THUẬT PHONG THỦY VÀ KIẾN TRÚC CẢNH VẬT HÓA LĂNG GIA LONG LĂNG TỰ ĐỨC LĂNG THIỆU TRỊ LĂNG KHẢI ĐỊNH... THUẬT PHONG THỦY VÀ KIẾN TRÚC CẢNH VẬT HÓA LĂNG GIA LONG LĂNG TỰ ĐỨC LĂNG THIỆU
Trang 1KIẾN TRÚC LĂNG TẨM HUẾ
Trang 3• Do ảnh hưởng quan niệm “ sống gửi thác về”, vua triều Nguyễn lúc còn tại vị đã lo trước hậu sự bằng cách xây dựng một khu lăng tẩm cho mình.
Trang 47 khu lăng tẩm:
• Lăng Gia Long - Thiên Thọ Lăng
• Lăng Minh Mạng - Hiếu Lăng
• Lăng Thiệu Trị - Xương Lăng
• Lăng Tự Đức - Khiêm Lăng
• Lăng Dục Đức - An Lăng
• Lăng Đồng Khánh - Tư Lăng
• Lăng Khải Định - Ứng Lăng
Trang 5Khu lăng tẩm nằm ở phía Tây kinh thành Huế
Trang 6• Khu lăng tẩm gồm 2 phần:
- Phần lăng là khu chôn thi hài vua
- Phần tẩm là nơi để thờ phụng đấng quân vương.
Trang 7KHÁI QUÁT KIẾN TRÚC LĂNG TẨM HUẾ
• Việc xây dựng khu lăng tẩm điều tuân theo thuật
Phong thủy của Đông Phương: sơn triều, thủy tụ, tiền
án, hậu chẩm, tả long, hữu hổ,…
• Nghệ thuật kiến trúc ở lăng tẩm Huế là kiến trúc cảnh
vật hoá hay còn gọi là kiến trúc phong cảnh
• Bố cục tổng thể chung của hệ thống kiến trúc lăng tẩm
Huế là:
Vòng thành Bái đình Bi đình Tẩm điện Minh lâu Bửu thành Mộ vua.
Trang 8THUẬT PHONG THỦY VÀ KIẾN TRÚC CẢNH VẬT HÓA
LĂNG GIA LONG LĂNG TỰ ĐỨC
LĂNG THIỆU TRỊ LĂNG KHẢI ĐỊNH
Trang 10THUẬT PHONG THỦY VÀ KIẾN TRÚC CẢNH VẬT HÓA
LĂNG GIA LONG LĂNG TỰ ĐỨC
LĂNG THIỆU TRỊ LĂNG KHẢI ĐỊNH
Trang 12THUẬT PHONG THỦY VÀ KIẾN TRÚC CẢNH VẬT HÓA
LĂNG GIA LONG LĂNG TỰ ĐỨC
LĂNG THIỆU TRỊ LĂNG KHẢI ĐỊNH
Trang 14THUẬT PHONG THỦY VÀ KIẾN TRÚC CẢNH VẬT HÓA
LĂNG GIA LONG LĂNG TỰ ĐỨC
LĂNG THIỆU TRỊ LĂNG KHẢI ĐỊNH
Trang 16KIẾN TRÚC CẢNH VẬT HÓA
Kiến trúc cảnh vật hoá (architecture paysagée) hay còn gọi là kiến trúc phong cảnh Hầu hết các núi đồi, khe suối, sông hồ, cây cỏ ở xung quanh đều được tận dụng hoặc chỉnh trang lại tạo thành bối cảnh cho kiến trúc lăng tẩm Mỗi một lăng
vua với đặc tính riêng của nó là một thành tựu
tuyệt mỹ của nền kiến trúc cảnh vật hóa.
Trang 17Lăng Gia Long
Trang 18Lăng Tự Đức
Trang 19 MINH LÂU
BỬU THÀNH
MỘ VUA
Trang 20Lăng Minh Mạng Lăng tiêu biểu cho bố cục
Vòng thành Bái đình 2 Bi đình 3 Tẩm điện 5 Minh lâu 9
Bửu thành Mộ vua 10
Trang 21VÒNG THÀNH
Vòng thành còn gọi là La thành, bao
bọc bên ngoài lăng tẩm Huế
Trang 22Vòng thành lăng Minh Mạng
Trang 23Vòng thành lăng Tự Đức
Trang 24Lăng Gia Long lấy thiên nhiên làm La Thành
Trang 25Lăng Thiệu Trị lấy thiên nhiên làm La Thành
Trang 26BÁI ĐÌNH
Bái đình là nơi để lạy người quá cố Hai bên có
2 hàng tượng điêu khắc quan văn, quan võ, ngựa
và voi
Trang 27BÁI ĐÌNH LĂNG GIA LONG
Trang 28Quan văn, quan võ lăng Gia Long
Trang 29Bái đình lăng Minh Mạng
Trang 30Quan văn lăng Minh Mạng
Trang 31Quan võ lăng minh mạng
Trang 32Ngựa lăng Minh Mạng
Trang 33BÁI ĐÌNH LĂNG ĐỒNG
KHÁNH
Trang 34BÁI ĐÌNH LĂNG KHẢI ĐỊNH
Trang 35QUAN VĂN QUAN VÕ
Trang 36Lính túc vệ ở bái đình lăng Khải Định
Trang 37BI ĐÌNH
Bi đình là nhà bia, trong nhà bia có văn bia.
Trang 38BIA THÁNH ĐỨC THẦN CÔNG
Lăng Gia Long
Trang 39BI ĐÌNH LĂNG TỰ ĐỨC
Trang 40TẤM BIA LỚN NHẤT VIỆT NAM
(lăng Tự Đức)
Trang 41BI ĐÌNH LĂNG KHẢI ĐỊNH
Trang 42TẨM ĐIỆN
Tẩm điện
Tẩm điện là chỗ xây nhiều miếu, điện, lầu,
gác, đình… để thờ phụng vua
Trang 43ĐIỆN MINH THÀNH TRONG LĂNG GIA LONG
Trang 44ĐIỆN SÙNG ÂN TRONG LĂNG MINH MẠNG
Trang 45TRANG TRÍ KIẾN TRÚC
Trang 48Nội thất điện Sùng Ân
Trang 49BÀN THỜ
Trang 50ĐIỆN HÒA KHIÊM TRONG LĂNG TỰ ĐỨC
Trang 51Bàn thờ vua Tự Đức
Trang 52Các cánh cửa trong hành lang đều bằng
gỗ
Trang 53Tranh gương trong lăng Tự Đức
Trang 54Tranh gương lăng Tự Đức
Trang 55CUNG THIÊN ĐỊNH
Trang 56Điện Khải Thành lăng Khải Định
Trang 57BÀN THỜ VUA KHẢI ĐỊNH
Trang 58“Cửu long ẩn vân”
Trang 59“Cửu long
ẩn vân”
Trang 60Tranh tứ quý
Trang 62Trang trí trong lăng Khải Định
Trang 64Trang trí trong lăng Khải Định
Trang 65Trang trí trong lăng Khải Định
Trang 66Trang trí trong lăng Khải Định
Trang 67Trang trí trong lăng Khải Định
Trang 68MINH LÂU
Minh lâu ở lăng tẩm huế chịu ảnh hưởng của
Minh lâu trong Thập Tam Lăng của đời Minh Đây là vật kiến trúc tiêu biểu của lăng mộ đế
vương triều Minh Đây là tòa kiến trúc nối tiếp giữa phần điện thờ và lăng vua, Minh Lâu với ý nghĩa là tòa lầu tỏa sáng (bởi tài năng công đức của hoàng đế) là giới hạn cuối cùng trước khi nhà vua về với thế giới vĩnh hằng.
Trang 69Minh Lâu lăng Minh Mạng
Trang 71Minh lâu >>Tân nguyệt trì >> Bửu thành
Trang 72Trụ biểu Bình Sơn- Thành Sơn
Trang 73BỬU THÀNH
Bửu thành
Bửu thành là vòng thành bao xung quanh
mộ vua.
Trang 74BỬU THÀNH LĂNG GIA LONG
Trang 75BỬU THÀNH LĂNG MINH MẠNG
Trang 76MỘ VUA
Trang 77MỘ SONG TÁNG
Trang 78MỘ VUA TỰ ĐỨC
Trang 79MỘ VUA KHẢI ĐỊNH
Trang 80Bửu tán
Trang 81Tượng vua Khải
Định ngồi
Trang 82Hình mặt trời sau mộ vua
Trang 83KẾT LUẬN
Trang 84Lăng Gia Long: hoành tráng
Trang 85Lăng Minh Mạng: thâm nghiêm
Trang 86Lăng Thiệu Trị: thanh thoát
Trang 87Lăng Tự Đức: thơ mộng
Trang 88Lăng Dục Đức:
đơn giản
Trang 89Lăng Đồng Khánh: xinh xắn
Trang 90Lăng Khải Định: tinh xảo
Trang 91Chương 1: Tìm hiểu về cổng tam quan các lăng tẩm vua Nguyễn
1 Cổng Cửa tại các lăng tẩm triều Nguyễn:
“Trong kiến trúc truyền thống Việt Nam, cổng/cửa là một trong những loại hình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Có thể nói, cổng/cửa chính là “người đại
diện”, vừa phản ánh các đặc điểm đặc trưng của
nền kiến trúc vừa phản ánh vị trí, quy mô của nền kiến trúc hay khu vực kiến trúc ấy” Đối với kiến
trúc truyền thống Huế, điều ấy được thể hiện thật rõ nét Đặc biệt là 7 khu lăng hoàng đế do có cấu trúc
và quy mô khác nhau nên hệ thống cổng/cửa cũng
có những đặc điểm riêng
Trang 92“Khảo sát các lăng vua triều Nguyễn thì thấy rằng cổng vào lăng là cổng tam
quan Nhưng khảo sát lăng của các
thân vương, hoàng tử, công chúa, các phi tần thì cổng lăng chỉ có một cửa
Đây là một lệ thời phong kiến, dẫu bất thành văn nhưng có thể kiểm chứng ở hằng trăm lăng mộ cổ ở Thừa Thiên
Huế Các lăng vua Nguyễn dù to hay
nhỏ bao giờ cũng có cổng tam quan”.
Trang 932 Định nghĩa cổng tam quan:
“Tam quan: Tam là ba; quan là cửa ải, cửa ô, điểm then chốt; Tam quan là tên một cái cửa lớn ở chùa, ở phủ thờ, cửa này có ba lối đi, lối đi ở giữa, lối đi bên tả và bên hữu Thông thường chùa có ba lớp cổng trên lối đi dẫn vào chánh điện Hoặc là cổng chùa có ba
cửa, người khiêm cung, hiểu đạo vào chùa không đi cửa giữa, thường đi vào bằng cửa bên trái hoặc phải Cổng giữa dành cho vua, quan và chư tôn đức (người có đạo cao đức trọng )”
Trang 94Lăng Gia Long
Trang 95Cổng tam quan của Hiếu Lăng
(lăng vua Minh Mạng)
Trang 96Cổng tam quan ở
lăng Thiệu Trị
Trang 97Cổng tam quan ở lăng Tự Đức
Trang 98Cổng tam quan lăng Dục Đức
Trang 99Cổng tam quan
lăng vua Đồng Khánh
Trang 100Cổng tam quan lăng Khải Định
Trang 101Cổng tam quan của mỗi lăng mang một vẻ đẹp riêng Tuy nhiên, các cổng tam quan
của Lăng tẩm vua Nguyễn
cũng có điểm chun g.
Trang 102• “Mỗi khu lăng nếu có vòng la thành bao bọc đều trổ
3 cửa theo lối "tam khẩu" trong đó cửa chính là một tam quan.
• Năm khu lăng được xây dựng theo kiểu truyền thống
là lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,
Đồng Khánh đều có tam quan gỗ có môn lâu trước phần tẩm điện
• Mỗi khu lăng đều có nguyệt môn trước Bửu thành
(đều gọi là Bửu Thành Môn)”
Trang 103Chương 2: So sánh
những pho tượng tại Bái Đình lăng tẩm Huế với một số triều đại
khác ở Việt Nam.
Trang 104“Trên cơ sở lăng mộ thời Trần mới thể nghiệm đưa tượng
vào trong kiến trúc nơi yên
nghỉ của vua Trần Hiến Tông
và quan đại thần Trần Thủ Độ, sang giai đoạn quân chủ Nho giáo, việc đưa tượng vào lăng
mộ trở nên phổ biến”
Trang 105Các bức tượng điêu khắc trong nội thất khác các bức tượng được trưng bày ngoài trời Vì các bức tượng được trưng bày ngoài trời phải chịu sự khắc nghiệt của thiên nhiên ( nắng, gió, mưa, bão,…) nên hầu hết đều làm bằng đá và thường không sơn son thếp vàng Còn các bức tượng trang trí trong nội thất thường phong phú về chất liệu (gỗ, giấy bồi,…)
và sơn son thếp vàng để phản quang).
Trang 106Tượng hổ ở lăng Trần Thủ Đôô
Trang 107• Thời Lê sơ, hệ thống tượng trong lăng mộ vua cũng
khá phổ biến.
• Trong giai đoan đầu của thời Lê Sơ, tượng hổ thay
thế cho tượng voi, và lăng Lê Thánh Tông thì tượng voi mới thay thế cho tượng hổ
• Tượng thời Lê Sơ không mang vẻ cổ điển như
tượng thời Lý cũng không mập khỏe như tượng thời Trần.
Trang 108Có một sự thống nhất của tượng thời Lê sơ với
“tượng thời Nguyễn là từ khối đá núi, nghệ sĩ đã đục cậy bỏ tất cả những gì không thuộc về đối tượng, do
đó mảng dưới bụng ở giữa bốn chân thú được để trống, cũng giúp cho con vật đỡ nặng nề và có phần nhanh nhẹn hơn
Trang 109Dưới thời Lê Trung Hưng, “Các tượng được làm
bằng đá xanh, để ở ngoài trời, phần lớn to bằng thực
do đó dễ gây sự liên tưởng với cảnh phục dịch khi nhân vật được thờ còn sống
Trang 110tượng người dắt ngựa ở lăng Đinh Hương “dáng hơi lùn với vẻ hài hước, trong tư thế đứng nghiêm nhưng lại như chuyển động là nhờ hình khối và đường nét đều thoải mái
Trang 111• Các tượng lăng mộ vua Nguyễn đều ở ngoài trời nên
chất liệu thường bằng đá
• nhưng trong các lăng vua Nguyễn cũng có trường
hợp cá biệt: “Các cặp tượng voi và ngựa ở lăng Tự Đức do đời sau làm lại được đắp bằng vôi vữa với cốt gạch, các tượng ở lăng Đồng Khánh đều được đắp bằng vữa tam hợp với cát thô trong dịp đại tu
năm 1923 nên trông gần như bê tông giả đá.
Trang 112• hệ thống tượng ở các lăng mộ
vua Nguyễn đều xếp thành
từng cặp theo hàng ngang đối diện nhau qua sân, thứ tự từ
trong ra ngoài là hai cặp quan văn, ba hoặc hai cặp quan võ, một cặp ngựa và một cặp voi
Trang 114Tượng điêu khắc voi và ngựa
lăng Gia Long
Trang 115Lăng Khải Định có thêm 6 cặp lính
túc vệ đứng chầu.
Trang 116mỗi thời kì khác nhau
thì tượng mang dáng
vẻ khác nhau, và không thể phủ nhận hoàn toàn
vẻ đẹp của điêu khắc
tượng thời Nguyễn.
Trang 117• tượng thời Lê sơ và Lê Trung Hưng cũng không phải
là hoàn mỹ.
• Tượng ngựa ở lăng Gia Long được chạm trau chuốt,
chú ý tả kỹ đến từng chi tiết (như bờm tóc, lông
đuôi, chỉ rõ là giống đực, các trang trí trên yên và
bành ), phần dưới bụng được cậy bỏ để con vật
hoàn toàn đứng trên bốn chân, vì thế nó thiên về tả thực, có phần sống động hơn
Trang 118Tượng điêu khắc ở
lăng Minh Mạng
Trang 119So sánh về tượng điêu khắc trong lăng tẩm
Huế và tượng điêu
khắc trong Minh Thập tam lăng
Trang 120• Mỗi lăng mộ tọa lạc trên một gò cao và nối với lăng
mộ khác bằng lối đi gọi là “thần đạo”
• Linh vật là những con thú linh thiêng, không có
ngoài đời mà chỉ có trong tưởng tượng như rồng, lân, quy và có tượng những con thú có thật như voi, ngựa, lạc đà, sơn dương
Trang 121Tượng quái thú ở Minh Thập tam lăng
Trang 122hàng tượng đá với ý nghĩa canh giữ giấc ngủ ngàn thu của các vì vua
Trang 123• Xét về mặt ý nghĩa của 2 hàng tượng điêu khắc trong
lăng nhà Nguyễn ngoài ý nghĩa canh gác giấc ngủ
của nhà vua thì còn thể hiện hơn nữa cái uy quyền nhà vua, cũng như việc thể hiện vua luôn luôn sống mãi với thời gian và các vị quan của Người phải luôn trong tư thế phục vụ
Trang 124Về kiến trúc, dễ dàng nhận thấy, các tượng đá ở
Minh thập tam lăng đều to hơn kích cỡ thật rất nhiều Còn các pho tượng trong lăng tẩm Huế thì gần như bằng kích thước thật
Trang 125Chương 3: Kiến trúc điêên Ngưng Hy
Trang 126• Điện Ngưng Hy là ngôi điện chính của khu
điện thờ, cấu trúc kiểu nhà kép trùng thiềm
điệp ốc với 3 ngôi nhà ghép liền nhau đặt
trên 1 mặt nền thống nhất, gần như vuông
(25m x 24m) Nền điện cao 0,8m, lát gạch hoa,
bó vỉa bằng đá Thanh Cả 3 phần của điện
đều 7 gian, 2 chái với tổng cộng 100 cây cột
gỗ lim sơn son thếp vàng rực rỡ Hệ thống vì kèo của tiền điện làm kiểu giả thủ rất thanh
nhã; chính điện và hậu điện có vì kèo kiểu
cánh ác nhưng chính điện có trần gỗ che kín Phần mái có 3 căn: tiền điện, chính điện và
hậu điện nối liền với nhau bằng 2 máng xối
đồng
Trang 127• tác giả Trần Đức Anh Sơn đã có nhâên xét
và miêu tả : “ điêên Ngưng Hy vốn được
coi là nơi bảo lưu bậc nhất nghệ thuật
sơn son thếp vàng, nghệ thuật sơn mài
nổi tiếng của Việt Nam Trên các đố bản ở nội thất là hàng loạt các ô hộc trang trí
các đề tài mai điểu, tùng lộc, liên áp, trúc tước bằng sơn mài, ghép khảm và chạm nổi Ðặc biệt trong chính điện còn có 24
đố bản vẽ các bức tranh trong điển tích
Nhị thập tứ hiếu kể về những tấm gương hiếu thảo ở Trung Hoa”
Trang 128Chương 4 : Sự quan trọng và ý nghĩa của lầu tạ, các thành
phần phụ trong kiến trúc lăng.
Trang 129• Khu vực tẩm là chỗ xây nhiều miếu, điện, lầu, gác,
đình, tạ để nhà vua lúc còn sống thỉnh thỏang rời
bỏ hoàng cung lên đây tiêu khiển.
• Ở khu vực tẩm của vua Tự Đức chẳng hạn có đến
mấy chục công trình kiến trúc lớn, nhỏ để phục vụ
và giải trí cho nhà vua.
Trang 1302 nhà tạ bên bờ hồ Lưu Khiêm
• Dũ Khiêm Tạ
• Xung Khiêm Tạ
Trang 131chương 5 : Tìm
hiểu các bức
bình phong trong lăng Tự Đức
Trang 132• Ý nghĩa chung : Bình phong và non bộ và hai yếu tố
không thể thiếu trong kiến trúc truyền thống Huế
Ngoài chức năng gia tăng tính bền vững cho đất,
bình phong còn giúp ngăn chặn khí xấu và các yếu
tố bất lợi cho khu nhà Còn nonbộ thì để cản bớt hỏa khí, "tụ thủy, tích phúc" cho gia chủ.
Trang 135chương 6 : TÂN NGUYỆT TRÌ
Trang 136Tân nguyệt trì lăng Gia Long
Trang 137Tân nguyệt trì lăng
Minh Mạng
Tân nguyệt trì lăng Thiệu Trị
Trang 138Tân nguyệt trì lăng Tự Đức
Trang 139Tân nguyệt trì trước lăng Thiên Thọ Hữu,
lăng mẹ vua Minh Mạng
Trang 140Tân nguyệt trì trước Xương Thọ Lăng của
bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức
Trang 141chương 7: SO SÁNH LĂNG TẨM HUẾ VÀ MINH TRIỀU THẬP TAM LĂNG
Trang 1421 Giống nhau
• Cùng xây dựng theo quan niệm phong thủy, hài hoà
âm dương.
• Vốn tin vào kiếp sau (quan niệm “ sống gửi thác về”)
• không bao gồm đầy đủ các lăng của các vị vua nhà
Nguyễn và nhà Minh
Trang 143• Lăng mộ các vị vua sau triều Minh không được to
hơn lăng mộ Vua Minh Thành Tổ Chu Đệ Đây là ngôi
mộ chủ trong Minh Lăng vì nó được xây đầu tiên
Các ngôi mộ của các đời vua sau không được xây lớn hơn Đối với triều Nguyễn, lăng mộ vua khai triều Gia Long Nguyễn Phúc Ánh nằm ở thượng nguồn
sông Hương, mộ của các vua đời sau không được xây phía trên lăng Gia Long.
Trang 1442.Khác nhau
Lăng tẩm Huế
• tương đối đơn giản, lộ
thiên dễ nhận thấy
• thơ mộng, gần gũi với
con người và thiên
• hoành tráng, lạnh lùng,
khí thế bức người
• thể hiện cho lối kiến
trúc lăng viên tập trung
Trang 145Lăng tẩm Huế Minh thâêp tam lăng
Trang 146Tượng vua Khải Định Tượng Chu Đêê
Trang 147• Thập tam lăng thường chôn sống theo nhiều phi
tần, để phục vụ cho vua ở thế giới bên kia theo tục tuẫn táng (chôn sống) của các hoàng đế đầu thời nhà Minh “Sau khi Chu Nguyên Chương
chết, toàn bộ hơn 40 cung nhân tuẫn táng hết Trường Lăng của Thành Tổ cũng tuẫn táng hơn
30 cung phi, Hiến lăng của Nhân Tôn có 7 cung phi bồi táng, Cảnh lăng của Tuyên Tôn (1435) có
10 cung phi “tuẫn tiết cùng chôn””
• Các vua nhà Nguyễn không có tục tuẫn táng
nên khi bước vào khu lăng mộ ta không có cảm giác u buồn, đáng sợ như khu Minh triều thập tam lăng, mà chỉ thấy các vua nhà Nguyễn khôn ngoan đã khéo léo làm cho “cái cảnh tóc tang biết cười”.
Trang 148“ Các vua nhà Nguyễn khôn ngoan,
Làm cho cái cảnh tóc tang biết cười”