1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIA ĐÌNH các dân tộc ở việt NAM

25 752 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 213,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cả nước hiện có 54 dân tộc anh em. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thửa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác lần lượt di cư đến nước ta. Do vị trí nước ta giao lưu hết sức thuận lợi nên nhiều dân tộc ở các nước xung quanh vì nhiều nguyên nhân đã di cư từ Bắc xuống, từ Nam lên, từ Tây sang, chủ yếu từ Bắc xuống, rồi định cư trên lãnh thổ nước ta. Những đợt di cư nói trên kéo dài mãi cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thậm chí có bộ phận dân cư còn chuyển đến nước ta sau năm 1945. Ðây là những đợt di cư lẻ tẻ, bao gồm một số hộ gia đình đồng tộc.

Trang 1

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

1.Khái niệm

Gia đình vừa là một thiết chế xã hội, vừa là một đơn vị huyết thống Gia đình là một bộ phận của làng bản, là một đơn vị cơ sở

“ Gia đình là một yếu tố năng động, nó không

bao giờ đứng yên tại chỗ mà chuyển từ một hình thức thấp lên một hình thức cao khi xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên giai đoạn cao”

Ăng ghen Ph, Nguồn gốc của gia đình của sở

hữu tư nhân và của Nhà nước, tuyển tập Mác -

Ăng ghen, tâp 6, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tr 59

Trang 2

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

- Liên H p Qu c “ Gia đình là m t th ch có tính toàn c u “Th ợp Quốc “ Gia đình là một thể chế có tính toàn cầu “Thể ốc “ Gia đình là một thể chế có tính toàn cầu “Thể ột thể chế có tính toàn cầu “Thể ể chế có tính toàn cầu “Thể ế có tính toàn cầu “Thể ầu “Thể ể chế có tính toàn cầu “Thể

ch đó l i có nh ng hình th c khác nhau và th c hi n các ế có tính toàn cầu “Thể ại có những hình thức khác nhau và thực hiện các ững hình thức khác nhau và thực hiện các ức khác nhau và thực hiện các ực hiện các ện các

ch c năng m t cách khác nhau Nh n th c c a nó thay đ i t ức khác nhau và thực hiện các ột thể chế có tính toàn cầu “Thể ận thức của nó thay đổi từ ức khác nhau và thực hiện các ủa nó thay đổi từ ổi từ ừ

n n văn hóa này sang n n văn hóa khác Vì v y không có m t ền văn hóa này sang nền văn hóa khác Vì vậy không có một ền văn hóa này sang nền văn hóa khác Vì vậy không có một ận thức của nó thay đổi từ ột thể chế có tính toàn cầu “Thể quan ni m duy nh t v gia đình đ có th áp d ng cho toàn ện các ất về gia đình để có thể áp dụng cho toàn ền văn hóa này sang nền văn hóa khác Vì vậy không có một ể chế có tính toàn cầu “Thể ể chế có tính toàn cầu “Thể ụng cho toàn

c u Trên th gi i có nhi u n n văn hóa, nhi u l i s ng khác ầu “Thể ế có tính toàn cầu “Thể ới có nhiều nền văn hóa, nhiều lối sống khác ền văn hóa này sang nền văn hóa khác Vì vậy không có một ền văn hóa này sang nền văn hóa khác Vì vậy không có một ền văn hóa này sang nền văn hóa khác Vì vậy không có một ốc “ Gia đình là một thể chế có tính toàn cầu “Thể ốc “ Gia đình là một thể chế có tính toàn cầu “Thể nhau, nên t t y u có nhi u hình th c và c u trúc gia đình ất về gia đình để có thể áp dụng cho toàn ế có tính toàn cầu “Thể ền văn hóa này sang nền văn hóa khác Vì vậy không có một ức khác nhau và thực hiện các ất về gia đình để có thể áp dụng cho toàn

khác nhau Lê Thi, Vai trò gia đình trong vi c xây d ng nhân ệc xây dựng nhân ựng nhân cách con ng i Vi t Nam ười Việt Nam ệc xây dựng nhân , Nxb Ph n , Hà N i, 1997, tr 18.ụng cho toàn ững hình thức khác nhau và thực hiện các ột thể chế có tính toàn cầu “Thể

Trang 3

 Trong nghiên cứu gia đình cũng cần phải phân biệt khái niệm gia đình với khái niệm hộ.

 Hộ được hiểu như một nhóm người sống chung một mái nhà, có thể có quỹ chi chung Hộ có thể gồm những người

có quan hệ ruột thịt, họ hàng hay bạn bè quen biết Có trường hợp là hộ độc thân sống một mình có trường hợp hộ gồm hai, ba người phụ nữ hay nam giới hay người già ở chung với nhau

 Đặc biệt trước đây có nhiều hộ tập thể, gồm một số cán bộ nhân viên của một cơ quan, xí nghiệp hay sinh viên học sinh

ở chung một địa điểm nhưng không có quỹ thu chi chung Nhưng ở thành phố và nông thôn Việt Nam hiện nay, đại đa

số trường hợp một gia đình thường là một hộ

Trang 4

 Cuộc tổng điều tra dân số ở Việt Nam năm 1989 đã đưa ra khái niệm hộ gia đình bao gồm những người

có quan hệ hôn nhân hay ruột thịt hoặc nuôi dưỡng

có quỹ thu, chi chung Mỗi hộ gia đình có một sổ

đăng ký hộ khẩu ghi rõ số nhân khẩu, người chủ hộ

và quan hệ của những thành viên với chủ hộ Đây là tài liệu có tính pháp lý để chính quyền địa phương

có thể quản lý tế bào xã hội là gia đình.

Trang 5

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

2.Phân lo i gia đình ại gia đình

 Có nhiều ý kiến về phân loại gia đình của sử

học, xã hội học

 Dân tộc học cũng có nhiều ý kiến về phân loại

gia đình, tiêu biểu là các nhà dân tộc học Xô Viết L.Ph Mônôgavôna, K.V.Chistốp, M.O - Kô -xven Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học J.U Brômlây và tiến sĩ Kaxuba

- Dù nhiều ý kiến, nhưng đều thống nhất phân thành 2 hình thức gia đình: gia đình lớn và gia

đình nhỏ

Trang 6

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

- Gia đình lớn: (gia đình mở rộng,gia đình khép kín, gia

đình không phân chia), gồm 2-3, cặp vợ chồng và có

2-3-4 thế hệ trở lên theo trực hệ hay bàng hệ Các thành viên của gia đình có mối quan hệ huyết thống, hôn nhân đồng thời là một đơn vị kinh tế sản xuất, tiêu dùng, ăn chung, ở chung trong một ngôi nhà

- Gia đình nhỏ : (gia đình đơn giản, gia đình hạt nhân )

có hai thế hệ gồm cha, mẹ, và con cái chưa lấy vợ, lấy chồng Các thành viên gia đình nhỏ có mối quan hệ huyết thống và hôn nhân, đồng thời là đơn vị kinh tế, sản xuất, tiêu dùng và hưởng thụ thành quả lao động chung

Trang 7

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

3.Đ c tr ng gia đình các dân t c Vi t Nam ặc trưng gia đình các dân tộc ở Việt Nam ưng gia đình các dân tộc ở Việt Nam ột thể chế có tính toàn cầu “Thể ở Việt Nam ện các

Ở Việt Nam tùy theo trình độ phát triển từng tộc người mà ện các Vi t Nam tùy theo trình đ phát tri n t ng t c ng i mà ột thể chế có tính toàn cầu “Thể ể chế có tính toàn cầu “Thể ừ ột thể chế có tính toàn cầu “Thể ưng gia đình các dân tộc ở Việt Namời mà

có nh ng thang b c phát tri n khác nhau c a gia đình, ững hình thức khác nhau và thực hiện các ận thức của nó thay đổi từ ể chế có tính toàn cầu “Thể ủa nó thay đổi từ

t ng ng v i 3 khu v c ưng gia đình các dân tộc ở Việt Namơng ứng với 3 khu vực ức khác nhau và thực hiện các ới có nhiều nền văn hóa, nhiều lối sống khác ực hiện các

 Trường Sơn - Tây Nguyên

Miền núi phía B c ắc

Vùng đồng bằng, ven bi n ể chế có tính toàn cầu “Thể

Trang 8

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

3.1 Trường Sơn - Tây Nguyên

Trước 1975, ở dân tộc Xơ-đăng (Ca Dong, Ba Noong), Mnông, Cơ-ho và người Xtiêng tồn tại gia đình lớn có một nóc nhà dài khoảng 70, 80 mét với tám, chín chục thành viên cùng chung sống (đại gia đình) Một số nhà nghiên cứu gọi làng nóc hình toa tầu, mỗi gia đình một gian

Trang 9

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

Nhà toa tàu

Trang 10

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

 Khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên có những dạng phát triển đại gia đình như sau:

+ Kiểu thử nhất: các thành viên được điều khiển

bởi ông chủ nóc, người Ba na gọi là hnam đno,

Xê-đăng: kan spoong, Tà ôi, Cơ tu là tako hdông.

Chủ nóc có khi cũng là chủ làng nếu được suy tôn

và có tín nhiệm Chủ nóc phân công cho các hộ trong nóc tham gia sản xuất, bảo vệ và duy trì tập quán pháp, điều khiển cúng bái, cưới xin, ma chay, trông nom tài sản chung của nóc

Trang 11

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

Kiểu thứ hai:

- Khi nóc quá nhiều người, những thành viên có quan

hệ gần gũi nhau tách ra thành một nóc khác từ 8 -10 gia đình.

- Quy mô nóc bị thu hẹp; việc làm chung vẫn duy trì Lương thực vẫn để chung trong một kho do mẹ lúa quản lý

- Những nóc chia ra được dựng quây quanh nóc chính, tiện cho việc đi lại thăm hỏi và thường vẫn quây quần ở nhà ông trưởng nóc chính

- Các tài sản như chiêng, ché, nồi đồng vẫn là của riêng nhưng được dùng chung cho cả nóc.

Trang 12

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

+ Kiểu thứ ba:

Những nóc nhà từ 8-10 gia đình lại chia thành các gia đình hạt nhân hay mở rộng Đây là hình thức phổ biến hiện nay

Cần chú ý, ở người Ca Dong, Mơ Nâm (Xơ-đăng), khách không được qua buồng bà chủ mẹ lúa hay vợ chủ nhà, ở đó

có bếp thiêng đặt một hòn đá thiêng, nơi hồn lúa và thần hộ mệnh của nóc cư trú

Các tộc người Malayô-Pôlinêxia, theo chế độ mẫu hệ, kiểu nhà dài còn tồn tại với 4 thế hệ cùng chung sống (Ê-đê) Chế

độ đại gia đình mẫu hệ chấm dứt khi đế quốc Mỹ chủ trương dồn dân lập ấp chiến lược và chủ trương giao đất, giao rừng của Chính phủ sau năm 1975

Trang 13

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

- Ở người Gia-rai, hình thức đại gia đình đã sớm chuyển sang tiểu gia đình hay gia đình mở rộng;

- Người Ra-glai, Chu-ru: gia đình nhỏ đã bắt đầu xuất hiện bên cạnh những đại gia đình mẫu hệ Mỗi nóc được coi là một đơn vị (go esei), không phân biệt là đại gia đình (go prông) hay tiểu gia đình (go dét) như người Chu-ru

Trang 14

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

chế của gia đình mẫu hệ phân biệt các thành viên trong gia đình còn rất chặt chẽ Trong một đại gia

đình có 3 nhóm:

- Nhóm nữ (ana go) nhóm chủ thể của gia đình:

Trong gia đình bà chủ nhà (khoa sang) là người cao tuổi, có địa vị và có uy tín nhất Khi bà chủ nhà qua đời, hay quá già, không quán xuyến nổi, chức vị chủ gia đình sẽ truyền lại cho cô con gái út (minorat),

Trang 15

 Trong hôn nhân, phụ nữ chủ động và cưới chồng; trong ma chay, phụ nữ làm chủ tế; khi làm nhà mới,

bà chủ nhà là ngưòi chặt nhát rìu đầu tiên T

 Trong lễ mừng nhà mới, bà chủ là người chủ lễ, là người bước đầu tiên lên nhà mang theo nước, lửa, lúa, bông - những vật tượng trưng cho uy quyền của đàn bà

 Trong việc giao tiếp với khách trong làng ngoài buôn,

bà chủ nhà là người uống rượu đầu tiên và tiếp cần từ tay khách Tuy nhiên, với công việc ngoài xã hội, người chồng là người đại diện, nhưng ý kiến quyết định lại là ông cậu (đăm đei) của vợ.

Trang 16

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

Nhóm thành viên nam hay anh em trai của nhóm nữ (đăm đei)

Đây là những thành viên không ổn định của gia đình (gia đình gốc), vì khi lấy vợ họ phải về làm "người nuôi" bên nhà

vợ và chỉ khi không còn đóng vai "chàng rể", họ mới quay về sống vối chị em gái của mình Địa vị và uy thế của đăm đei rất lớn với gia đình chị em gái của mình, kê ca khi đã đi lấy

vợ

- Nhóm những chàng rể hay những người chồng của nhóm nữ

 Là nhóm người đi "nuôi" bên nhà vợ Họ phải làm việc nặng nhọc theo sự phân công lao động theo giới, có chăng nếu ai được làm chồng bà chủ nhà thì còn có tiếng nói

Trang 17

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

không loại trừ theo mẫu hệ, song hệ, hay phụ hệ, trách nhiệm sinh con đẻ cái là rất quan trọng Làng

có đông, làng mới mạnh, nhà có đông, mảnh rẫy mới vượt tầm mắt

Trang 18

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

3.2.Vùng miền núi phía Bắc

- Trước cách mạng quan hệ thành viên trong đại gia đình

mang tính phụ quyền

- Người chủ gia đình chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động trong gia đình.

- Trong đại gia đình, chú bác coi con anh, con em như con

đẻ Nếu ai không có con xin con trai của anh hay em về làm con nuôi Nếu cha chết, con coi bác, chú ruột như cha: "Po lai, ao pên po", ("cha chêt, chú thay làm cha") - -Tài sản

chung của đại gia đình có ruộng đất, nương rẫy, lương thực gia súc lớn một phần gia súc nhỏ, nông cụ, đồ đạc trong

nhà.

Trang 19

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

- Tiểu gia đình là hình thức phổ biến quyền hành tập trung vào người chồng và người cha Người phụ nữ địa vị thường thấp kém, không được tới trường học, không tham dự các công việc ngoài xã hội, tiếp

khách, không giữ chức vụ trong bộ máy hành chính bản mường, trừ việc đỡ đẻ và làm bà bụt, bà then Các cô gái không được coi là thành viên của gia

đình Trong gia đình phụ quyền, ngưòi ta chỉ tính đến con trai, chứ không đếm xỉa gì đến con gái "Nhinh khoong khai, chà khoong liệng" tức “con gái là của

để bán, con trai mới là của để nuôi”

Trang 20

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

 Quy mô gia đình lớn, số lượng thành viên đông,

chẳng hạn quy mô trung bình ở người Thái là 8,5

người; ở người Nùng 7,5 người; ở người Tày 6,3

người; ở người Mường 5,6 người; người Sila 5,4

người; ở người Cống 5,2 người

 Điều tra tại ở xã Minh Đài, huyện Thanh Sơn - số

người trong hộ gia đình như sau: hộ3 người là 55, hộ

4 người là 112, hộ 5 người là 93, hộ 6 người là 60, hộ

7 người là 18, hộ 9 người là 18 Quy mô trung bình của gia đình người Mường ở Phú Thọ là 6,0 người

Trang 21

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

3.3 Vùng đồng bằng và trung du của người Việt

trai, gái hoặc gia đình mở rộng gồm ông và bà, hoặc chỉ ông hay bà, thường ở với con trưởng Trong thành viên gia đình còn có chị, các em trai, gái chưa lập gia đình, hoặc có thêm những người cô quả.

- Trong gia đình các thành viên sợ nhất bị khinh rẻ, từ

bỏ, côi cút, không nhà cửa, bơ vơ Nên xưa có câu “ Thà ăn cắp hột chà vôi, còn hơn giàu có, mồ côi một mình”; “Người ta có tổ, có tông, như cây có cội, như sông có nguồn”

Trang 22

GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC Ở ViỆT NAM

 Về nguyên lý, người chủ gia đình là người quyết định mọi việc trong nhà, từ việc làm ăn, việc định đoạt học hành cho con cái, việc chi tiêu mua sắm trong nhà, là người sở hữu duy nhất tài sản của gia đình, là người đại diện với dòng họ, làng xóm và xã hội, là người

quyết định quyền thừa tự cho con cái, v.v Luật pháp thời trước bảo vệ và đề cao điều đó.

 Về phương tiện tôn giáo, nếu ngưòi tộc trưởng chủ trì việc thờ cúng tại nhà thờ họ, thì ở từng gia đình,

người con trưởng lại thờ bố mẹ, ông bà tại bàn thờ gia tiên.

Trang 23

 Trong gia đình, về nguyên lý, người phụ nữ không có quyền Nho giáo đã tước đoạt mọi quyền hành của họ, khinh rẻ họ, buộc họ phải phụ thuộc vào người đàn

ông, theo tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức 'thập nữ viết vô", mười con gái tính bằng không con Pháp luật, lệ làng cũng bênh vực lý đó Trong bộ luật thời Lê - bộ luật thể hiện tính dân chủ nhất định - cũng không thoát khỏi sự thiên đó - vẫn đề cao vai trò nam giới, hạ thấp vai trò nữ giới

chồng bị xử nặng hơn với nhà vợ hay bên ngoại

Trang 24

 Pháp luật cũng nương nhẹ với các trường hợp: nếu vợ đã

để tang cha mẹ chồng, nếu vợ đã làm giàu cho gia đình, nếu

vợ ra đi không có nơi nương tựa, người chồng bỏ vợ sẽ bị pháp luật trừng phạt.

 Pháp luật cũng không cho phép chồng giết vợ, bán vợ, hay thay ngôi đổi thứ, từ vợ cả xuống vợ lẽ hay nàng hầu

 Luật thời Lê lại có điều khoản buộc chồng có trách nhiệm với người vợ như việc vô cớ bỏ lửng vợ không đi lại trong một thời gian nhất định thì phải phạt ( hoặc việc chia điền sản cho

vợ khi chồng đã chết, hoặc trong trường hợp họ hàng bằng lòng, mẹ đi cải giá, con còn nhỏ, mẹ có quyền bán một phần ruộng của con để đủ chi tiêu cho việc nuôi con

Trang 25

 Đặc biệt về Hương hoả, luật lệ lại cho phép người con gái trưởng được giữ hương hoả và thờ phụng cha mẹ tổ tiên như con trai trưởng Theo Quốc triều hình luật cũng như một đạo sắc thời Quang Thuận (Lê Chiêu Tông, 1517) thì người con gái trưởng ấy có đủ các quan hệ nghĩa vụ về pháp luật và tôn giáo như một người gia trưởng vậy Điều

395 (Điều 4) còn ghi rõ để thấy trai, gái gần như nhau: Cha

mẹ sinh được hai con trai, người con trưởng chỉ sinh con gái, con thứ lại có con trai, thì phần hương hỏa giao cho con trai người con thứ Nếu con trai người con thứ chỉ sinh cháu gái, thì phần hương hỏa trước kia lại phải giao lại cho con gái người con trưởng

Ngày đăng: 09/03/2017, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w