1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tìm hiểu và nghiên cứu về trợ cấp tuổi già

46 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

-o0o -

BÀI TẬP NHÓM MÔN: AN SINH XÃ HỘI

Đề tài:

Tìm hiểu và nghiên cứu về trợ cấp tuổi già

Danh sách nhóm: Nguyễn Thị Phương _ 11142325_Nhóm trưởng

Cao Thị Hường _ 11141955

Hà Thị Thanh _ 11153956 Nguyễn Thị Ngọc Trang _ 11141320

Vũ Thị Ánh Tuyết _ 11150800

Lớp tín chỉ: An sinh xã hội_8

Hà Nội, tháng 10/2016

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU:

ừ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người

đã tự khắc phục, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến

ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau

Trong quá trình phát triển xã hội, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành, phát triển Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập làm thuê đem lại Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ

Kinh tế thị trường đang trong quá trình hình thành ở Việt Nam, nhưng những nội dung của ASXH thì đã được thực hiện khá lâu Những câu thành ngữ

“áo lành đùm áo rách”, “thương người như thể thương thân”, “bầu ơi thương lấy

bí cùng”…, đã thể hiện tính cộng đồng ở nước ta và nó đã góp phần điều chỉnh các hành vi trong xã hội về các hoạt động mang nội dung ASXH và dần được Nhà nước xây dựng thành các chính sách về ASXH An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước Để chính sách này đảm bảo tốt hơn đời sống cho người dân, góp phần tích cực vào việc ổn định, an toàn xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam là hết sức cần thiết

Vì những nguyên do đó mà An sinh xã hội, đặc biệt là trợ cấp tuổi già, là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của các quốc gia Và để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm em đã nghiên cứu về an sinh xã hội-trợ cấp tuổi già với những vai trò của nó tới mọi mặt đời sống cũng như liên hệ thực tiễn về

T

Trang 3

Bài tiểu luận của chúng em bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

I, Phân tích tổng quan về An sinh xã hội 4

II, Khái quát về tổ chức Lao động quốc tế (ILO 11

1, Nguồn gốc 11

2, Thành viên của ILO 12

3, Mục tiêu và hoạt động 12

4, Hình thức hỗ trợ của ILO 12

III, Nội dung các chính sách, chương trình trong hệ thống ASXH 14

1, Bảo hiểm xã hội (BHXH) 14

2, Cứu trợ xã hội (CTXH) 17

3, Ưu đãi xã hội (ƯDXH) 20

4, Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) 21

IV, Vấn đề tài chính trong ASXH, cơ chế đóng góp, phương thức phân phối tài chính và các đối tượng trong diện bảo vệ của an sinh 24

V, Giới thiệu về già hóa dân số Chế độ trợ cấp tuổi già 24

1, Tại sao cần có trợ cấp tuổi già trên Thế giới 27

2, Sự cần thiết của chế độ hưu trí tại Việt Nam 28

3, Thực trạng về thu nhập và chế độ y tế dành cho người già trên Thế giới 31

4, Mười hoạt động ưu tiên nhằm tận dụng tối đa cơ hội của dân số già hóa 33

5, Đối tượng được hưởng trợ cấp tuổi già 34

6, Điều kiện được hưởng trợ cấp tuổi già, mức trợ cấp và thời gian trợ cấp 37

VI, Nhận thức về ASXH của mọi người hiện nay 41

1, Nhận thức của Đảng và nhà nước 41

2, Nhận thức của người dân 43

3, Trách nhiệm, cơ chế giám sát và sự quản lí của nhà nước, chính quyền 44

Trang 4

I Phân tích tổng quan về An sinh xã hội:

1 Quan niệm An sinh xã hội:

a Quan niệm về An sinh xã hội trên thế giới:

Trong thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về ASXH

Theo Ngân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng

nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập

Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là hình

thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y

tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em

Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống

chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội

Trang 5

b Quan niệm về An sinh xã hội ở Việt Nam:

Ở Việt Nam, mặc dù ASXH là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu

- Theo PGS.TS Nguyễn Hải Hữu thì "ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong

xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già

cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khác quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội

- GS.TS Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất, chúng ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này

+ Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội

+ Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do

họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ

- "Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 – 2020”ghi nhận: “An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro

có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”

Trong bài "Đảm bảo ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020” Thủ

Trang 6

tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng "ASXH và PLXH là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân"

Trên cơ sở phân tích các quan điểm về ASXH trên, chúng ta có thể khái

quát rằng: An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các

biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con

Bản chất của ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã hội khác Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm

an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó nó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc

Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã

tự khắc phục, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những

cơ sở để hình thành và phát triển Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối

đe doạ đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho

Trang 7

Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều Bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật

Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này là BHXH)

đã mở ra hướng mới Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên) Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già – trẻ, nam – nữ, người khoẻ – người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp

Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu á, châu Phi và vùng Caribê Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người goá bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn… Các dịch

vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế – xã hội, tài chính và quản lý khác nhau Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ

Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng Đến

Trang 8

năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc

tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH Quyền đó đặt

cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách

và sự tự do phát triển con người…” Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO

đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 9 bộ phận

c Bản chất của An sinh xã hội:

ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái của cộng đồng Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh

Là 1 cơ chế - công cụ phân phối lại thu nhập cá nhân trong xã hội theo chiều ngang (nam, nữ, già ,trẻ…) và chiều dọc (giàu – nghèo)

Là sự che chắn, bảo vệ thành viên trong xã hội trước rủi ro, biến cố bất lợi tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh mỗi quốc gia Thể hiện rõ ràng nhất quyền của con người được LHQ công nhận- Chủ nghĩa nhân văn – nhân đạo: nhà nước và

xã hội cùng giúp đỡ những người gặp rủi ro

=> Tạo động lực cho họ và sự đoàn kết cộng đồng - ASXH gồm những chính sách: BHXH, CTXH, UĐXH, XĐ-GN, QDP

2 Vai trò, ý nghĩa của An sinh xã hội:

a Vai trò của An sinh xã hội:

Vai trò, ý nghĩa của an sinh xã hội Vai trò của an sinh xã hội Khi đánh giá về vai trò của ASXH, Ngân hàng Thế giới cho rằng, một hệ thống ASXH được

Trang 9

hệ thống ASXH, Nhà nước tiến hành phân phối lại thu nhập cho người nghèo và những người dễ bị tổn thương, nhanh chóng tác động lên nghèo đói và bất bình đẳng xã hội Trên cơ sở phân tích vị trí của ASXH trong hệ thống chính sách kinh

tế - xã hội, ASXH có những vai trò cơ bản sau:

 Đối với xã hội:

+ Hệ thống ASXH là một trong những cấu phần quan trọng trong các chương trình xã hội của một quốc gia và là công cụ quản lý của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, chính sách và các chương trình ASXH Mục đích của nó là giữ gìn sự ổn định về xã hội - kinh tế - chính trị của đất nước, đặc biệt là ổn định

xã hội, giảm bất bình đẳng, phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội; tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển

ASXH còn là một trong những trụ cột cơ bản trong hệ thống chính sách

xã hội Nó hướng đến bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân, bảo vệ giá trị cơ bản và là thước đo trình độ phát triển của một nước trong quá trình phát triển và hội nhập

+ Bảo đảm ASXH là nền tảng của phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Thông qua việc áp dụng các cơ chế điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế và các nhóm dân cư, ASXH có thể được coi như là một giá đỡ đảm bảo thu nhập cho người dân

Hệ thống chính sách ASXH được thiết kế trên cơ sở các nguyên tắc công bằng, đoàn kết ở các mức độ khác nhau còn thể hiện giá trị và định hướng phát triển của một quốc gia Cách thức thiết kế hệ thống ASXH chính là sự thể hiện mô hình phát triển xã hội, quan điểm lựa chọn đầu tư cho con người

+ Hệ thống ASXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững thông qua việc "điều hoà”các "mâu thuẫn xã hội", đảm bảo xã hội không có

sự loại trừ, điều tiết tốt hơn và hạn chế các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và bất

Trang 10

Thông qua việc hoạch định và thực hiện chính sách ASXH, cho phép các Chính phủ tiến hành lựa chọn mục tiêu tăng trưởng hiệu quả và bền vững Một hệ thống ASXH lâu dài, đầy đủ có thể thực hiện mọi mục tiêu tái phân phối của xã hội, giải phóng các nguồn lực trong dân cư

 Đối với các gia đình:

Nếu một hệ thống ASXH được thiết kế hiệu quả có thể tạo điều kiện cho các gia đình đầu tư tốt hơn cho tương lai Trong vai trò này, hệ thống ASXH cơ bản là khắc phục các rủi ro trong tương lai, cho phép các gia đình tiếp cận đến được các cơ hội để phát triển

Hệ thống ASXH còn góp phần hỗ trợ cho các gia đình quản lý được rủi

ro Thông qua các chương trình ASXH, ít nhất nó cũng giúp cho các gia đình đương đầu được với những giai đoạn khó khăn trong cuộc sống

ASXH còn là một yếu tố bảo hiểm, cho phép các gia đình được lựa chọn sinh kế để phát triển Như vậy, hệ thống ASXH vừa bảo vệ cho các thành viên trong xã hội vừa nâng cao khả năng tồn tại độc lập của họ trong cuộc sống Ý nghĩa của an sinh xã hội An sinh xã hội là một biện pháp của chính sách xã hội và

là một trong những chỉ báo quan trọng về định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường mà đối tượng của nó là những người gặp rủi ro, bất trắc trong cuộc sống

b Ý nghĩa của an sinh xã hội

An sinh xã hội là một biện pháp của chính sách xã hội và là một trong những chỉ báo quan trọng về định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường mà đối tượng của nó là những người gặp rủi

ro, bất trắc trong cuộc sống

An sinh xã hội vừa mang ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có giá trị về mặt xã hội, đặc biệt nó thể hiện giá trị đạo đức cao đẹp và tinh thần nhân đạo sâu sắc An sinh xã hội có các ý nghĩa cụ thể sau:

Thứ nhất, an sinh xã hội lấy con người làm trung tâm, coi quyền con

người, bảo vệ con người trước các biến cố rủi ro xảy ra Con người vừa là động lực

Trang 11

ngôn về nhân quyền do Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua ngày 10.12.1948 đã

khẳng định: “Tất cả mội người, với tư cách là thành viên xã hội xó quyền hưởng

đảm bảo xã hội Quyền đó đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế, xã hội

và văn hóa cần cho sự tự do phát triển con người”

Thứ hai, an sinh xã hội vừa tạo điều kiện cơ bản và thuận lợi giúp các đối

tượng đặc biệt có cơ hội để phát huy hết thế mạnh của cá nhân đồng thời thể hiện thái độ, trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo cơ hội giúp họ hòa nhập vào cộng đồng

Thứ ba, an sinh xã hội góp phần ổn định phát triển và tiến bộ xã hội Mục

tiêu cơ bản của an sinh xã hội là tạo môi trường công bằng cho các tầng lớp dân

cư, cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro tham gia An sinh xã hội phỉa thực sự là công cụ phát triển tiến bộ xã hội Ngoài việc giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, an sinh xã hội còn phải đa dạng hóa các hình thức hoạt động khác nhau đối với các đối tượng khác nhau để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Thứ tư, an sinh xã hội thể hiện truyền thống tương thân, tương ái, đoàn

kết giúp đỡ nhau của cộng đồng Trên cơ sở sự liên kết, hợp tác của cộng đồng những rủi ro hoạn nạn được chia sẻ, đây là yếu tố phát huy sức mạnh của cộng đồng, phát huy giá trị truyền thống của dân tộc ta

Thứ năm, an sinh xã hội góp phần phân phối lại thu nhập giữa xác tầng

lớp dân cư, giữa những người lao động làm công ăn lương, giữa những người có công với nước, giữa những người gặp khó khăn, biến cố rủi ro, giữa những người nghèo, người già cô đơn không nơi nương tựa

II Khái quát về tổ chức Lao động quốc tế (ILO):

1 Nguồn gốc:

Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) được thành lập năm 1919, vào thời điểm Chiến tranh Thế giới Thứ nhất kết thúc Khởi xướng việc thành lập ILO là ông Robert Owen - nhà công nghiệp xứ Wales (1771-1853), và ông Daniel Legrand-nhà công nghiệp người Pháp (1783-1859) Lúc mới thành lập, ILO là tổ chức độc lập liên kết với Hội Quốc Liên Đến năm 1946, ILO ký Hiệp định quy định các

Trang 12

mối quan hệ với Liên hợp quốc (LHQ) và trở thành tổ chức chuyên môn đầu tiên của LHQ Từ năm 1920, ILO đóng Trụ sở tại Giơ-ne-vơ, Thuỵ Sỹ

2 Thành viên của ILO:

Khi thành lập năm 1919, ILO chỉ có 45 nước tham gia Đến nay, ILO đã

có 180 quốc gia thành viên trong đó Brunây là thành viên trẻ nhất - vừa gia nhập ILO đầu năm 2007 Nguồn kinh phí cho các hoạt động của ILO bao gồm: nguồn ngân sách thường xuyên do các nước thành viên ILO đóng góp niên liễm theo tỷ lệ của Liên hợp quốc, và các nguồn tài chính do các nhà tài trợ song phương và đa phương hỗ trợ

3 Mục tiêu và hoạt động:

ILO được thành lập trên cơ sở ba mục tiêu cơ bản là mục tiêu nhân đạo (cải thiện điều kiện làm việc của người lao động); mục tiêu chính trị (đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ các quyền lao động và quyền con người sẽ tạo bình ổn xã hội); và mục tiêu kinh tế Để thực hiện các mục tiêu trên, ILO xây dựng các tiêu chuẩn lao động quốc tế thông qua hình thức các Công ước (CW) và Nghị quyết trong đó qui định các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền của người lao động (ví dụ quyền tự do thương hội, quyền được tổ chức và đàm phán tập thể, quyền xoá bỏ lao động cưỡng bức, không bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc và trong việc làm vv…) Đến nay (2/2007), ILO đã thông qua tổng cộng 187 Công ước và 197 Khuyến nghị Trong số 187 CW trên, có 8 CW được coi là các Công ước cơ bản tập trung vào 4 lĩnh vực: Tự do lập hội và tổ chức; Chống lao động cưỡng bức; Xóa bỏ lao động trẻ em; Chống phân biệt đối xử Các Công ước và Khuyến nghị của ILO được coi là cơ sở của Bộ luật lao động quốc tế

4 Hình thức hỗ trợ của ILO:

Trang 13

Các quốc gia thành viên được ILO hỗ trợ dưới hình thức các chương trình, dự án do ILO điều hành Các hoạt động trợ giúp khác là: tư vấn; nghiên cứu

kỹ thuật; tăng cường năng lực, thể chế; đào tạo, thăm quan khảo sát, hội nghị/hội thảo về các chuyên đề liên quan đến chiến lược và chính sách lao động, việc làm Mọi hoạt động trợ giúp của ILO đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong Điều Lệ ILO, đó là tôn trọng quyền cơ bản tại nơi làm việc; tạo thêm nhiều cơ hội cho phụ nữ cũng như nam giới có được việc làm đàng hoàng với thu nhập phù hợp

và được bảo vệ về nhân phẩm

Trên cơ sở chính sách chung qui định trong Điều lệ ILO và 6 nội dung cơ bản nêu trong Chương trình Nghị sự về Việc làm Bền vững, ILO hỗ trợ các quốc gia thành viên thông qua các chương trình, dự án liên quan đến quan đến hỗ trợ hoạch định chiến lược, xây dựng chính sách lao động và việc làm đảm bảo phù hợp với ưu tiên của cả ILO và của quốc gia thành viên Trên cơ sở các nguyên tắc trên, các lĩnh vực cụ thể được ILO ưu tiên trợ giúp là:

(1) hỗ trợ đào tạo và tái đào tạo nghề (2) xây dựng các chính sách việc làm (3) quản lý lao động

(4) xây dựng luật lao động và quan hệ lao động (5) cải thiện điều kiện làm việc

(6) phát triển quản lý (7) xây dựng hôi, nghiệp đoàn (8) bảo đảm an sinh xã hội (9) tập hợp tư liệu về lao động, an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp

Nhìn chung, định hướng chiến lược các hoạt động của ILO thể hiện trong Chương trình Nghị sự về Việc làm Bền vững của Tổng Giám đốc ILO được các nước thành viên tích cực hưởng ứng Hội đồng kinh tế xã hội của LHQ họp tháng 7/2006 đã dành thời gian Phiên Thảo luận Cấp cao để thảo luận và ủng hộ Chương trình này Cho tới nay, các hoạt động hỗ trợ của ILO được đánh giá là hiệu quả, kịp

Trang 14

thời và góp phần hỗ trợ tích cực các quốc gia trong lĩnh vực xây dưng chính sách lao động, cải thiện quan hệ lao động và điều kiện làm việc cho người lao động

III Nội dung các chính sách, chương trình trong hệ thống ASXH:

1 Bảo hiểm xã hội (BHXH):

a Khái niệm BHXH:

- BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội

b Bản chất của BHXH:

BHXH ra đời, tồn tại và phát triển là một tất yếu khác quan cùng với sự phát triển của xã hội loài người, bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung sau:

- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nhất định Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện

- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH

- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản… Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động

- Phần thu nhập của người lao động sẽ bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước

- Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục tiêu này đã được ILO cụ thể hóa như sau:

Trang 15

+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ

Người lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tượng tham gia, vừa là đối tượng được bảo hiểm và họ cũng là đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH (chiếm phần lớn trong các trường hợp phát sinh trách nhiệm BHXH)

Đối tượng tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà còn có người

sử dụng lao động và Nhà nước Sở dĩ người sử dụng lao động tham gia vào BHXH

là vì phần họ thấy được lợi ích thiết thực khi tham gia BHXH, một phần là do sự

ép buộc của Nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Đối với Nhà nước thì khác, họ tham gia BHXH với tư cách là: chủ sở hữu lao động đối với tất

cả công nhân viên chức và những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước là người bảo hộ cho quỹ BHXH mà cụ thể là bảo hộ giá trị của quỹ BHXH, bảo hộ cho sự tăng trưởng của quỹ nhằm tạo sự ổn định cho quỹ và sự phát triển xã hội

Đối tượng được bảo hiểm xã hội trong quan hệ BHXH ngoài người lao động còn có người sử dụng lao động Bởi vì, khi người lao động gặp rủi ro thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ Điều này có nghĩa là họ phải

bỏ ra một khoản chi phí cho ngưòi lao động, nhưng thực tế chi phí này nhanh chóng được cơ quan bảo hiểm hoàn trả lại

Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là ngưòi lao động trong trường hợp họ gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí Nhưng trong trường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối tượng hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội lại là thân nhân của người lao động như: bố, mẹ, con, vợ (chồng)

d Phạm vi của BHXH:

Theo công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ của tổ chức lao động quốc tế ILO phạm vi của BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:

Trang 16

Ở nước ta theo điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất

e Chính sách và chế độ BHXH:

Chính sách BHXH là những quy định chung, có nội dung khái quát về đối tượng, phạm vi, các mối quan hệ…nhằm đạt mục tiêu chung của BHXH Việc ban hành chính sách BHXH dựa trên cơ sở các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Chính sách BHXH được cụ thể hóa qua các chế độ BHXH

Chế độ BHXH là cụ thể hóa chính sách BHXH, quy định cụ thể và chi tiết việc thực hiện BHXH Thực chất đây là một hệ thống các quy định được luật hóa về đối tượng BHXH và quyền lợi cũng như nghĩa vụ của nó

Nội dung của Công ước số 102 về BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế

Trang 17

5 Chế độ trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp

Công ước số 157 được thông qua ngày 21-06-1982, gọi là Công ước về duy trì các quyền về an toàn xã hội, tiếp tục khẳng định 9 nhánh an toàn xã hội như trên Đó là các chế độ: Chăm sóc y tế; Trợ cấp ốm đau; Trợ cấp thai sản; Trợ cấp tàn tật; Trợ cấp tuổi già; Trợ cấp tiền tuất; Trợ cấp TNLĐ & BNN; Trợ cấp thất nghiệp và Trợ cấp gia đình Tiếp theo vẫn còn một số các Công ước và Khuyến nghị liên quan đến các chế độ BHXH nhưng nội dung chủ yếu vẫn theo tinh thần của Công ước số 102

Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu:

-Các chế độ BHXH được xây dựng theo luật pháp của mỗi quốc gia và có tính ổn định tương đối

-Hệ thống các chế độ BHXH mang tính chất chia sẻ rủi ro

-Việc chi trả chế độ BHXH chủ yếu căn cứ vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH

-Chi trả các chế độ BHXH chủ yếu được thực hiện định kỳ

2 Cứu trợ xã hội (CTXH):

a Khái niệm:

Trang 18

CTXH là sự giúp đỡ của xã hội bằng nguồn tài chính của Nhà nước và cộng đồng đối với các thành viên gặp khó khăn, bất hạnh và rủi ro trong cuộc sống như thiên tai, hỏa hoạn, bị tàn tật, già yếu…dẫn đến mức sống quá thấp, lâm vào cảnh neo đơn túng quẫn nhằm giúp họ đảm bảo được điều kiện sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo khốn và vươn lên trong cuộc sống bình thường

b Đặc trƣng của CTXH:

- Đối tượng được cứu trợ có phạm vi rộng, toàn dân

- Người được nhận trợ cấp không phải đóng góp vào quỹ tài chính Nguồn quỹ dùng để trợ cấp được lấy từ thuế hoặc từ đóng góp của cộng đồng

- Mức trợ cấp không đồng đều mà tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể và được xác định dựa vào việc thẩm tra đánh giá thu nhập, vốn và tài sản của người được xét hưởng trợ cấp

- Trợ cấp có thể bằng tiền hoặc hiện vật Khác với bảo hiểm xã hội là hầu như chỉ bằng tiền

c Vai trò:

Vai trò của CTXH tùy thuộc vào tình hình kinh tế xã hội của mỗi quốc gia cũng như nguyên nhân cụ thể gây tổn thương cho người dân nước đó Nhìn chung, CTXH bao gồm những vai trò cơ bản sau:

- Đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của những cá nhân và nhóm dân cư yếu thế, dễ bị tổn thương trong cộng đồng, từ đó giúp họ đối phó với những khủng hoảng bất ngờ, vượt qua được những khó khăn để tồn tại

- Góp phần phòng ngừa và giảm thiểu các khả năng dễ bị tổn thương của những cá nhân và nhóm dân cư yếu thế

- Góp phần làm cho sự bảo vệ của hệ thống ASXH toàn diện hơn CTXH

đã khắc phục được hạn chế của BHXH (chưa có tính phổ cập, không thể bao trùm hết các bộ phận dân cư cũng như chỉ mới đưa ra mức hỗ trợ hạn chế), nó cung cấp bảo vệ bổ sung, đảm bảo tất cả mọi người trong xã hội đều được giúp đỡ khi gặp rủi ro

Trang 19

- Góp phần phát triển một xã hội hài hòa và bền vững, đưa những người được cứu trợ ra khỏi hoàn cảnh khó khăn, thoát khỏi tâm lý mặc cảm, vươn lên hòa nhập vào cộng đồng Từ đó giúp thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế

d Mục tiêu:

- Chuyển nhượng các nguồn lực cho cá nhân, các hộ gia đình và các bộ phận dân cư rơi vào tình trạng túng quẫn và dễ bị tổn thương nhất, từ đó giúp họ đảm bảo mức sống tối thiểu và cả thiện điều kiện sống

- Mục tiêu sâu xa: giảm nghèo và tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận cho những người hoặc những nhóm dân cư dễ bị tổn thương (giảm chênh lệch mức sống, xây dựng nếp sống tốt đẹp giữa người với người, xây dựng một xã hội tốt đẹp, nhân đạo và văn minh)

e Những quan điểm cơ bản về CTXH:

- Mọi thành viên trong xã hội đều có quyền được CTXH khi cần thiết

- Nhà nước là chủ thể chính thực hiện CTXH

- Xã hội hóa hoạt động CTXH là xu hướng tất yếu hiện nay

- Các đối tượng được CTXH phải có trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng

- CTXH là cơ sở để phát triển xã hội bền vững

f Đối tƣợng của CTXH:

Đối tượng của CTXH rất đã dạng, bao gồm:

- Những người tàn tật trong cộng đồng, là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận hoặc chức năng biểu hiện dưới các dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng lao động

- Những người già yếu từ cộng đồng, chủ yếu là những người già cô đơn không nơi nương tựa, thiếu thốn về thu nhập và sinh hoạt

- Đối tượng tiếp theo là trẻ em, trẻ em là mầm non của đất nước, luôn được toàn xã hội quan tâm, tuy nhiên vẫn còn một số bộ phận trẻ em rơi vào tình

Trang 20

cảnh bất hạnh và dễ tổn thương

- Ngoài các nhóm đối tượng nên trên, còn có các đối tượng khác như người bị nhiếm HIV/AIDS, người lang thang xin ăn, những người nghiện hút ma túy, những người hoạt động mại dâm nhất là trong thời kỉ kinh tế thị trường hiện nay, các tệ nạn xã hội đang có điều kiện thuận lợi để phát triển

- Ngoài các cá nhân yếu thế, dễ bị tổn thương trong cộng đồng thì đối tượng được hưởng cứu trợ xã hội còn được xác định theo đơn vị hộ gia đình, chẳng hạn như hộ gia đình rất nghèo, các hộ gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn

g Các hình thức của cứu trợ xã hội:

- Cứu trợ xã hội thường xuyên

- Cứu trợ xã hội đột xuất

- Cứu trợ xã hội bằng tiền

- Cứu trợ xã hội bằng hiện vật

3 Ƣu đãi xã hội (ƢĐXH):

a Khái niệm:

- ƯĐXH là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất lẫn tinh thần của Nhà nước

và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với những cá nhân hay tập thể có cống hiến đặc biệt cho cộng đồng

Trang 21

- ƯĐXH nhằm ghi nhận và tri ân những cá nhân hay tập thể đã có những cống hiến đặc biệt cho cộng đồng và đất nước

- Nhằm đảm bảo công bằng xã hội, vì ai cống hiến nhiều cho xã hội, người đó phải được hưởng nhiều, đây là sự cống hiến đặc biệt bằng cả xương máu

- Tái sản xuất những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc và giáo dục truyền thống cho những thế hệ tương lai

- Đảm bảo ổn định thể chế chính trị của Nhà nước

d Các quan điểm cơ bản về ƢĐXH:

- ƯĐXH là một chính sách xã hội đặc biệt quan trọng trong hệ thống các chính sách ASXH ở mỗi quốc gia

- ƯĐXH là việc đầu tư xã hội nhằm tái sản xuất những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc

- ƯĐXH không phải là sự ban ơn mà là thực hiện công bằng xã hội

- ƯĐXH là trách nhiệm của cả Nhà nước và toàn dân

- Ưu đãi về vật chất: trợ cấp bằng tiền; bằng hiện vật; trợ cấp nghỉ dưỡng,

an dưỡng, tham quann du lịch; ưu tiên giao hoặc thuê đất, vay vốn ưu đãi sản xuất,…

- Ưu đãi về tinh thần: tặng bằng khen, huân, huy chương; tặng bằng Tổ quốc ghi công; dựng tượng đài có công; dùng tên người có công để đặt tên phố, ưu tiên con em các đối tượng có công trong tuyển sinh giáo dục và đào tạo,…

4 Xóa đói, giảm nghèo (XĐGN):

Nội dung chương trình XĐGN xét trên góc độ các vấn đề can thiệp bao

Trang 22

gồm nhiều biện pháp được sử dụng như: hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ đất đai sản xuất và nhà ở, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ y tế và giáo dục…Các biện pháp này có thể được chia thành 3 nhóm chính: Nhóm các biện pháp tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất tăng thu nhập; nhóm các biện pháp tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; và nhóm các biện pháp mở rộng mạng lưới ASXH đến với người nghèo

a Tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất tăng thu nhập:

- Tín dụng ưu đãi cho người nghèo: Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói đó là thiếu vốn sản xuất (ở nước ta có tới 79% người nghèo là

do thiếu vốn) Vì vậy, việc Nhà nước cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo điều kiện giúp họ tự thoát nghèo, có điều kiện để mua sắm thêm các phương tiện sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi phương thức sản xuất có năng suất lao động cao hơn

- Hỗ trợ đất sản xuất: Chương trình này thường được thực hiện ở các nước sản xuất nông nghiệp và người nghèo chủ yếu là người nông dân

- Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu: Các điều kiện về cơ sở hạ tầng như: đường sá, trường học, trạm điện, trạm bơm nước, công trình thủy lợi có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác xóa đói giảm nghèo; đặc biệt là ở các khu vực nông thôn, nơi thường có nhiều người nghèo sinh sống

- Chương trình khuyến nông, lâm, ngư: Các dịch vụ khuyến nông nhằm tạo điều kiện cho người nông dân tiếp cận với các thông tin, kỹ thuật, và phát triển thị trường Vì vậy, đây là biện pháp quan trọng để thực hiện xóa đói giảm nghèo một cách bền vững, đặc biệt là ở các nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu

- Các chương trình hỗ trợ khác: Tùy theo điều kiện cụ thể mà mỗi nước còn có thể có những chương trình hỗ trợ khác

b Tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản:

- Hỗ trợ về y tế cho người nghèo: Có một thực tế là người nghèo cảm thấy họ ít khi ốm, nhưng khi ốm tình trạng của họ lại rất nghiêm trọng, đòi hỏi

Trang 23

vì vậy, hỗ trợ về y tế cho người nghèo là một chính sách rất quan trọng nhằm giúp người nghèo có điều kiện được khám chữa bệnh

- Hỗ trợ người nghèo về giáo dục: Giáo dục là một trong những biện pháp quan trọng để giúp người nghèo thoát nghèo thông qua việc nâng cao trình độ dân trí và hiểu biết Tuy nhiên, do hạn chế về thu nhập khiến các gia đình nghèo không có đủ tiền cho con ăn học, và càng khó khăn hơn khi các gia đình nghèo lại thường đông con Ngoài ra, chi phí cơ hội của việc cho con đến trường cũng là một nguyên nhân khá quan trọng Đối với nhiều hộ nghèo, sức lao động của con trẻ có giá trị hơn nhiều so với việc để chúng đến trường Lợi ích dài hạn của giáo dục không thể bù đắp được những tổn thất về thu nhập trong ngắn hạn Vì vậy, nhiều trẻ em đã không được đi học hoặc được đi học nhưng không đều hoặc không hoàn thành được bậc học cơ sở Do đó, các chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo như miễn giảm học phí, cung cấp sách vở học tập, xây dựng trường lớp và các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật khác…là rất quan trọng

- Hỗ trợ người nghèo về nhà ở: Chi phí về nhà ở là một trong những chi phí lớn đối với người dân nói chung Vì vậy, đối với người nghèo hỗ trợ của Nhà nước và xã hội về nhà ở là rất cần thiết, đặc biệt ở các nước phát triển và ở các khu

đô thị khi mà chi phí về đất đai và xây dựng là rất đắt đỏ Nhìn chung, ở các nước đều có các chương trình hỗ trợ người nghèo về nhà ở như mua bán nhà với giá rẻ, xây nhà cho người vô gia cư…

- Hỗ trợ các dịch vụ về nước sạch và vệ sinh: Hiện nay ở các nước, các dịch vụ về nước và vệ sinh đều do nhà nước cung cấp hoặc do tư nhân làm thì cũng

có sự điều tiết và hỗ trợ của nhà nước, để đảm bảo mức giá hợp lý và thường là thấp cho người dân nói chung, trong đó có đối tượng người nghèo Trong một số trường hợp các hộ nghèo có thể có những hỗ trợ thêm như: hỗ trợ và tư vấn xây nhà vệ sinh, cung cấp nươc sạch cho những vùng khô hạn…

c Mở rộng mạng lưới ASXH đến với người nghèo:

- Chính sách BHXH nhìn chung được các nước thực hiên khá hoàn thiện với đối tượng là người lao động hưởng lương Bới vì đối tượng này có quan hệ hợp

Ngày đăng: 16/03/2017, 06:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w