDR có giá trị tương đương tổng 0.58USD + 0.38Euro + 11.9JPY + 0.086GBP+ 1.01 CNY

Chú ý:

1 Tỷ giá hối đoái đối với đồng Yên Nhật và đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc được thể hiện bằng đơn vị tiền tệ trên mỗi đô la Mỹ; Các mức phí khác được thể hiện bằng đô la

Mỹ cho mỗi đơn vị tiền tệ

2 IMF Rule O-2 (a) định nghĩa giá trị của đồng đô la Mỹ theo SDR là tương đương tổng

số tiền bằng đô la Mỹ của số tiền các loại tiền tệ trong giỏ SDR Theo các thủ tục hiện tại của IMF, mỗi đồng đô la Mỹ được tính dựa trên lãi suất giữa thị trường, theo Ngân hàng của Anh, dựa trên tỷ giá giao ngay tại thời điểm khoảng trưa trưa (xem trang web Ngân hàng của Anh ) ; Giá trị của đồng đô la Mỹ theo SDR được làm tròn thành sáu chữ số quan trọng Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và Ngân hàng Trung ương Châu Âu phục vụ như những nhà cung cấp dự phòng cho các tỷ giá hối đoái này

3 Phần trăm thay đổi so với tính toán trước

4 Giá trị nghịch đảo của giá trị của đồng đô la Mỹ theo SDR, được làm tròn thành sáu chữ số quan trọng

Nguồn: http://www.imf.org

Trang 6

5 Mua và bán SDRs

Các quốc gia thành viên cũng có thể mua, bán SDR phục vụ nhu cầu quốc gia và thực hiện nghĩa vụ với IMF, bổ sung thành phần dự trữ ngoại hối nhà nước Việc mua, bán SDR được thực hiện theo hai phương thức, một là dựa trên nguyên tắc tự nguyện giữa các quốc gia đối tác, hai là có sự can thiệp từ phía IMF trong việc chỉ định quốc gia thành viên đối tác Cụ thể:

Điểm b Khoản 2 Điều XIX Điều khoản thỏa thuận của IMF quy định : “thông qua thỏa thuận giữa các quốc gia thành viên có thể sử dụng SDR của mình để đổi lấy một lượng ngoại tệ tương ứng từ quốc gia thành viên khác” Trong suốt hai thập kỷ qua, thị trường mua bán SDR được thực hiện dựa trên nguyên tắc tự nguyện bởi các quốc gia thành viên với số lượng do các bên thỏa thuận Tính đến nay đã có khoảng 32 giao dịch tương tự diễn ra trong đó 19 giao dịch phát sinh mới kể từ sự kiện phân bổ SDR vào năm 2009

Kể từ tháng 9 năm 1987, các giao dịch tự nguyện đã đảm bảo tính thanh khoản của các SDRs Tuy nhiên, trong trường hợp không có đủ năng lực trong khuôn khổ thỏa thuận tự nguyện, IMF có thể kích hoạt cơ chế chỉ định Theo cơ chế này, các thành viên

có vị trí bên ngoài mạnh mẽ được IMF chỉ định để mua SDRs với các loại tiền tệ có thể

sử dụng tự do đến một số tiền nhất định từ các thành viên có vị thế bên ngoài yếu Sự sắp xếp này đóng vai trò là một sự đảm bảo tính thanh khoản và tính chất tài sản dự trữ của SDR

Ngoài ra nếu quốc gia thành viên không tự tìm được quốc gia thành viên đối tác, điểm a khoản 2 Điều XIX Điều khoản thỏa thuận của IMF quy định “quốc gia thành viên

có thể dùng SDR của mình để đổi lấy lượng ngoại tệ tương ứng từ quốc gia được chỉ định” Quốc gia được chỉ định ở đây do IMF lựa chọn trên nguyên tắc quốc gia được chỉ định là quốc gia có cán cân thanh toán và nguồn dự trữ ngoại hối đủ mạnh, tuy nhiên cũng có trường hợp quốc gia được chỉ định có thể là quốc gia có nguồn dự trữ ngoại hối mạnh mặc dù có thể đang gặp khó khăn về cán cân thanh toán Quy định này cũng hoàn toàn hợp lý bởi mục đích chung của quốc gia yêu cầu chuyển đổi SDR là đồng ngoại tệ là ngoại tệ tự do sử dụng vì vậy khi SDR chỉ là công cụ để chuyển đổi thì việc quốc gia chỉ định có khó khăn về cán cân thanh toán hay không không quan trọng bằng việc quốc gia được chỉ định có nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào Ngoài ra, IMF cũng chỉ định quốc gia thực hiện giao dịch trong trường hợp quốc gia đó có nhu cầu về SDR nhằm bổ sung phần SDR thiếu hụt

Để thực hiện giao dịch với quốc gia thành viên chỉ định, quốc gia thành viên yêu cầu chỉ được sử dụng SDR của mình để trao đổi trong trường hợp quốc gia đó có nhu cầu liên quan đến cán cân thanh toán, trạng thái dự trữ ngoại hối, bổ sung nguồn dự trữ ngoại hối và không phải chỉ vì cho một mục đích duy nhất nhằm thay đổi cấu phần của dự trữ ngoại hối của quốc gia mình

Trang 7

6.Lãi suất SDR

Lãi suất SDR do IMF cung cấp là cơ sở cho việc tính toán lãi suất cho hội viên vay, và lãi phải trả cho các thành viên về việc sử dụng nguồn lực của mình Đây cũng là khoản lãi trả cho các thành viên về khoản SDR của họ đóng góp và được tính vào khoản phân bổ SDR của họ Lãi suất SDR được xác định hàng tuần và dựa trên mức bình quân gia quyền của lãi suất đại diện đối với các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ của đồng SDR

Theo mức lãi suất chung hiện tại, thì lãi suất SDR cho hàng tuần tiếp theo sẽ bắt đầu từ ngày 27/10/2014, với lãi suất sàn ở mức 0,05%

7.Phân bổ SDR cho các thành viên của IMF

Theo điều khoản của Hiệp định (Điều XV, Mục 1, Điều XVIII), IMF có thể phân

bổ SDR cho các nước thành viên theo tỷ lệ mà họ đóng góp Việc phân bổ này cung cấp cho mỗi thành viên một tài sản dự trữ quốc tế vô điều kiện Cơ chế SDR là tự thanh toán

và các khoản thu cho các khoản phân bổ sau đó được sử dụng để trả lãi suất cho SDR Nếu một thành viên không sử dụng bất kỳ khoản SDR được phân bổ nào, khoản phí tương đương với lãi suất nhận được Tuy nhiên, nếu SDR của một thành viên SDR tăng lên trên sự phân bổ của nó, nó có hiệu quả kiếm được lãi suất trên vượt quá Ngược lại, nếu nó có ít SDRs hơn phân bổ, nó trả lãi suất cho sự thiếu hụt Các điều khoản của Thỏa thuận cũng cho phép huỷ bỏ SDR, nhưng điều khoản này chưa bao giờ được sử dụng

Các Điều khoản của Hiệp định của IMF quy định về khả năng quy định những người nắm giữ các SDR khác - không phải là các thành viên của IMF - một số loại hình

tổ chức chính thức, chẳng hạn như BIS, ECB và các ngân hàng phát triển khu vực Một chủ sở hữu theo quy định có thể thu được và sử dụng SDR trong các giao dịch và hoạt động với các chủ sở hữu theo quy định khác và các thành viên của IMF IMF không thể phân bổ SDRs cho chính mình hoặc cho các chủ sở hữu theo quy định

Việc phân bổ SDR được thực hiện cho giai đoạn kéo dài lên đến 05 năm, căn cứ vào nhu cầu mang tính toàn cầu dài hạn nhằm bổ sung tài sản dự trữ cho các quốc gia thành viên

và phải dựa trên nguyên tắc là nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của IMF, tránh tình trạng ứ đọng trong nền kinh tế, cũng như tránh việc vượt quá yêu cầu và lạm phát.Các quyết định phân bổ chung được lập cho các giai đoạn cơ bản liên tiếp lên đến 5 năm (báo cáo cuối cùng là từ tháng 6 năm 2016 ), mặc dù phân bổ SDR chung chỉ được thực hiện

ba lần Lần phân bổ đầu tiên là 9,3 tỷ SDR, phân phối vào năm 1970-72, lần thứ hai là 12,1 tỷ SDR phân phối vào năm 1979-1981 và thứ ba là 161,2 tỷ SDR được thực hiện vào ngày 28 tháng 8 năm 2009

Một cách riêng biệt, Bản sửa đổi thứ tư cho các Điều của Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10 tháng 8 năm 2009 và dành cho một khoản phân bổ một lần SDR 21,5 tỷ Mục đích của Sửa đổi Thứ tư là cho phép tất cả các thành viên của IMF tham gia vào hệ thống SDR trên cơ sở công bằng và điều chỉnh thực tế là các quốc gia tham gia vào Quỹ Tiền tệ Quốc tế sau năm 1981- hơn một phần năm thành viên của IMF- không bao giờ nhận được SDR phân bổ cho đến năm 2009

Việc phân bổ SDR chung và đặc biệt SDR năm 2009 cùng nhau đã tăng tổng số SDR cộng dồn lên 204,1 tỷ SDR

Trang 8

8.Vai trò của SDR

SDR đã được IMF tạo ra vào năm 1969 như một tài sản dự trữ bổ sung quốc tế, trong bối cảnh hệ thống tỷ giá cố định Bretton Woods Một quốc gia tham gia vào hệ thống này cần nguồn dự trữ chính thức - ngân hàng trung ương hoặc ngân hàng trung ương nắm giữ vàng và ngoại tệ được chấp nhận rộng rãi - có thể được sử dụng để mua đồng nội tệ trong các thị trường ngoại hối, theo yêu cầu để duy trì tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, nguồn cung quốc tế của hai tài sản dự trữ quan trọng là vàng và đô la Mỹ đã chứng

tỏ là không đủ để hỗ trợ cho việc mở rộng các dòng thương mại và tài chính thế giới đang diễn ra Do đó, cộng đồng quốc tế đã quyết định tạo ra một quỹ dự trữ quốc tế mới dưới

sự bảo trợ của IMF

Chỉ một vài năm sau khi SDR được thành lập, hệ thống Bretton Woods sụp đổ và các đồng tiền chính chuyển sang chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi Sau đó, sự tăng trưởng của các thị trường vốn quốc tế tạo điều kiện cho các chính phủ tín dụng và các quốc gia khác vay vốn tích lũy rất nhiều dự trữ quốc tế Những phát triển này đã làm giảm sự phụ thuộc vào SDR như là một tài sản dự trữ toàn cầu Tuy nhiên, gần đây, việc phân bổ SDR năm 2009 với tổng số 182,6 tỷ SDR đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tính thanh khoản cho hệ thống kinh tế toàn cầu và bổ sung các nguồn dự trữ chính thức của các quốc gia thành viên trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu

SDR không phải là tiền tệ, cũng không phải là một yêu sách của IMF Thay vào

đó, nó là một yêu cầu bồi thường tiềm năng đối với các loại tiền tệ tự do sử dụng của các thành viên của IMF Người nắm giữ các SDR có thể lấy các loại tiền tệ này để đổi lấy SDRs của họ theo hai cách: thứ nhất, thông qua việc sắp xếp các cuộc trao đổi tự nguyện giữa các thành viên; Và thứ hai, bởi IMF chỉ định các thành viên có vị thế bên ngoài mạnh để mua SDR từ các thành viên có vị trí bên ngoài yếu Ngoài vai trò là một tài sản

dự trữ bổ sung, SDR đóng vai trò là tài khoản của IMF và một số tổ chức quốc tế khác

II: Sự kiện nổi bật

1 IMF đưa đồng nhân dân tệ vào rổ tiền dự trữ

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vừa chính thức thêm đồng Nhân dân tệ vào giỏ tiền tệ

dự trữ quốc tế, còn được gọi là Quyền rút vốn đặc biệt (SDR), đánh giá một mốc phát triển quan trọng của đồng nội tệ Trung Quốc trong lộ trình trở thành đồng tiền quốc tế

Trang 9

Vào ngày 30/11/2016 IMF quyết định đưa đồng Nhân dân tệ vào giỏ SDR có thể coi như một sự thừa nhận của thế giới đối với nỗ lực quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc, theo tin từ Bloomberg

Như vậy, đồng Nhân dân tệ sẽ “ngồi cùng mâm” với đồng USD, Euro, Bảng Anh và Yên trong giỏ SDR

Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1999, giỏ các đồng tiền dự trữ của IMF có thay đổi Năm

1999, IMF đã quyết định đưa đồng Euro vào giỏ thay cho đồng Mark Đức và đồng Franc Pháp cũ

Đồng Nhân dân tệ bắt đầu được đưa vào lưu hành sau chiến tranh thế giới thứ hai và trong suốt nhiều năm chỉ có thể được sử dụng tại nội địa Trung Quốc

IMF thường xem xét lại cấu trúc của giỏ tiền tệ dự trữ 5 năm một lần Vào năm 2010, IMF từng từ chối chấp nhận đồng Nhân dân tệ với lý do đồng tiền này chưa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn cần thiết

Trong cuộc họp báo để thông báo quyết định của mình, Tổng giám đốc IMF Christine Lagarde nói: “Quyết định đưa Nhân dân tệ vào SDR là sự công nhận cho việc Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều chính sách đổi mới thành công, và Nhân dân tệ đã hội tụ đủ các điều kiện để đại diện cho kinh tế toàn cầu”

Với quyết định có hiệu lực từ ngày 1/10/2016, đồng Nhân dân tệ sẽ chiếm 10,92% tỷ trọng trong SDR, thấp hơn nhiều so với tỷ trọng 41,73% của USD, 30,93% của Euro, nhưng cao hơn tỷ lệ 8,33% của Yên và 8,09% của Bảng Anh

Còn từ nay cho đến 1/10/2016, tỷ lệ trong giỏ SDR vẫn sẽ là 41,9% với đồng USD, Euro (37,4%), Bảng Anh (11,3%) và Yên (9,4%)

Trang 10

• Ảnh hưởng đến Việt Nam

Dự báo về những tác động trước mắt tới Việt Nam, chuyên gia tài chính-ngân hàng

TS Cấn Văn Lực cho hay, về lý thuyết, sự kiện này sẽ khiến đồng NDT tăng giá Tuy nhiên, Chính phủ Trung Quốc sẽ không để tiền tăng giá do lo ngại ảnh hưởng đến xuất khẩu trong bối cảnh kinh tế nước này có chiều hướng đi xuống Vì thế, Trung Quốc sẽ phải điều chỉnh chính sách tỷ giá linh hoạt hơn và điều này sẽ tác động đến tỷ giá của Việt Nam Tất nhiên, không phải tỷ giá Việt Nam sẽ tăng giảm theo kiểu “song hành” mà

sẽ có sự cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng Bên cạnh đó, tác động của sự kiện trên cũng liên quan đến nợ nước ngoài của Việt Nam, vì nợ theo đồng tiền SDR chiếm khoảng 25% tổng nợ Tuy vậy, trong rổ SDR có đến 5 loạitiền tệ khác nhau, giả sử tỷ giá NDT tăng nhưng các loại tiền khác xuống giá thì chúng có thể sẽ bù đắp lẫn nhau, nên chưa thể nói trước được việc sẽ có ảnh hưởng tăng hay giảm nợ, nhưng tỷ giá giữa các loại tiền tệ này chắc chắn sẽ thay đổi

Còn việc Việt Nam có nên dự trữ bằng NDT hay không, theo các chuyên gia tài chính, cần phải xem xét cơ cấu bên trong SDR Trong rổ này, NDT vẫn là đồng tiền nhỏ, lép vế hơn nhiều so với USD Đấy là trên danh nghĩa Trong thực tế, thế giới vẫn sử dụng đồng USD là chủ yếu trong thanh toán, giao dịch Việc lựa chọn đồng tiền nào để thanh toán còn phải chờ xem đồng NDT có từng bước lấn sân đồng USD hay không, nhưng trong ngắn hạn và trung hạn chắc chắn USD vẫn là đồng tiền phổ biến nhất Hiện nay, NDT chỉ mang biểu tượng là đồng tiền có vị trí quan trọng, còn thuyết phục thế giới sử dụng nó hay không vẫn là câu chuyện của tương lai Trong ngắn và trung hạn, đồng NDT chưa tác động gì nhiều lắm đối với Việt Nam, vì nó vẫn là đồng tiền trao đổi giữa ngân hàng trung ương chứ không phải là đồng tiền thanh toán, giao dịch Tuy nhiên, là quốc

Ngày đăng: 02/04/2017, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w