TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢNKHOA YGIÁO TRÌNH GIẢI PHẪU(Dành cho SV ĐH Dược LT ĐH Dược) LƯU HÀNH NỘI BỘ2014 MỤC LỤC1. NHẬP MÔN GIẢI PHẪU HỌC12. GIẢI PHẪU HỆ HÔ HẤP93. GIẢI PHẪU HỆ TUẦN HOÀN474. GIẢI PHẪU HỆ TIÊU HÓA905. GIẢI PHẪU HỆ TIẾT NIỆU1786. GIẢI PHẪU HỆ THẦN KINH2087. GIẢI PHẪU SINH LÝ HỆ SINH DỤC2338. GIẢI PHẪU HỆ CƠ XƯƠNG KHỚP2539. GIẢI PHẪU HỆ NỘI TIẾT273 NHẬP MÔN GIẢI PHẪU HỌCBs. Nguyễn Tuấn CảnhMục tiêu học tập1.Trình bày được định nghĩa và lịch sử giải phẫu học.2.Trình bày được các phương thức mô tả giải phẫu.3.Nắm được tầm quan trọng của giải phẫu học đối với y sinh học và trong trường y.4.Trình bày được tư thế và định hướng vị trí giải phẫu.Nội dung1. ĐỊNH NGHĨA VÀ LỊCH SỬ MÔN GIẢI PHẪU HỌC Giải phẫu học người (human anatomy) là môn khoa học nghiên cứu cấu trúc cơ thể con người. Tuỳ thuộc vào phương tiện quan sát, giải phẫu học được chia ra thành 2 phân môn: giải phẫu đại thể (gross anatomy hay macroscopic anatomy) nghiên cứu các cấu trúc có thể quan sát bằng mắt thường; giải phẫu vi thể (microscopic anatomy hay histology) nghiên cứu các cấu trúc nhỏ chỉ có thể quan sát dưới kính hiển vi. Tuy nhiên ở hầu hết các trường đại học y, giải phẫu học chỉ trình bày giải phẫu đại thể còn giải phẫu vi thể hay mô học là một bộ môn riêng tách rời với giải phẫu đại thể. Việc nghiên cứu giải phẫu học có từ thời Ai Cập cổ đại, nhưng đến giữa thế kỷ thứ tư (trước công nguyên) Hypocrates “Người cha của y học” đưa giải phẫu vào giảng dạy ở Hy Lạp. Ông cho rằng “khoa học y học bắt đầu bằng việc nghiên cứu cấu tạo cơ thể con người”. Một nhà y học nổi tiếng khác của Hy Lạp, Aristotle (384322 trước công nguyên), người sáng lập ra môn giải phẫu học so sánh và cũng là người có công lớn trong giải phẫu học phát triển và phôi thai học. Ông là người đầu tiên sử dụng từ “anatome”, một từ Hy Lạp có nghĩa là “chia tách ra hay phẫu tích”. Từ phẫu tích “dissection” bắt nguồn từ tiếng Latin có nghĩa là “cắt rời thành từng mảnh”. Từ này lúc đầu đồng nghĩa với từ giải phẫu (anatomy) nhưng ngày nay nó chỉ là từ dùng để chỉ một kỹ thuật để bộc lộ và quan sát các cấu trúc cơ thể nhìn thấy được bằng mắt thường (giải phẫu đại thể), trong khi đó từ giải phẫu là từ chỉ một chuyên ngành hay một lĩnh vực nghiên cứu khoa học mà những kỹ thuật được sử dụng nghiên cứu bao gồm không chỉ phẫu tích mà cả những kỹ thuật khác như siêu âm, chụp Xquang.2. CÁC PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG THỨC MÔ TẢ GIẢI PHẪU Ngoài phân tích, người ta có thể quan sát được các cấu trúc cơ thể (hệ xương khớp và các khoang cơ thể) bằng chụp tia X gọi là giải phẫu Xquang (radiological anatomy). Giải phẫu Xquang là một phần quan trọng của giải phẫu đại thể và là cơ sở của chuyên ngành Xquang. Chỉ khi hiểu được sự bình thường của các cấu trúc trên phim chụp Xquang thì ta mới nhận ra được các biến đổi bất thường của chúng trên phim chụp do bệnh tật hoặc chấn thương gây ra. Ngày nay, đã có thêm nhiều kỹ thuật mới làm hiện rõ hình ảnh cấu trúc cơ thể (chẩn đoán hình ảnh) như siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI)... Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có nhiều cách mô tả giải phẫu khác nhau. Các cách tiếp cận chính trong nghiên cứu giải phẫu là:2.1. Giải phẫu học hệ thống (systemic anatomy) Là mô tả cấu trúc giải phẫu theo từng hệ thống các cơ quan, bộ phận (cùng thực hiện một chức năng) nhằm giúp cho người học hiể
Trang 2MỤC LỤC 2
GIẢI PHẪU HỆ TUẦN HOÀN 45
GIẢI PHẪU SINH LÝ HỆ SINH DỤC 228
GIẢI PHẪU HỆ CƠ XƯƠNG KHỚP 248
Trang 3NHẬP MÔN GIẢI PHẪU HỌC
Bs Nguyễn Tuấn Cảnh
Mục tiêu học tập
1 Trình bày được định nghĩa và lịch sử giải phẫu học.
2 Trình bày được các phương thức mô tả giải phẫu.
3 Nắm được tầm quan trọng của giải phẫu học đối với y sinh học và trong trường y.
4 Trình bày được tư thế và định hướng vị trí giải phẫu.
Nội dung
1 ĐỊNH NGHĨA VÀ LỊCH SỬ MÔN GIẢI PHẪU HỌC
Giải phẫu học người (human anatomy) là môn khoa học nghiên cứu cấu trúc cơ thể con người Tuỳ thuộc vào phương tiện quan sát, giải phẫu học được chia ra thành 2 phân môn: giải phẫu đại thể (gross anatomy hay macroscopic anatomy) nghiên cứu các cấu trúc có thể quan sát bằng mắt thường; giải phẫu vi thể (microscopic anatomy hay histology) nghiên cứu các cấu trúc nhỏ chỉ có thể quan sát dưới kính hiển vi Tuy nhiên ở hầu hết các trường đại học y, giải phẫu học chỉ trình bày giải phẫu đại thể còn giải phẫu vi thể hay mô học là một bộ môn riêng tách rời với giải phẫu đại thể
Việc nghiên cứu giải phẫu học có từ thời Ai Cập cổ đại, nhưng đến giữa thế kỷ thứ tư (trước công nguyên) Hypocrates “Người cha của y học” đưa giải phẫu vào giảng dạy ở Hy Lạp Ông cho rằng “khoa học y học bắt đầu bằng việc nghiên cứu cấu tạo cơ thể con người” Một nhà y học nổi tiếng khác của Hy Lạp, Aristotle (384-322 trước công nguyên), người sáng lập ra môn giải phẫu học so sánh và cũng
là người có công lớn trong giải phẫu học phát triển và phôi thai học Ông là người đầu tiên sử dụng từ “anatome”, một từ Hy Lạp có nghĩa là “chia tách ra hay phẫu tích” Từ phẫu tích “dissection” bắt nguồn từ tiếng Latin có nghĩa là “cắt rời thành từng mảnh” Từ này lúc đầu đồng nghĩa với từ giải phẫu (anatomy) nhưng ngày nay
Trang 4nó chỉ là từ dùng để chỉ một kỹ thuật để bộc lộ và quan sát các cấu trúc cơ thể nhìn thấy được bằng mắt thường (giải phẫu đại thể), trong khi đó từ giải phẫu là từ chỉ một chuyên ngành hay một lĩnh vực nghiên cứu khoa học mà những kỹ thuật được
sử dụng nghiên cứu bao gồm không chỉ phẫu tích mà cả những kỹ thuật khác như siêu âm, chụp X-quang
2 CÁC PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG THỨC MÔ TẢ GIẢI PHẪU
Ngoài phân tích, người ta có thể quan sát được các cấu trúc cơ thể (hệ xương - khớp và các khoang cơ thể) bằng chụp tia X gọi là giải phẫu X-quang (radiological anatomy) Giải phẫu X-quang là một phần quan trọng của giải phẫu đại thể và là cơ
sở của chuyên ngành X-quang Chỉ khi hiểu được sự bình thường của các cấu trúc trên phim chụp X-quang thì ta mới nhận ra được các biến đổi bất thường của chúng trên phim chụp do bệnh tật hoặc chấn thương gây ra Ngày nay, đã có thêm nhiều
kỹ thuật mới làm hiện rõ hình ảnh cấu trúc cơ thể (chẩn đoán hình ảnh) như siêu
âm, chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI)
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có nhiều cách mô tả giải phẫu khác nhau Các cách tiếp cận chính trong nghiên cứu giải phẫu là:
2.1 Giải phẫu học hệ thống (systemic anatomy)
Là mô tả cấu trúc giải phẫu theo từng hệ thống các cơ quan, bộ phận (cùng thực hiện một chức năng) nhằm giúp cho người học hiểu được chức năng của từng hệ cơ quan Các hệ cơ quan trong cơ thể là: hệ da, hệ xương, hệ khớp, hệ cơ, hệ tiêu hoá,
hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiết niệu, sinh dục và hệ nội tiết Các giác quan là một phần của hệ thần kinh
2.2 Giải phẫu vùng (regional anatomy)
Giải phẫu vùng hay giải phẫu định khu (topographical) là nghiên cứu và mô tả các cấu trúc (thuộc các hệ cơ quan khác nhau) trong một vùng bao gồm cả những liên quan của chúng với nhau Cách mô tả này phù hợp với quan điểm “Giải phẫu ứng dụng” hay “Giải phẫu lâm sàng”, nhằm phục vụ chủ yếu cho các thầy thuốc lâm sàng hàng ngày phải thực hành khám và can thiệp trên bệnh nhân Cơ thể được chia thành những vùng lớn như: ngực, bụng, chậu hông và đáy chậu, chi, lưng, đầu
Trang 5và cổ Mỗi vùng lớn lại được chia thành nhiều vùng nhỏ hơn.
2.3 Giải phẫu bề mặt (surface anatomy)
Là mô tả hình dáng bề mặt cơ thể người liên hệ với cấu trúc sâu ở bên trong Mục đích là giúp cho người học hình dung ra các cấu trúc nằm dưới da để áp dụng thăm khám người bệnh, đánh giá thương tổn và can thiệp khi cần thiết
2.4 Giải phẫu phát triển (developmental anatomy)
Nghiên cứu và mô tả sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể Sự tăng trưởng và phát triển diễn ra trong suốt đời người, từ trong bụng mẹ đến khi ra đời, lớn lên, già
và chết Mỗi một giai đoạn cơ thể có sự phát triển và cốt hoá riêng Nghiên cứu quá trình từ trong bụng mẹ đến khi ra đời gọi là phôi thai học Nghiên cứu sự phát triển của con người từ nhỏ đến già gọi là giải phẫu học trẻ em, giải phẫu học người già
Mô tả giải phẫu là một công việc nhàm chán nếu không biết liên hệ và vận dụng kiến thức giải phẫu với các môn học khác có liên quan Có rất nhiều cách tiếp cận
để mô tả giải phẫu như giải phẫu chức năng, giải phẫu lâm sàng
- Giải phẫu chức năng (functional anatomy): là sự kết hợp giữa mô tả cấu trúc và chức năng của từng cơ quan bộ phận trong cơ thể
- Giải phẫu lâm sàng (clinical anatomy): hay giải phẫu thực dụng là việc vận dụng thực tế các kiến thức giải phẫu vào vào việc giải quyết các vấn đề lâm sàng và ngược lại áp dụng các kiến thức lâm sàng vào việc mở rộng các kiến thức giải phẫu
3 VỊ TRÍ CỦA GIẢI PHẪU TRONG Y SINH HỌC
Giải phẫu học là một môn cơ bản, mở đầu và khai sinh ra tất cả những môn phân hoá và phát triển đã nêu trên của nó Hình thái học là một lĩnh vực cơ bản đầu tiên của sinh học và là cơ sở cho lĩnh vực sinh lý học
Giải phẫu và sinh lý học là 2 môn không thể tách rời nhau được Hình thái luôn
đi cùng chức năng, hình thái nào thì chức năng đó Cho nên giải phẫu chức năng đã trở thành một quan điểm và phương châm cơ bản của nghiên cứu và mô tả giải phẫu
4 TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIẢI PHẪU HỌC TRONG Y HỌC
Trang 6Giải phẫu học là môn cơ sở của các môn cơ sở cũng như các môn lâm sàng của y học Thật vậy, không thể hiểu được cấu tạo tế bào của từng mô, từng cơ quan (mô học), không thể hiểu được sự phát triển của từng cá thể (phôi thai học), cũng như chức năng của từng cơ quan (sinh lý học) nếu chúng ta không biết gì về hình thái, cấu trúc của các cơ quan đó Đối với các môn lâm sàng cũng vậy, người thầy thuốc cần phải có kiến thức giải phẫu mới có thể thăm khám các phủ tạng để chẩn đoán cũng như điều trị có kết quả.
Vì vậy, đúng như Mukhin, một thầy thuốc Nga nói: “Người thầy thuốc mà không có kiến thức về giải phẫu học thì chẳng những vô ích mà còn có hại” Đặc biệt với các môn học hệ ngoại - sản, kiến thức giải phẫu học lại càng cần thiết.Không thể mổ xẻ tốt trên người sống nếu không nắm vững giải phẫu từng cơ quan, từng bộ phận cũng như từng vùng Nhà giải phẫu học nổi tiếngngười Pháp Testut đã từng viết trong cuốn sách giải phẫu học đồ sộ của mình rằng:
“Có thể khẳng định mà không sợ quá đáng là chỉ có trường phái giải phẫu và đặc biệt là giải phẫu định khu mới là nơi đào tạo những nhà phẫu thuật giỏi” Theo GS Trịnh Văn Minh: “con người đứng vững bằng đôi bàn chân, Y học bắt đầu từ giải phẫu học”
5 DANH TỪ VÀ DANH PHÁP GIẢI PHẪU HỌC
Môn khoa học nào cũng có ít nhiều các từ ngữ chuyên ngành riêng Đối với danh
từ giải phẫu học thì nó có tầm quan trọng đặc biệt, nó không chỉ riêng cho ngành giải phẫu mà cho tất cả các ngành có liên quan như sinh học, thú y và nhất là trong
y học vì nó chiếm tới 2/3 tổng số danh từ của y học
Mỗi chi tiết giải phẫu có một tên riêng, mỗi danh từ giải phẫu phải đảm bảo yêu cầu mô tả đúng nhất chi tiết mà nó đại diện Thuật ngữ giải phẫu quốc tế có nguồn gốc từ tiếng Latin, tiếng Ả Rập và tiếng Hy Lạp nhưng đều được thể hiện bằng ký
tự và văn phạm tiếng Latin Trên con đường tiến tới một bản danh pháp giải phẫu quốc tế hợp lý nhất và để bổ sung thêm những chi tiết mới phát hiện, đã có nhiều thế hệ danh pháp giải phẫu Latin khác nhau được lập ra qua các kỳ hội nghị Bản danh pháp mới nhất là thuật ngữ giải phẫu quốc tế TA (Terminologia Anatomica)
Trang 7được hiệp hội các nhà giải phẫu quốc tế thống nhất và chấp thuận năm 1998 Hiện nay tất cả các danh từ giải phẫu mang tên người phát hiện (eponyms) đã hoàn toàn được thay thế.
6 TƯ THẾ GIẢI PHẪU VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỊ TRÍ GIẢI PHẪU 6.1 Tư thế giải phẫu
Tư thế người đứng thẳng 2 tay buông xuôi, mắt và 2 bàn tay hướng về phía
trước Các vị trí và cấu trúc giải phẫu được xác định theo 3 mặt phẳng không gian
6.2.3 Mặt phẳng nằm ngang
Là mặt phẳng nằm theo chiều ngang, thẳng góc với trục đứng thẳng của cơ thể hay thẳng góc với 2 mặt phẳng đứng Có nhiều mặt phẳng nằm ngang khác nhau, song song với các chiều nằm ngang phải trái và trước sau của cơ thể Song cũng có một mặt phẳng nằm ngang qua chính giữa cơ thể, lúc này cơ thể chia thành 2 phần trên và dưới
Chú ý: không nên nhầm mặt phẳng nằm ngang với mặt cắt ngang, hai mặt phẳng này có thể trùng nhau
6.2.4 Các từ chỉ mối quan hệ vị trí và so sánh
- Trên: hay đầu, phía đầu Dưới: hay đuôi, phía đuôi.
Trang 8- Trước: phía bụng Sau: phía lưng.
- Phải trái là 2 phía đối lập nhau
- Trong ngoài là 2 vị trí so sánh theo chiều ngang ở cùng một phía đối với mặt phẳng đứng dọc giữa
- Gần hay phía gần, xa hay phía xa gốc chi
- Quay và trụ hay phía trụ và phía quay
- Phía chày và mác tương ứng với ngoài và trong
- Phía gan tay và phía mu tay tương ứng với trước và sau bàn tay
- Phía gan chân và mu chân tương ứng với trên và dưới bàn chân
13 Phía trên (đầu)
Hình 1 Các mặt phẳng của cơ thể trong không gian
6.2.5 Nguyên tắc đặt tên trong giải phẫu học
Đây là môn học mô tả nên phải có các nguyên tắc đặt tên cho các chi tiết để
người học dễ nhớ và không bị lẫn lộn, những nguyên tắc chính là:
- Lấy tên các vật trong tự nhiên đặt cho các chi tiết có hình dạng giống như thế
Trang 9- Đặt tên theo hình học (chỏm, lồi cầu, tam giác, tứ giác ).
- Đặt tên theo chức năng (dạng, khép, gấp, duỗi )
- Đặt tên theo vị từ nông sâu (gấp nông, gấp sâu )
- Đặt tên theo vị trí tương quan trong không gian (trên, dưới, trước, sau, trong, ngoài, dọc, ngang ) dựa vào 3 mặt phẳng trong không gian là mặt phẳng đứng dọc, đứng ngang và nằm ngang
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ HỌC GIẢI PHẪU
7.1 Phương pháp nghiên cứu
Danh từ giải phẫu học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là anatome (cắt ra), nói
theo ngôn ngữ hiện nay là “phẫu tích” Nhưng khi khoa học phát triển thì chỉ quan sát bằng mắt không đủ, mà phải sử dụng nhiều phương pháp khác: bơm tạng, nhuộm màu, chụp X-quang, làm tiêu bản trong suốt, nhuộm mô, tổ chức vv tuỳ mục đích nhưng chủ yếu là đại thể và vi thể
7.2 Phương pháp học giải phẫu
7.2.1 Xác và xương rời
Học xương thì phải trực tiếp cầm lấy xương mà mô tả, đối chiếu với hình vẽ
trong sách hoặc trên tranh
Học các phần mềm thì phải trực tiếp phẫu tích trên xác mà quan sát và hiểu nội dung đã nêu trong bài giảng hoặc sách vở
Xác đóng vai trò quan trọng trong giảng và học giải phẫu, nhưng thực tế hiện nay có rất ít xác nên việc sinh viên trực tiếp phẫu tích trên xác là rất hiếm Ngoài xác ướp để phẫu tích còn có các tạng rời, súc vật cũng giúp ích cho sinh viên học tập giải phẫu rất tốt
Trang 107.2.4 Các mô hình nhân tạo bằng chất dẻo hay thạch cao
Tuy không hoàn toàn giống thật song vẫn giúp ích cho sinh viên học về hình ảnh không gian hơn tranh vẽ và dễ tiếp xúc hơn xác
7.2.5 Tranh vẽ
Tranh vẽ là phương tiện học tập rất tốt và rất cần thiết.
7.2.6 Cơ thể sống
Là một học cụ vô cùng quan trọng đối với sinh viên Không gì dễ hiểu dễ nhớ,
nhớ lâu, và dễ vận dụng vào thực tế bằng quan sát trực tiếp trên cơ thể sống những cái có thể quan sát được như: tai ngoài, mắt, mũi, họng, miệng, răng
7.2.7 Hình ảnh X-quang
Hình ảnh X-quang cũng là học cụ trực quan đối với thực tế trên cơ thể sống
7.2.8 Các phương tiện nghe nhìn
Ngày nay các phương tiện nghe nhìn rất phát triển, thông qua công nghệ thông tin chúng ta có thể cập nhật các kiến thức, hình ảnh (kể cả không gian ba chiều trên mạng) Có thể trao đổi thông tin cũng như tự học
Nói tóm lại giải phẫu học là một môn quan trọng của y học, người sinh viên cũng như người thầy thuốc phải nắm vững giải phẫu cơ thể người thì mới có thể chữa được bệnh cho người bị bệnh
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Quang Quyền (2010), Bài giảng Giải phẫu học, tập I – II, NXB Y học TP HCM
2 Trường Đại Học Y Khoa Thái Nguyên, Bài giảng Giải phẫu học, tập I – II, , NXB
Y học Hà Nội, 2008
3 Nguyễn Văn Huy (2006), Giải phẫu người, NXB Y học Hà Nội
4 Trịnh Văn Minh (2004), Giải phẫu người, tập I, NXB Y học Hà Nội
5 Atlas Giải phẫu học
Trang 11GIẢI PHẪU HỆ HÔ HẤP
Bs Nguyễn Tuấn Cảnh
Mục tiêu học tập
1 Mô tả cấu tạo của mũi ngoài và các thành của ổ mũi, các xoang cạnh mũi.
2 Biết được hình dạng và kích thước của hầu, đối chiếu hầu lên cột sống.
3 Mô tả được hình thể ngoài và trong của thanh quản.
4 Trình bày được đặc điểm giải phẫu của khí quản.
5 Trình bày được đặc điểm giải phẫu của phổi và màng phổi.
Nội dung
Sự hô hấp là một đặc trưng cơ bản của sinh vật Ở loài đơn bào sự trao đổi khí được thực hiện trực tiếp giữa tế bào và môi trường sống Ở động vật cấp cao như động vật có xương sống sự hô hấp gồm hai động tác hít vào và thở ra Không khí từ bên ngoài vào phổi khi hít vào và ngược lại khi thở ra Quá trình trao đổi khí giữa không khí và tế bào được thực hiện gián tiếp qua sự trao đổi khí và máu Do đó hệ
hô hấp gồm nhiều bộ phận được hình thành
Hệ hô hấp ở người gồm hệ thống dẫn khí và hệ thống trao đổi khí giữa máu và không khí Hệ thống dẫn khí gồm có: mũi, hầu, thanh quản, khí quản và phế quản
Hệ thống trao đổi khí là phổi, chứa các phế nang là nơi trao đổi khí giữa máu và không khí
Hình 1 Hệ hô hấp
Trang 12I MŨI
Mũi là phần đầu của hệ hô hấp, có nhiệm vụ chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi
ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác Mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi
Hình 2 Giải phẫu bề mặt tháp mũi
Mũi ngoài được cấu tạo bởi một khung xương sụn, cơ và da, bên trong được lót bởi niêm mạc
Trang 13- Sụn mũi bên: nằm ở hai bên mũi ngoài, hình tam giác, bờ trên ngoài khớp với
xương mũi và mỏm trán xương hàm trên, bờ dưới khớp với sụn cánh mũi lớn, bờ trong tiếp khớp với sụn vách mũi
- Sụn vách mũi: hình tứ giác, phía sau tiếp khớp xương lá mía và mảnh thẳng
đứng xương sàng Phía dưới tiếp khớp với xương hàm trên và sụn lá mía mũi Bờ trước tạo nên sống mũi
- Sụn cánh mũi lớn: nằm 2 bên đỉnh mũi Có hai trụ: trụ trong tạo nên vách mũi
và trụ ngoài lớn hơn tạo nên cánh mũi
- Sụn cánh mũi nhỏ và sụn phụ: nằm giữa sụn mũi bên và sụn cánh mũi lớn.
- Sụn lá mía mũi: là 2 mảnh sụn dài nhỏ nằm dọc theo bờ sau dưới của sụn vách
2 Mũi trong hay ổ mũi
Gồm 2 ổ, nằm ngay dưới nền sọ và trên khẩu cái cứng, cách nhau bởi vách mũi (còn gọi là thành mũi trong), thông với bên ngoài qua lỗ mũi trước và thông với hầu
ở sau qua lỗ mũi sau Mỗi ổ mũi có 4 thành: trong, ngoài, trên và dưới Có nhiều
Mũi ngoài
Trang 14xoang nằm trong các xương lân cận, đổ vào ổ mũi.
2.1 Tiền đình mũi
Là phần đầu tiên của ổ mũi, hơi phình ra, tương ứng với phần sụn cánh mũi lớn Phần lớn tiền đình mũi được lót bởi da với nhiều lông và tuyến nhầy để cản bụi Giới hạn giữa tiền đình mũi và phần còn lại của ổ mũi nhìn rõ ở thành ngoài gọi là thềm mũi
Thành mũi trong hay vách mũi: có hai phần là sụn và xương
- Phần sụn: ở trước, gồm trụ trong sụn cánh mũi lớn (tạo nên phần màng di động phía dưới của vách mũi) và sụn vách mũi, sụn lá mía mũi
- Phần xương: ở sau, do mảnh thẳng đứng của xương sàng và xương lá mía tạo nên
2.4 Trần ổ mũi
Trần của ổ mũi có ba phần
- Phần trước: là xương mũi và xương trán
- Phần giữa: gồm có mảnh sàng của xương sàng
- Phần sau: là thân xương bướm, cánh của xương lá mía và mỏm bướm của xương khẩu cái
2.5 Nền ổ mũi
Nền ổ mũi là khẩu cái cứng, ngăn cách giữa ổ mũi và ổ miệng
Trang 152.6 Thành mũi ngoài
Tạo nên bởi xương hàm trên, xương mũi, xương lệ, mảnh thẳng xương khẩu cái,
mê đạo sàng và mỏm chân bướm
Có 3 - 4 mảnh xương cuốn cong, nhô vào ổ mũi gọi là các xoăn mũi: xoăn mũi dưới, xoăn mũi giữa, xoăn mũi trên và đôi khi có thêm xoăn mũi trên cùng Các xương xoăn mũi tạo với thành ngoài ổ mũi các ngách mũi tương ứng
- Ngách mũi dưới: có ống lệ mũi đổ vào ở phần trước
- Ngách mũi giữa: phức tạp nhất, với các cấu trúc như bọt sàng, khe bán nguyệt, mỏm móc và là nơi đổ của các xoang sàng trước, xoang sàng giữa và xoang hàm trên, xoang trán
- Ngách mũi trên hoặc trên cùng: có lỗ đổ của các xoang sàng sau và xoang bướm
Phía trước xoăn mũi giữa và ngách mũi giữa, thành ngoài này lồi lên gọi là đê mũi Trước đê mũi là rãnh khứu
Hình 4 Trần, nền và thành mũi
trong
Trang 16Hình 5 Thành ngoài của mũi 2.7 Niêm mạc mũi
Lót mặt trong ổ mũi, liên tục với niêm mạc các xoang, hầu,
Khá đặc biệt, gồm 2 vùng: vùng khứu giác và vùng hô hấp
2.7.1 Vùng khứu giác: là vùng trên xoăn mũi trên, trần ổ mũi và 1/3 trên vách mũi
Vùng này chứa nhiều đầu mút thần kinh khứu giác Luồng không khí chạy từ ngoài theo rãnh khứu và ngách mũi trên vào vùng khứu giác nhờ đó mà ta phân biệt được các mùi
2.7.2 Vùng hô hấp: là phần lớn phía dưới ổ mũi Niêm mạc có nhiều mạch máu,
tuyến niêm mạc và tổ chức bạch huyết nhằm để sưởi ấm, làm ẩm không khí, lọc bớt bụi và sát trùng trước khi vào phổi
3 Các xoang cạnh mũi
Gồm có 4 đôi là: xoang hàm trên, xoang trán, xoang sàng và xoang bướm Bình thường chúng đều rỗng, thoáng và khô ráo, có nhiệm vụ cộng hưởng âm thanh, làm
ẩm niêm mạc mũi, sưởi ấm không khí và làm nhẹ khối xương đầu mặt
3.1 Xoang hàm trên: là xoang lớn nhất, nằm trong xương hàm trên, hai bên ổ mũi
Đổ vào ổ mũi ở ngách mũi giữa (qua phểu sàng)
3.2 Xoang trán: hai xoang phải và trái cách nhau bởi vách xương trán và thường
không cân xứng nhau, đổ vào ngách mũi giữa qua ống mũi trán
Thành ngoài của mũi
Trang 173.3 Xoang sàng: nằm trong mê đạo sàng Gồm 3 - 18 xoang nhỏ, chia thành 3
nhóm: nhóm trước và nhóm giữa: đổ vào ngách mũi giữa qua phểu sàng; nhóm sau:
đổ vào ngách mũi trên
3.4 Xoang bướm: nằm trong thân xương bướm Đổ vào ngách mũi trên hoặc ngách
mũi trên cùng (nếu có)
- Động mạch sàng trước: là nhánh của động mạch mắt, cấp máu cho vách mũi
- Động mạch môi trên: là nhánh của động mạch mặt, cấp máu cho phần trước vách mũi
Trang 18Hình 7 Hầu
1 Ổ mũi 2 Ổ miệng 3 Thanh quản 4 Tỵ hầu 5 Khẩu hầu
6 Thanh hầu 7 Lỗ mũi sau 8 Lưỡi gà 9 Nắp thanh mon
10 Vách mũi 11 Ngách hình lê 12 Thực quản
2 Hình dạng và kích thước
Hầu có hình phễu, dài 12 – 15 cm, dẹt theo chiều trước - sau, rộng nhất ở phần dưới nền sọ (đường kính ngang khoảng 5 cm) và hẹp nhất ở vị trí nối với thực quản (khoảng 2 cm), đường kính trước sau khoảng 2 cm
3 Hình thể trong
Trang 19Hầu được chia làm 3 phần: hầu mũi, hầu miệng và hầu thanh quản.
Hình 8 Hình thể trong của hầu 3.1 Phần hầu mũi
Còn gọi là tỵ hầu, là phần hầu ở sau ổ mũi, trên khẩu cái mềm
- Phía trước: thông với ổ mũi qua lỗ mũi sau
- Thành sau: hơi lõm, tương ứng với phần nền xương chẩm đến cung trước đốt sống cổ thứ nhất (C1)
- Thành trên: là vòm hầu, nằm dưới thân xương bướm và phần nền xương chẩm
Ở đây có một khối bạch huyết nằm ở niêm mạc, kéo dài đến tận thành sau hầu, gọi
là hạnh nhân hầu Ở trẻ em hạch nhân hầu thường bị viêm và khi viêm gây cho trẻ
Trang 20vòi, do sụn vòi tai lồi ra tạo nên
Hình 9 Vòi tai (vòi Eustach)
Xung quanh lỗ hầu vòi tai có nhiều mô bạch huyết gọi là hạnh nhân vòi, mà khi viêm phì đại có thể làm bít lỗ hầu vòi tai, gây rối loạn thính giác
Hình 10 Tỵ hầu
1 Hạnh nhân hầu 2 Lỗ hầu của vòi tai 3 Gờ cơ nâng 4 Nếp vòi hầu
3.2 Phần hầu miệng hay khẩu hầu
Khẩu hầu nằm sau ổ miệng, đi từ bờ sau khẩu cái mềm đến bờ trên nắp thanh môn
Phía trước: thông với ổ miệng qua eo họng
Thành sau: tương ứng ngang mức cung trước đốt sống cổ thứ nhất (C ) đến bờ
Trang 21dưới đốt sống cổ thứ ba (C3).
Thành bên: mỗi bên có hai nếp niêm mạc từ khẩu cái mềm chạy xuống Nếp trước
là cung khẩu cái lưỡi do cơ cùng tên tạo thành, chạy xuống chỗ nối 2/3 trước và 1/3 sau lưỡi
Hình 11 Khẩu hầu
1 Khẩu cái mềm 2 Cung khẩu cái lưỡi 3 Nếp vòi hầu
4 Hạnh nhân khẩu cái 5 Cung khẩu cái 6 Lỗ tịt
Ở phần khẩu hầu người ta còn mô tả họng Là khoang được giới hạn: phía trên là khẩu cái mềm, hai bên là các cung khẩu cái lưỡi, khẩu cái hầu và hố hạnh nhân cùng hạnh nhân khẩu cái, phía dưới là phần hầu của lưỡi
Vùng tỵ hầu và khẩu hầu hình thành một vòng bạch huyết 6 cạnh: trên là hạnh nhân hầu, dưới là hạnh nhân lưỡi, hai bên là hạnh nhân vòi và hạnh nhân khẩu cái, được xem như các đồn tiền tiêu chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn
Trang 22Hình 12 Các hạnh nhân vùng hầu
3.3 Phần hầu thanh quản hay thanh hầu
Thanh hầu nằm sau thanh quản, từ bờ trên sụn nắp thanh môn đến bờ dưới sụn nhẫn, tương ứng từ đốt sống cổ thứ tư (C4) đến bờ dưới đốt sống cổ thứ sáu (C6) Hơi rộng ở trên (ngang mức xương móng, đường kính ngang khoảng 4cm), hẹp ở chỗ nối với thực quản (đường kính chỉ khoảng 2cm)
4 Cấu tạo của hầu
Hầu có cấu tạo gồm 4 lớp, thứ tự từ trong ra ngoài là: lớp niêm mạc, lớp dưới niêm, lớp cơ và mạc má hầu
Hình 13 Các cơ khít hầu
1 Cơ nhị thân 2 Cơ trâm hầu 3 Cơ khít hầu trên 4 Cơ khít hầu giữa
5 Cơ khít hầu dưới 6 Tuyến giáp 7 Thực quản
4.3.1 Ba cơ khít hầu
Tạo thành lớp cơ vòng bên ngoài Bao gồm: cơ khít hầu trên, cơ khít hầu giữa và
cơ khít hầu dưới
4.4 Mạc má hầu
Mạc má hầu liên tục từ má (bao phủ ngoài cơ mút) đến hầu, bao bọc phía ngoài
Trang 23các cơ khít hầu.
5 Liên quan của hầu
- Phiá sau: hầu liên quan với cột sống, các cơ dài cổ, dài đầu và khoang sau hầu
- Phía bên: liên quan đến khoang bên hầu và mạch máu, thần kinh vùng cổ
- Phía sau bên: liên quan với các thần kinh sọ IX, X, XI và XII, thân giao cảm cổ,
bao cảnh và các động mạch hầu lên, động mạch khẩu cái lên, động mạch mặt, động mạch lưỡi, động mạch giáp trên và nhánh thần kinh thanh quản trên
6 Mạch máu, thần kinh
6.1 Động mạch cấp máu cho hầu
- Động mạch hầu lên và động mạch giáp trên: là nguồn cung cấp chính
- Ngoài ra còn có động mạch khẩu cái lên, là nhánh bên của động mạch mặt và động mạch bướm khẩu cái là nhánh bên của động mạch hàm
từ thân đốt sống cổ C3 đến C6 Hai bên liên quan với các cơ dưới móng, tuyến giáp, bao cảnh và các thành phần của nó
Thanh quản thường di động dễ dàng, lên xuống (khi nuốt, khi ngữa gập cổ), hoặc sang bên
Trang 24Hình 14 Vị trí thanh quản
2 Kích thước
Ở nam giới, thanh quản dài khoảng 5cm, thường lớn hơn so với nữ giới và phát triển mạnh vào tuổi dậy thì Do vậy, đàn ông giọng trầm hơn đàn bà và thường có hiện tượng vỡ tiếng ở tuổi dậy thì
3 Cấu tạo
Thanh quản được cấu tạo bởi các sụn nối với nhau bằng các khớp, các màng, các dây chằng và các cơ Trong đó 2 dây thanh âm sẽ rung chuyển và phát ra âm thanh dưới tác động của luồng không khí đi qua
Bên trong, thanh quản được phủ bởi niêm mạc liên tục với niêm mạc hầu, khí quản và tạo nên các xoang cộng hưởng âm thanh
4 Các sụn thanh quản
Gồm có 3 sụn đơn: sụn giáp, sun nhẫn và sụn nắp thanh môn và 4 sụn đôi là: sụn phễu, sụn sừng, sụn chêm và sụn thóc Trong đó sụn chêm và sụn thóc là những sụn phụ, nhỏ
4.1 Sụn giáp
Lớn nhất trong các sụn thanh quản Sụn giáp như một tấm khiên che phía trước thanh quản, nằm trên sụn nhẫn và dưới xương móng Được tạo nên bởi hai mảnh phải và trái, mỗi mảnh hình tứ giác, dính liền nhau ở đường giữa, tạo nên lồi thanh quản nhìn ra trước và một góc mở ra sau, gọi là góc sụn giáp Góc này ở nữ giới khoảng 1200, còn ở nam giới khoảng 90o, nên lồi thanh quản ở nam giới lớn và nổi
Trang 25rõ hơn ở nữ giới.
Hình 14 Các sụn của thanh quản
1 Xương móng 2 Dây chằng móng nắp 3 Màng giáp móng 4 Sụn nắp thanh
môn
5 Dây chằng giáp móng giữa 6 Sụn giáp 7 Dây chằng tiền đình
8 Dây chằng thanh âm 9 Cung sụn nhẫn 10 Sụn khí quản 11 Sụn thóc
12 Dây chằng giáp - nắp 13 Sụn phễu 14 Mảnh sụn nhẫn 15 Thành màng khí
quản
4.2 Sụn nhẫn
Sụn nhẫn có hình chiếc nhẫn, nằm ở dưới sụn giáp, gồm 2 phần: cung và mảnh sụn
- Cung sụn nhẫn: ở phía trước, sờ được dưới da
- Mảnh sụn nhẫn: rộng, ở phía sau Bờ trên có diện khớp, tiếp khớp với sụn phễu
Bờ dưới sụn nhẫn nằm ngang mức bờ dưới thân đốt sống cổ C6 (tương ứng chỗ nối giữa hầu và thực quản), nối với vòng sụn đầu tiên của khí quản bằng dây chằng nhẫn - khí quản
4.3 Sụn nắp thanh môn
Sụn nắp nằm sau sụn giáp, như cái nắp của thanh quản Có hình chiếc lá, cuống ở
Trang 26trước dưới, gắn vào góc sụn giáp bằng dây chằng giáp nắp Phần lớn được niêm mạc che phủ.
4.4 Sụn phễu
Là sụn đôi, ngồi trên mảnh sụn nhẫn, có hình tháp 3 mặt, một đỉnh và một đáy
- Đỉnh: ở trên nối với đáy sụn sừng
- Đáy: ở dưới, tiếp khớp với sụn nhẫn Đáy có 2 mỏm:
+ Mỏm cơ: là góc ngoài, có nhiều cơ bám
+ Mỏm thanh âm: là góc trước, nơi bám của dây chằng thanh âm
- Mặt trước ngoài: lớn nhất, có cơ thanh âm bám
- Mặt sau: có cơ phễu ngang và cơ phễu chéo bám
- Mặt trong: nhỏ, có niêm mạc thanh quản bao phủ và liên quan với thanh môn
Là sụn đôi, nằm ở bờ sau màng giáp móng
5 Các khớp, các màng và dây chằng của thanh quản
5.1 Các khớp
5.1.1 Khớp động: khớp nhẫn - giáp, khớp nhẫn - phễu
5.1.2 Khớp bất động: khớp phễu - sừng: đáy sụn sừng cố định vào sụn phễu.
5.2 Các màng xơ chun của thanh quản
5.2.1 Màng tứ giác
Màng tứ giác căng từ sụn phễu, sụn sừng đến bờ bên sụn nắp thanh môn Có hình
tứ giác với 4 bờ Màng tứ giác là nắp ngăn giữa tiền đình thanh quản và ngách hình lê
5.2.2 Màng nhẫn thanh âm (nón đàn hồi)
Màng nhẫn thanh âm còn gọi là nón đàn hồi, căng từ bờ trên cung sụn nhẫn đến nếp thanh âm Phần trước của nó dày lên tạo thành dây chằng nhẫn - giáp Bờ tự do
Trang 27phía trên của nón đàn hồi tạo nên dây chằng thanh âm, căng từ góc sụn giáp đến mỏm thanh âm của sụn phễu
Dây chằng thanh âm là bộ phận chính để phát ra âm thanh, nó đội niêm mạc lên tạo thành nếp thanh âm
Hình 16 Các màng và dây chằng của thanh quản
1 Sụn nắp thanh môn 2 Xương móng 3 DC móng-nắp 4 DC giáp-móng giữa5.DC giáp-nắp 6 Màng tứ giác 7 DC tiền đình 8 DC thanh âm 9 Nón đàn hồi
10 DC nhẫn-giáp 11 Sụn nhẫn 12 Sụn khí quản 13 Dây chằng giáp-móng bên
14 Màng giáp móng 15 & 16 Lỗ vào của ĐM thanh quản trên 17 Sụn giáp
18 Sụn sừng 19 Sụn phễu 20 DC nhẫn-phễu sau 21 Mặt khớp giáp
5.3 Các dây chằng
- Dây chằng giáp nắp: gắn cuống sụn nắp thanh môn vào góc sụn giáp
- Dây chằng móng nắp: từ thân xương móng đến trước sụn nắp
- Dây chằng lưỡi nắp: từ phần hầu của lưỡi đến sụn nắp, tạo nên nếp lưỡi nắp giữa
Trang 28- Màng giáp móng: căng từ bờ trên và sừng trên sụn giáp đến sừng lớn và bờ trên thân xương móng Ở giữa, màng dày lên tạo nên dây chằng giáp móng giữa và hai bên là hai dây chằng giáp móng bên có chứa sụn thóc Mạch máu và thần kinh thanh quản trên chọc thủng màng này để vào thanh quản.
- Dây chằng nhẫn - khí quản: từ bờ dưới sụn nhẫn đến bờ trên vòng sụn đầu tiên của khí quản
- Dây chằng nhẫn - phễu sau: nối liền mảnh sụn nhẫn và sụn phễu
- Dây chằng sừng- hầu: nối sụn sừng với hầu
6 Các cơ thanh quản
Có 2 loại: cơ ngoại lai và cơ nội tai
6.1 Cơ ngoại lai
Các cơ từ các phần xung quanh tới thanh quản Gồm hai nhóm:
- Cơ nâng thanh quản: Cơ giáp móng, cơ trâm móng, cơ hàm móng, cơ nhị (hai) thân, cơ trâm hầu và cơ khẩu cái hầu
- Các cơ hạ thanh quản: Cơ vai móng, cơ ức móng và cơ ức giáp
6.2 Cơ nội tại
6.2.1 Phân chia theo nguyên uỷ
- Từ sụn nhẫn: có 3 cơ là cơ nhẫn giáp, cơ nhẫn phễu bên, cơ nhẫn phễu sau.
Hình 17 Các cơ nội tại của thanh quản nhìn bên và nhìn sau
- Từ sụn giáp: có 3 cơ là cơ giáp phễu, cơ thanh âm, cơ giáp nắp
Trang 29- Từ sụn phễu: có 3 cơ là cơ phễu ngang, cơ phễu chéo, cơ phễu nắp.
Hình 18 Các cơ nội tại của thanh quản nhìn bên và nhìn trong
6.2.2 Phân chia theo chức năng
- Các cơ tác động lên dây chằng thanh âm:
+ Căng dây chằng thanh âm: cơ nhẫn giáp, cơ nhẫn phễu sau và cơ thanh âm + Chùng dây chăng thanh âm: cơ giáp phễu
- Mở thanh môn: cơ nhẫn phễu sau
- Khép thanh môn: cơ phễu chéo, phễu ngang, nhẫn phễu bên, giáp phễu và cơ thanh âm
- Làm hẹp tiền đình thanh quản: cơ phễu ngang, giáp phễu, phễu chéo và phễu nắp
7 Hình thể ngoài của thanh quản
Thanh quản có 2 mặt: trước và sau
Trang 30Ổ thanh quản tương đối hẹp và không tương xứng với hình thể ngoài, bị các nếp tiền đình và nếp thanh âm chia ra làm 3 phần: tiền đình thanh quản, thanh thất và ổ dưới thanh môn.
Hình 19 Hình thể trong thanh quản
A Tiền đình thanh quản B Ổ dưới thanh môn
1 Sụn nắp thanh môn 2 Xương móng 3 Cơ giáp móng 4 Cơ phễu nắp 5 Sụn
giáp
6 Cơ thanh âm 7 Cơ khít hầu dưới 8 Cơ nhẫn phễu bên 9 Bó mạch giáp trên
10 Cơ nhẫn giáp 11 Cơ ức giáp 12 Sụn nhẫn 13 Tuyến giáp 14 Màng giáp
móng
15 Màng tứ giác 16 Tiền đình thanh quản 17 DC tiền đình 18 Khe tiền đình
19 Dây chằng thanh âm 20 Khe thanh môn 21 Nón đàn hồi 22 DC vòng
9 Mạch máu và thần kinh
9.1 Mạch máu
Trang 31Thanh quản được nuôi dưỡng bởi các động mạch thanh quản.
- Động mạch thanh quản trên: là nhánh của động mạch giáp trên, chui qua màng giáp móng vào thanh quản
- Động mạch thanh quản dưới: là nhánh của động mạch giáp dưới, chui qua màng nhẫn giáp đến ổ dưới thanh môn
Phần trên nếp thanh âm: do thần kinh thanh quản trên
Phần dưới nếp thanh âm: do thần kinh thanh quản dưới
Thần kinh thanh quản dưới là nhánh tận của thần kinh thanh quản quặt ngược và thần kinh thanh quản trên đều là nhánh của thần kinh lang thang
IV KHÍ QUẢN
1 Vị trí và đường đi
Khí quản là một ống dẫn khí hình lăng trụ, nối tiếp từ dưới thanh quản ngang mức đốt sống cổ 6, đi vào ngực, phân chia thành 2 phế quản chính: phải và trái, ở ngang mức đốt sống ngực 4 hoặc 5
Trang 32Hình 20 Khí quản
A Khí quản nhìn từ trước B Khí quản nhìn từ sau
1 Phế quản thùy trên 2 Khí quản 3 Dây chằng nhẫn giáp 4 Sụn giáp
5 Cựa khí quản 6 Niêm mạc khí quản 7 Thành màng 8 Mảnh sụn nhẫn
2 Cấu tạo
Gồm 16 - 20 vòng sụn hình chữ C, nối với nhau bằng các dây chằng vòng Khoảng hở phía sau các sụn được đóng kín bằng các cơ trơn khí quản, tạo nên thành màng
Mặt trong được lót bởi niêm mạc Niêm mạc ở thành sau của khí quản có các nếp dọc được tạo nên bởi các sợi chun Dưới niêm mạc là tấm dưới niêm mạc, được tạo bởi tổ chức liên kết, bên trong có nhiều sợi chun, tuyến, các mạch máu, bạch mạch và thần kinh
Nhìn vào trong lòng, ở nơi phân đôi của khí quản nổi gờ lên ở giữa, gọi là cựa khí quản Nhìn từ trên xuống, cựa khí quản hơi lệch sang bên trái
Trang 33tuyến ức ở trẻ em Phía sau: là thực quản và thần kinh thanh quản quặt ngược (nằm trong góc giữa khí quản và thực quản) Hai bên là bao cảnh và các thành phần của
nó, thuỳ bên tuyến giáp
Khi có chỉ định, người ta thường mở khí quản bằng cách cắt đứt vài vòng sụn đầu tiên của nó Tuy thế cũng có thể mở khí quản ở các vòng sụn dưới eo tuyến giáp ngay trên hõm ức, hay có thể đơn giản hơn là mở vào dây chằng nhẫn giáp trong những trường hợp không đủ điều kiện
3.2 Phần ngực
Nằm trong trung thất trên, đoạn cuối hơi lệch sang phải vì có cung động mạch chủ tựa vào bên trái Phía sau: thực quản nằm hơi lệch sang trái và đám rối thực quản Phía trước: có cung động mạch chủ, động mạch cảnh chung trái, động mạch thân cánh tay đầu, rồi đến tĩnh mạch cánh tay đầu trái, tuyến ức Bên phải: là thần kinh lang thang, cung tĩnh mạch đơn, tĩnh mạch chủ trên Bên trái: phần trái cung động mạch chủ, động mạch cảnh chung trái và thần kinh quặt ngược thanh quản trái
Dưới chỗ phân chia là nhóm nốt bạch huyết khí - phế quản
Phổi (lungs) là cơ quan chủ yếu của hệ hô hấp, nơi xảy ra quá trình trao đổi
khí giữa cơ thể và môi trường Hai phổi phải và trái nằm trong lồng ngực, cách nhau bởi trung thất
Màu sắc của phổi thay đổi theo tuổi: ở thai nhi màu đỏ nâu, ở trẻ em có màu hồng,
người lớn, người già lại là màu xanh biếc và có nhiều chấm đen do hắc tố đọng lại
Trang 34Tỷ trọng: lúc chưa thở nặng hơn nước, lúc thở rồi nhẹ hơn nước Dung tích trung bình chứa 4,5 - 5 lít khi hít vào gắng sức Phổi phải lớn hơn phổi trái Phổi phải nặng khoảng 700 g phổi trái nặng khoảng 600 g, phổi nam nặng hơn nữ
Phổi có tính chất đàn hồi, xốp, mềm, nên khi cho ra khỏi lồng ngực thì không giữ
được nguyên hình mà xẹp xuống
2 Hình thể ngoài và liên quan
Mỗi phổi coi như nửa hình nón, có 2 mặt, 1 nền ở dưới và 1 đỉnh ở trên
2.1 Mặt ngoài hay mặt sườn (facies costalis)
2.1.1 Đặc điểm chung của hai phổi
Lồi úp vào sát mặt trong lồng ngực, có vết ấn của các xương sườn Ở giữa xương, cơ của lồng ngực và màng phổi có 1 lớp cân mỏng gọi là cân nội ngực
Có khe chếch chạy từ ngang mức gian sườn 3 ở phía sau xuống đáy phổi, chia phổi ra thành các thùy phổi Mặt các thùy phổi áp vào nhau gọi là mặt gian thùy
Trên bề mặt phổi có các diện hình đa giác to, nhỏ khác nhau; đó là đáy của các tiểu thuỳ phổi là đơn vị cơ sở của phổi
2.1.2 Đặc điểm riêng của từng phổi
Phổi phải: có thêm khe ngang, tách từ khe chếch, ngang mức gian sườn 4, nên phổi phải có ba thuỳ: trên, giữa và dưới
Phổi trái: chỉ có khe chếch, nên phổi trái chỉ có hai thuỳ: trên và dưới Ở phía trước dưới thuỳ trên, có một mẫu phổi lồi ra goi là lưỡi của phổi trái, tương ứng với phần thuỳ giữa của phổi phải
Trang 35Hình 21 Mặt sườn của phổi
A Phổi phải B Phổi trái
1 Đỉnh phổi 2 Thùy trên 3 Bờ trước 4 Khe ngang 5 Khuyết tim
6 Thùy giữa 7 Khe chếch 8 Thùy dưới 9 Bờ dưới
2.2 Mặt trong hay mặt trung thất (facies mediastinalis)
Mặt trong hơi lõm, gồm hai phần: trước và sau
2.2.1 Phần sau: liên quan với cột sống, gọi là phần cột sống.
2.2.2 Phần trước: quây lấy các tạng trong trung thất, gọi là phần trung thất
Ở phổi phải, có một chỗ lõm gọi là ấn tim; còn phổi trái, có một hố sâu gọi là
hố tim
Giữa mặt trong của hai phổi, có rốn phổi hình vợt, cán vợt quay xuống dưới Trong rốn phổi có các thành phần của cuống phổi đi qua như: phế quản chính, động mạch phổi, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các dây thần kinh và hạch bạch huyết
Ở rốn phổi phải, động mạch phổi nằm trước phế quản chính; còn ở phổi trái động mạch nằm trên phế quản chính Hai tĩnh mạch phổi nằm trước và dưới phế quản chính
Phía sau rốn phổi: có rãnh tĩnh mạch đơn và ấn thực quản ở phổi phải hay rãnh động mạch chủ ở phổi trái
Phía trên rốn phổi: có rãnh động mạch dưới đòn và rãnh thân tĩnh mạch cánh
Trang 36tay đầu.
Hình 22 Mặt trong của phổi
A Phổi phải B Phổi trái
1 Rãnh ĐM dưới đòn 2 Rãnh TM cánh tay đầu 3 ĐM phổi 4 Bờ trước
5 Khe ngang 6 Khe chếch 7 Rãnh TM đơn 8 Phế quản chính 9 Các TM phổi 10 Rãnh thực quản 11 Dây chằng phổi 12 Bờ dưới 13 Rãnh ĐM chủ
2.3 Mặt dưới hay mặt hoành (facies diaphragmatica)
Lõm, nằm úp lên 2 vòm hoành và qua cơ hoành, đáy phổi phải liên quan với mặt trên của gan, bên trái liên quan với phình vị lớn dạ dày
2.4 Đỉnh phổi (apex pulmonis)
Là phần cao nhất của phổi, nhô lên khỏi lỗ trên lồng ngực Phía sau, đỉnh phổi ngang mức đầu sau xương sườn I Phía trước, đỉnh phổi cao hơn phần trong xương đòn khoảng 3cm Động mạch dưới đòn đi sát mặt trước ngoài đỉnh phổi, có hạch sao ở sát phía sau đỉnh phổi
2.5 Các bờ: có 3 bờ
2.5.1 Bờ trước (margo antenor): là gianh giới giữa mặt ngoài (mặt sườn) và mặt
trung thất phía trước Bờ trước nằm gần đường giữa, kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn VI ở phổi phải, ở phổi trái có khuyết tim nên bờ trước kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn số IV thì vòng ra ngoài đến sụn sườn VI
2.5.2 Bờ sau (margo posterior): là gianh giới giữa mặt ngoài và mặt trung thất phía
Trang 37sau
2.5.3 Bờ dưới (margo inferior): có 2 đoạn, đoạn thẳng là gianh giới giữa mặt trung
thất và mặt đáy Đoạn cong là gianh giới giữa mặt ngoài (mặt sườn) và mặt đáy (mặt hoành)
2.6 Các khe trên thùy phổi
Phổi phải được chia làm ba thùy: thùy trên, thùy giữa và thùy dưới bởi hai khe
là khe chếch và khe ngang Các khe từ bề mặt của phổi ăn sâu vào đến tận rốn phổi Khe chếch đi qua cả ba mặt của phổi; nó ngăn cách thùy dưới với thùy giữa và trên Khe ngang ngắn hơn, chỉ thấy ở mặt sườn và mặt trung thất, ngăn cách thùy trên với thùy giữa
Phổi trái được chia làm hai thùy: thùy trên và thùy dưới bởi khe chếch Thùy trên phổi có hai vùng là vùng đỉnh và vùng lưỡi
3 Cấu tạo hay hình thể trong của phổi
Phổi được cấu tạo bởi các thành phần đi qua rốn phổi phân chia nhỏ dần trong phổi Đó là cây phế quản, động mạch và tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch mạch phế quản, bạch mạch, các sợi thần kinh và các mô liên kết
3.1 Sự phân chia của cây phế quản
Hai phế quản chính phải và trái (bronchi principales dexter et sinister) tách ra
từ khí quản ở ngang mức đốt sống ngực IV tạo thành với nhau một góc khoảng 700
So với phế quản chính trái thì phế quản chính phải ngắn hơn, to hơn và chếch hơn, vì vậy dị vật rơi vào đường thở thường vào bên phế quản chính phải
Mỗi phế quản chính khi vào phổi sẽ phân chia nhỏ dần tới các phế nang Toàn
bộ các nhánh phân chia của phế quản gọi là cây phế quản (arbor bronchialis) Sau khi qua rốn phổi, mỗi phế quản chính đi trong phổi theo hướng một trục gọi là thân chính, từ thân chính tách ra các phế quản thùy Mỗi phế quản thùy dẫn khí cho một thuỳ phổi và lại chia thành các phế quản phân thuỳ, dẫn khí cho một phân thuỳ phổi Sự phân chia này khác nhau giữa hai phế quản chính
Tiếp đó, các phế quản phân thùy lại phân chia thành các nhánh hạ phân thuỳ, rồi các nhánh này lại phân chia nhiều lần thành các phế quản nhỏ dần, các sụn cũng
Trang 38thưa dần rồi đến khi không còn và trở thành các phế quản tiểu thuỳ, dẫn khí cho một tiểu thuỳ phổi.
Tiểu thùy phổi là đơn vị cơ sở của phổi, có đáy là hình đa giác hiện lên bề mặt phổi Vào trong tiểu thùy, các tiểu phế quản tận sẽ chia thành các tiểu phế quản hô hấp (bronchioli respiratorii) rồi đến các ống phế nang (ductuli alveolares)
và sau đó là các túi phế nang (sacculi alveolares), cuối cùng là các phế nang (alveoli pulmonis) Bao quanh các phế nang là mạng lưới mao mạch Các khí trong máu và phế nang có thể khuếch tán qua thành các mao mạch và phế nang
Hình 23 Sự phân chia của cây phế quản.
A Cây phế quản nhìn từ trước B Cây phế quản nhìn từ sau
1 Sụn giáp 2 Sụn nhẫn 3 Vòng sụn khí quản 4 Phế quản chính trái
5 Phế quản chính phải 6 Cựa khí quản 7 Thành màng
Sự phân chia của phế quản chính (gốc) phải:
B1 PQ phân thùy đỉnh B2 PQ phân thùy sau B3 PQ phân thùy trước
B4 PQ phân thùy bên B5 PQ phân thùy giữa B6 PQ phân thùy đỉnh (thùy dưới) B7 PQ phân thùy đáy giữa B8 PQ phân thùy đáy trước B9 PQ phân
thùy đáy bên B10 PQ phân thùy đáy sau
Sự phân chia của phế quản chính (gốc) trái:
B’1-2 PQ phân thùy đỉnh sau B’3 PQ phân thùy trướcB’4 PQ phân thùy lưỡi trên B’5 PQ phân thùy lưỡi dưới
B’6 PQ phân thùy đỉnh (thùy dưới) B’7 PQ phân thùy đáy giữa
Trang 39B’8 PQ phân thùy đáy trước B’9 PQ phân thùy đáy bên B’10 PQ phân thùy đáy
sau
3.1.1 Phế quản chính phải: dài khoảng 4 cm, chia làm ba phế quản thùy
a Phế quản thùy trên phải: dài khoảng 1 cm, tách vuông góc với thân chính và
chia làm 3 phế quản phân thùy: phế quản phân thùy đỉnh [PQ1] (bronchus segmentalis apicalis) [B1], phế quản phân thùy sau [PQ2] (bronchus segmentalis posterior) [B2] và phế quản phân thùy trước [PQ3] (bronchus segmentalis anterior) [B3]
b Phế quản phân thùy giữa phải: tách từ thân chính, dưới phế quản thùy trên
3.1.2 Phế quản chính trái: dài khoảng 5 cm, chia làm hai phế quản thùy
a Phế quản thùy trên trái: dài khoảng 1,5 - 2 cm, tách ra từ mặt trước phế quản
chính trái, tạo thành một góc nhọn với thân chính và chia thành hai phế quản:
- Phế quản đi vào đỉnh phổi trái và tách thành phế quản phân thùy đỉnh sau
[PQ l+2] và phế quản phân thùy trước [PQ3]
- Phế quản đi vào lưỡi phổi trái (lingula pulmoms sinistri) tách thành hai phế
quản: phế quản lưỡi trên [PQ4] (bronchus lingularis superior) [B4] và phế quản lưỡi dưới [PQ5] (bronchus lingularis superior) [B5]
b Phế quản thùy dưới trái: Ngay dưới chỗ tách ra phế quản thùy trên, phế quản
chính trái trở thành phế quản thùy dưới trái Phế quản thùy dưới trái tách ra làm 5 phế quản phân thùy và cũng mang tên như 5 phế quản phân thùy của phế quản thùy dưới phải
Trang 403.1.3 Cấu tạo phế quản
Phế quản được cấu tạo bởi 4 lớp: lớp sụn sợi (không có ở các tiểu phế quản hô hấp); lớp cơ trơn xếp thành thớ ngang, khi co thắt đột ngột gây khó thở; lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc có các tuyến phế quản
3.2 Sự phân chia của động mạch phổi
3.2.1 Thân động mạch phổi
Thân động mạch phổi bắt đầu đi từ lỗ động mạch phổi của tâm thất phải lên trên, sang trái và ra sau Khi tới bờ sau quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi phải và động mạch phổi trái
Vào trong phổi, hai động mạch chạy xoắn quanh thân phế quản chính và cũng phân chia thành các nhánh thùy, các nhánh cho phân thùy rồi lại tiếp tục phân chia nhỏ dần cho tới mạng mao mạch quanh phế nang
Hình 24 Liên quan của ĐM phổi và cây phế quản (nhìn trước)
1 Khí quản 2 Phế quản chính phải 3, 4, 5 Phế quản thùy trên, giữa và dưới
phổi phải
6 ĐM phổi phải 7 Thân ĐM phổi 8 ĐM phổi trái
9, 10 Phế quản thùy dưới, trên phổi trái 11 Phế quản chính trái