1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

VỊ THẾ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỈNH BẾN TRE SO VỚI CÁC TỈNH TRONG KHU VỰC PHÍA NAM

25 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh và điều kiện kinh tế của tỉnh Bến Tre, bài viết này chủ yếu phân tích các vấn đề về 1 vị thế năng lực cạnh tranh của tỉnh Bến Tre trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Trang 1

VỊ THẾ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỈNH BẾN TRE

SO VỚI CÁC TỈNH TRONG KHU VỰC PHÍA NAM

Anh1, N.C & Hòa2, N.N (2016)

Năng lực cạnh tranh đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, nó biểu hiện ở hai cấp độ khác nhau từ vi mô (doanh nghiệp) đến vĩ

mô (địa phương, quốc gia), trong đó việc xác định vị thế năng lực cạnh tranh cấp vĩ

mô đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt các chủ thể kinh tế trong khu vực tăng trưởng và phát triển Trong bối cảnh và điều kiện kinh tế của tỉnh Bến Tre, bài viết này chủ yếu phân tích các vấn đề về (1) vị thế năng lực cạnh tranh của tỉnh Bến Tre trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài so với các tỉnh khác trong khu vực phía Nam và (2) phân tích năng lực về quy mô sản xuất của doanh nghiệp trong tỉnh Bến Tre Để trả lời cho vấn đề thứ nhất, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tỉnh năng lực hút vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh Bến Tre xếp hạng thứ 13/19 trong số 19 tỉnh thuộc khu vực phía Nam, đồng thời tìm thấy được đặc thù chung về các yếu tố chưa đạt yêu cầu của khu vực phía Nam về thu hút vốn đầu tư: tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí không chính thức, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý Đối với vấn đề thứ hai nhằm đánh giá năng lực về quy mô sản xuất của tỉnh Bến Tre và kết quả cho thấy doanh nghiệp của tỉnh đang ở trạng thái thu hẹp quy mô sản xuất Qua đó hai vấn đề trên, tỉnh Bến Tre cần tháo bỏ những nút thắt của vấn đề thứ nhất để tìm kiếm nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài trong điều kiện khó khăn về ngân sách thông qua việc hoàn thiện cơ chế vận hành chính sách tài khóa và tiền tệ theo một lối đi riêng của tỉnh, từ đó tạo ra một động lực chủ đạo tăng trưởng và phát triển của tỉnh

để dẫn dắt các chủ thể đang hoạt động của tỉnh tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong xu thế hội nhập

1 Giới thiệu

Việc xác định vị thế năng lực cạnh tranh cấp vĩ mô của tỉnh Bến Tre là cần thiết và góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển của tỉnh Một trong các vấn đề đặt ra là đi bằng con đường nào hoặc chọn hướng đi nào phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của tỉnh Bến Tre, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn về ngân sách Theo nghiên cứu của Izumi & Kenichi (2009) về tiến trình “bắt kịp” công nghiệp hóa của một số quốc gia đã và đang phát triển, thì Việt Nam đang ở giai đoạn 1, giai đoạn chế tạo đơn giản dưới sự chỉ dẫn của nước ngoài (hình 1) Đây là giai đoạn bắt đầu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI, giai đoạn mượn nguồn lực từ bên ngoài để tăng trưởng và phát triển

1 Giảng viên Khoa Tài chính – Kế toán, trường Đại học Nguyễn Tất Thành

2 Giảng viên Khoa Tài chính – Kế toán, trường Đại học Nguyễn Tất Thành

3

Phát biểu trong hội thảo tham vấn ý kiến chuyên gia về các chương trình, kế hoạch phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2016 2020 tại tỉnh Bến Tre

Trang 2

Tuy nhiên, việc mượn nguồn lực phải đảm bảo rằng tăng thêm lợi ích của tỉnh mà không tổn hại đến lợi ích của các chủ thể kinh tế đang hoạt động tại tỉnh, đồng thời đối tác bên ngoài cũng là con tàu dẫn dắt các chủ thể kinh tế đang hoạt động tại tỉnh bước vào môi trường cạnh tranh “sân chơi đầu tư và tăng trưởng”, điều này có nghĩa là đối tác bên ngoài sẽ tạo ra môi trường đầu tư để các chủ thể kinh tế đang hoạt động tại tỉnh khi tham gia vào sẽ được hưởng lợi ích tăng thêm so với hiện trạng đã tồn tại trước kia Việc mượn nguồn lực mạnh từ bên ngoài đòi hỏi sự đánh đổi (chi phí cơ hội) của địa phương cho các đối tác bên ngoài thông qua những lợi thế cạnh tranh mà tỉnh có được Một nguyên tắc cơ bản là khi lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế địa phương tăng thêm thì họ sẽ không ngại bỏ thêm vốn tham gia vào hoạt động kinh tế, ngược lại một chiếc bánh lợi ích không đổi họ sẽ không chịu bỏ vốn tham gia vào hoạt động kinh tế Chính vì thế, việc tạo môi trường cạnh tranh “sân chơi đầu tư và tăng trưởng” là điều cần thiết và thiết thực cho tỉnh Bến Tre trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn kết nối hạ tầng kinh tế (đầu tư, sản xuất, thương mại và dịch vụ) với khu vực lân cận

Hình 1 Các giai đoạn bắt kịp công nghiệp hóa

Nguồn: Izumi & Kenichi (2009)

Bên cạnh đó, việc tạo ra môi trường cạnh tranh “sân chơi đầu tư và tăng trưởng” kích thích được các chủ thể dựa vào sức lao động và kinh tế cá thể (người lao động, hộ kinh doanh cá thể, người dân địa phương) nếu sân chơi đầu tư và tăng trưởng có sự hài hòa về phúc lợi xã hội, điều này có nghĩa là nếu họ tham gia vào kênh tiêu dùng kênh cạnh tranh này họ sẽ nhận được phúc lợi xã hội trong tương lai,

Giai đoạn 3

Làm chủ được quản lý và công nghệ, có thể sản xuất được hàng hóa chất lượng cao

Giai đoạn 4

Có đầy đủ năng lực đổi mới và thiết kế sản phẩm với vai trò đi đầu toàn cầu

Việt Nam

Thái Lan, Malaysia

Hàn Quốc, Đài Loan

Nội lực hóa kỹ năng và công nghệ

Nội lực hóa đổi mới

Liên kết

(FDI tăng nhanh)

Thu hút công nghệ

Sáng tạo

Trang 3

hoặc thế hệ tương lai của các chủ thể này sẽ hưởng thành quả lao động mà trong hiện này đã cống hiến và tích lũy Mục tiêu chủ yếu của phần này khi tạo ra sân chơi đầu tư và tăng trưởng thì cần có những định hướng phát triển bền vững, đặc biệt là thế hệ tương lai của các chủ thể tham gia

Một trong các chủ thể không thể thiếu để tạo ra môi trường cạnh tranh “sân chơi đầu tư và tăng trưởng” là chính quyền địa phương Đây chính là chủ thể then chốt để giải quyết bài toán lớn của tỉnh thông qua chế vận hành hai chính sách tài khóa và tiền tệ Sự thông thoáng hay tháo gỡ một số nút thắt về cơ chế vận hành của hai chính sách tiền tệ và tài khóa sẽ là động lực chính tăng trưởng và phát triển của tỉnh theo một lối đi riêng Chẳng hạn như, việc chính sách ưu đãi đầu tư của tỉnh về

sự cắt giảm nguồn thu ngân sách tại thời điểm hiện tại (Tt) và đánh đổi lại để có sự kích thích đầu tư sản xuất của nhiều doanh nghiệp khác vào tỉnh Bến Tre, từ đó nguồn thu ngân sách sẽ nhiều hơn vào thời điểm tương lai (Tt+k) so với thời điểm hiện tại (Tt) Thực thi chính sách này đều đem lại lợi ích kinh tế cho cả hai phía: cơ quan quản lý của tỉnh và doanh nghiệp muốn đầu tư vào tỉnh

Việc đánh giá vị thế năng lực cạnh tranh của tỉnh Bến Tre so với các tỉnh khác trong khu vực phía Nam trong bài viết này chỉ dừng lại một số nội dung trong

đề án tạo ra môi trường cạnh tranh “sân chơi đầu tư và tăng trưởng” như sau: vấn đề thứ nhất là khía cạnh so sánh năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) thông qua năng lực thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào tỉnh giai đoạn 2005-20144 và vấn đề thứ hai là khía cạnh năng lực về quy mô sản xuất của các doanh nghiệp đang hoạt động tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2012-20145 Kết quả phân tích và đánh giá sẽ được tác giả trình bày ở phần tiếp theo

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết này trình bày việc định hướng cơ chế vận hành chính sách tài khóa và tiền tệ phù hợp vĩ mô nhằm hình thành môi trường cạnh tranh “sân chơi đầu tư và tăng trưởng” thông qua một số nội dung:

2.1 Mục tiêu thứ nhất là thu hút vốn đầu tư:

Qua bản dự thảo Chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020, để đạt được mục tiêu tăng đầu tư (cả về vốn lẫn số lượng doanh nghiệp) từ tỷ lệ doanh nghiệp từ nhỏ lên vừa, từ vừa lên lớn từ 2,3% năm

2015 lên 7,5% vào năm 2020, thì tốc độ tăng bình quân của các doanh nghiệp tại tỉnh Bến Tre vẫn chưa đáp ứng mục tiêu trên Do đó, để hoàn thành tốt mục tiêu này thì tỉnh Bến Tre cần có một chính sách thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài để đáp ứng chỉ tiêu trên Do đó, chương trình nghiên cứu đề xuất 02 mục tiêu cụ thể trong việc thu hút vốn đầu tư như sau:

4 Tại thời điểm phân tích, niên giám thống kê 2015 của Tổng Cục thống kê Việt Nam chưa công bố do đó việc đánh giá chỉ dừng lại tới năm 2014 Nguồn số liệu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và nguồn số liệu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI từ Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO)

5 Nguồn số liệu báo cáo tài chính doanh nghiệp từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bến Tre cung cấp

Trang 4

(1) So sánh vị thế của tỉnh Bến Tre và 18 tỉnh khu vực phía Nam trong

việc thu hút vốn đầu tư (đánh giá lợi thế về vị trí đầu tư): Với cơ sở hạ tầng giao

thông của tỉnh Bến Tre với các tỉnh lận cận, vị thế của tỉnh Bến Tre đã có một bước ngoặc mới trong việc thu hút vốn đầu tư vào tỉnh làm đầu tàu trong việc chuyển đổi nền kinh tế địa phương, chẳng hạn như từ đầu năm đến 15/5/2016, toàn tỉnh có thêm 124 doanh nghiệp mới được thành lập, tăng 27% so cùng kỳ, vốn đăng ký ban đầu tăng 65,5% so cùng kỳ (với 676,3 tỷ đồng); lũy kế toàn tỉnh hiện có 2.996 doanh nghiệp ở trạng thái hoạt động với tổng vốn đăng ký 16.326 tỷ đồng; toàn tỉnh hiện có 48.000 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động trên các lĩnh vực; 48 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 614,15 triệu USD; 137 dự án đầu tư trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 14.864,5 tỷ đồng Tuy nhiên, cần so sánh vị thế trong việc thu hút vốn của Bến Tre so với 18 tỉnh trong khu vực phía Nam nhằm tìm hiểu điểm mạnh, điểm yếu về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bến Tre so với 18 tỉnh khác trong việc thu hút vốn đầu tư (I)

(2) Chính sách ưu đãi đầu tư vào tỉnh Bến Tre (đánh giá lợi thế cắt giảm

chi phí vốn và sự thông thoáng chính sách đầu tư): Sự thông thoáng của chính

sách đầu tư phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Yếu tố 1: Thu hút vốn đầu tư (I) được thể hiện qua việc cắt giảm chi phí vốn

(R), chẳng hạn như giảm chi phí vốn trực tiếp (kết nối hạ tầng của doanh nghiệp với địa phương: điện, nước, đường xá, v.v…); giảm chi phí gián tiếp về tiếp cận nguồn lực (chi phí cơ hội về thời gian trong việc giải quyết thủ tục đầu tư và tiếp cận đất đai của doanh nghiệp; nguồn lao động đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp)

Hình 2 Mối quan giảm chi phí vốn và lượng đầu tư

Yếu tố 2: Thu hút vốn đầu tư (I) được thể hiện qua việc cải thiện môi trường

đầu tư (En): môi trường đầu tư thông thoáng là yếu tố quan trọng trong việc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư với các tỉnh khác trong khu vực (gia nhập thị trường của tỉnh; tiếp cận đất đai của doanh nghiệp; tính minh bạch của tỉnh; chi phí thời gian thực hiện đầu tư; chi phí không chính thức; cạnh tranh bình đẳng của doanh nghiệp vào tỉnh; tính năng động của địa phương; dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; đào tạo lao động của địa phương)

Trang 5

Các chính sách ưu đãi đầu tư trong việc thực hiện cắt giảm chi phí vốn (R)

và cải thiện môi trường đầu tư (En) đều có sự đánh đổi của nó Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê tỉnh Bến Tre năm 2015, vấn đề thâm hụt ngân sách của tỉnh là bài toán nan giải trong việc tính toán hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, và do đó cần nguồn cung tiền từ bên ngoài để kích thích địa phương phát triển Một trong những mục tiêu không kém phần quan trọng là sự đánh đổi nguồn thu ngân sách giữa 02 thời điểm khác nhau: Việc chính sách ưu đãi đầu tư cho thấy rằng sẽ có một sự cắt giảm nguồn thu ngân sách tại thời điểm hiện tại (Tt) và đánh đổi lại để có sự kích thích đầu tư sản xuất của nhiều doanh nghiệp khác vào tỉnh Bến Tre, từ đó nguồn thu ngân sách sẽ nhiều hơn vào thời điểm tương lai (Tt+k) so với thời điểm hiện tại (Tt) Thực thi chính sách này đều đem lại lợi ích kinh tế cho cả hai phía: cơ quan quản lý của tỉnh và doanh nghiệp muốn đầu tư vào tỉnh

2.2 Mục tiêu thứ hai là đánh giá năng lực tài chính của các doanh nghiệp đang hoạt động tại tỉnh Bến Tre:

Trong mục tiêu thứ hai, đứng ở góc độ cơ quan quản lý địa phương thì cần xem xét các vấn đề sau:

(1) Đánh giá chung hiệu quả tài chính thực tế của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc tăng nguồn thu ngân sách nhà nước Vấn đề này rất quan trọng trong việc kích thích doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh Việc thu thuế là vấn đề nhạy cảm đối với doanh nghiệp trong việc tuân thủ nộp thuế của họ (tính đơn giản trong việc kê khai quyết toán thuế đúng với tình hình kinh doanh, nhận thức công bằng trong chi tiêu công của địa phương, chất lượng quản trị công, v.v…) Tuy nhiên, với

số liệu thu thập dựa trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đã nộp thì không thể phân tích sâu về hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên cơ sở hiệu quả tài chính, do đó trong báo cáo này chỉ đưa ra hiệu suất thu thuế thu nhập doanh nghiệp (nguồn tài liệu từ Báo cáo tài chính từ Sở Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh Bến Tre) Trong vấn đề này cần đánh giá 03 tiêu chí cụ thể như sau:

- Đo lường hiệu quả quy mô doanh thu dựa trên vốn hay lao động (tăng trưởng theo quy mô);

- Đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh ROA và hiệu quả tài chính ROE đối với các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính (hiệu quả sử dụng vốn vay);

- Đo lường hiệu suất thu thuế thu nhập doanh nghiệp

(2) So sánh năng lực tài chính của doanh nghiệp tỉnh Bến Tre phân theo quy

mô vốn, ngành nghề kinh doanh ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế địa phương Vấn đề này nhằm xem xét lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành nghề, quy

mô kích thích tăng trưởng kinh tế địa phương Tuy nhiên, với số liệu thu thập dựa trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đã nộp thì không thể phân tích sâu về hành vi năng lực cạnh tranh về hoạt động ảnh hưởng tăng trưởng kinh tế địa phương, mà chỉ dựa vào số liệu thay đổi của một số chỉ số báo cáo tài chính ảnh hưởng đến kết quả đầu ra của doanh nghiệp (chẳng hạn như tốc độ tăng trưởng doanh thu, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, v.v…)

Trang 6

3 Phương pháp đánh giá:

Sử dụng phương pháp định lượng: thống kê mô tả (chỉ số đặc trưng thống kê: trung bình, độ lệch chuẩn, số lớn nhất, số nhỏ nhất, tần số, tần suất) và phân tích hồi quy (tìm hiểu mối quan hệ giữa các biến giải thích ảnh hưởng đến biến phụ thuộc, kiểm định vi phạm mô hình hồi quy) nhằm đánh giá mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Bến Tre

Nguồn tài liệu đánh giá dựa trên:

- Tài liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư cung cấp: Báo cáo tài chính của doanh nghiệp tại tỉnh Bến Tre; cơ sở dữ liệu của các doanh nghiệp đăng ký tại Sở Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh; Niên giám Thống kê của tỉnh Bến Tre năm 2015; và một

số tài liệu liên quan đến Chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh do Sở Kế hoạch

và Đầu tư cung cấp

- Số liệu các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) từ năm 2005 đến năm 2014; vốn FDI và số

dự án đăng ký từ Tổng cục thống kê từ năm 2005 đến năm 2014 nhằm đánh giá vị thế cạnh tranh của tỉnh Bến Tre so với 18 tỉnh, thành phố tại khu vực phía Nam trong việc thu hút vốn đầu tư FDI

4 Nội dung đánh giá:

4.1 Đánh giá thu hút vốn đầu tư tại tỉnh Bến Tre:

4.1.1 Đánh giá chung thu hút vốn của 19 tỉnh, thành phố tại khu vực phía Nam

a Thống kê mô tả vốn FDI và số dự án đăng ký của doanh nghiệp FDI:

Hiện tại có 19 tỉnh, thành phố thuộc khu vực phía Nam (Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long) gồm (1) An Giang, (2) Bạc Liêu, (3) Bến Tre, (4) Bình Dương, (5) Bình Phước, (6) BRVT, (7) Cà Mau, (8) Cần Thơ, (9) Đồng Nai, (10) Đồng Tháp, (11) Hậu Giang, (12) Kiên Giang, (13) Long An, (14) Sóc Trăng, (15) Tây Ninh, (16) Tiền Giang, (17) Tp.HCM, (18) Trà Vinh và (19) Vĩnh Long

Bảng 1 Vốn đăng ký và số dự án FDI tại khu vực phía Nam giai đoạn 2005-2014

(triệu USD)

Số dự án bình quân

Trang 7

2014 462.205 46.3158 Nguồn: Tổng hợp từ Tổng Cục thống kê giai đoạn 2005-2014

Số liệu Tổng Cục thống kê cho thấy mức vốn đăng ký FDI bình quân tại khu vực phía Nam giai đoạn 2005-2014 đạt 509.1436 triệu USD/năm với mức tăng trưởng vốn đăng ký FDI bình quân 9.52%/năm Hình 4.1 cho thấy dòng vốn đăng

ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam từ năm 2005 đến 2014 có xu hướng thay đổi như sau:

Về xu thế vốn đăng ký FDI địa phương giai đoạn 2005-2014, (1) vốn đăng

ký FDI có xu thế tăng bao gồm các tỉnh: An Giang, Bến Tre, Bình Phước, Đồng

Tháp, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang; (2) vốn đăng ký FDI có xu thế giảm bao gồm các tỉnh: BRVT, Kiên Giang; (3) vốn đăng ký FDI có xu thế không đổi bao gồm các tỉnh còn lại

Hình 3 Xu thế vốn đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam

Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu của GSO

Về mật độ vốn đăng ký FDI địa phương, (1) vốn đăng ký FDI có quy mô lớn tập trung tại khu vực Đông Nam Bộ gồm các tỉnh BRVT, Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM; (2) vốn đăng ký FDI có quy mô nhỏ tập trung tại các tỉnh An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Phước, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long; (3) vốn đăng ký FDI có quy mô vừa gồm các tỉnh còn lại

Hình 4 Mật độ vốn đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam

AnGiang BRVT BacLieu BenTre BinhDuong

BinhPhuoc CaMau CanTho DongNai DongThap

HauGiang KienGiang LongAn SocTrang TayNinh

TienGiang Tp.HCM TraVinh VinhLong

nam

Graphs by tentinh

Trang 8

Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu của GSO

Số dự án bình quân giai đoạn 2005-2014 đạt 38.2 dự án với tỷ lệ tăng bình quân 3.25%/năm Sự biến động về số dự án đăng ký cũng có sự khác biệt giữa các tỉnh tại khu vực phía Nam:

Về xu thế số dự án đăng ký FDI giai đoạn 2005-2014, (1) các tỉnh có xu thế tăng gồm An Giang, Bến Tre, Bình Phước, Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, TP.HCM, Vĩnh Long; (2) các tỉnh còn lại ít có sự biến động về số dự án đăng ký

Hình 5 Xu thế số dự án đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam

Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu của GSO

Về mật độ số dự án đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam, chỉ số các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM có sự biến động khá rõ nét

HauGiang KienGiang LongAn SocTrang TayNinh

TienGiang Tp.HCM TraVinh VinhLong

95% CI predicted lnNOP

nam

Graphs by tentinh

Trang 9

Hình 5 Mật độ số dự án đăng ký FDI địa phương tại khu vực phía Nam

Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu của GSO

Xét về mối quan hệ giữa chỉ số năng lực cạnh tranh PCI và vốn, số dự án đăng ký FDI thì cho thấy tỉnh Bình Dương chú trọng nhiều về năng lực cạnh tranh

và môi trường đầu tư so với các tỉnh còn tại khu vực phía Nam

Hình 6 Mối tương quan chỉ số PCI và vốn, số dự án đăng ký FDI

b Đo lường các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) với thu hút vốn FDI:

Bảng 1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

phương

từ năm 2005 đến năm 2014

và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

từ năm 2005 đến năm 2014

TayNinh

TayNinh TayNinh

BinhDuong BinhDuong BinhDuong

BinhDuong BinhDuong

DongNai DongNai DongNai DongNai DongNai DongNai

BRVT

BRVT BRVT

BRVT

BRVT

BRVT BRVT Tp.HCM Tp.HCM Tp.HCM Tp.HCM

Tp.HCM

Tp.HCM LongAn LongAn LongAn LongAn

LongAn LongAn LongAn LongAn LongAn

TienGiang TienGiang

TienGiang TienGiang

TienGiang TienGiang TienGiang TienGiang

BenTre

BenTre BenTre

BenTre

TraVinh TraVinh TraVinh TraVinh TraVinh

TraVinh TraVinh

VinhLong

VinhLong VinhLong VinhLong VinhLong VinhLong

VinhLong

DongThap

DongThap DongThap DongThap

AnGiang

AnGiang AnGiang

AnGiang AnGiang

AnGiang AnGiang KienGiang KienGiang KienGiang KienGiang

KienGiang KienGiang KienGiang

CanTho

CanTho CanTho

CanTho CanTho CanTho

CanTho CanTho

CanTho HauGiang HauGiang

HauGiang HauGiang

HauGiang

HauGiang HauGiang

HauGiang

SocTrang

SocTrang SocTrang SocTrang

SocTrang SocTrang

BacLieu BacLieu BacLieu

BacLieu

BacLieu BacLieu

BacLieu

BacLieu CaMau

CaMau CaMau

CaMau CaMau

BinhDuong BinhDuong BinhDuong

BinhDuong BinhDuong BinhDuong BinhDuong

BinhDuong BinhDuong

DongNai DongNai DongNai DongNai

DongNai DongNai DongNai DongNai

BRVT BRVT BRVT

BRVT BRVT

BRVT

BRVT BRVT

BRVT

Tp.HCM Tp.HCM

Tp.HCM Tp.HCM Tp.HCM Tp.HCM

LongAn LongAn

LongAn

LongAn LongAn LongAn

LongAn

TienGiang TienGiang

TienGiang TienGiang

TienGiang TienGiang TienGiang

BenTre

BenTre BenTre

BenTre BenTre

BenTre

BenTre

TraVinh TraVinh

TraVinh TraVinh

TraVinh TraVinh TraVinh

TraVinh TraVinh VinhLong

VinhLong VinhLong

AnGiang AnGiang

KienGiang

KienGiang KienGiang

KienGiang

KienGiang

KienGiang

KienGiang CanTho

CanTho CanTho CanTho CanTho CanTho

HauGiang HauGiang HauGiang

HauGiang HauGiang HauGiang

HauGiang HauGiang

SocTrang SocTrang

SocTrangSocTrang SocTrangSocTrang BacLieu BacLieu

Trang 10

Biến Chỉ số đo lường Ký hiệu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Về thống kê mô tả các chỉ số thành phần về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Trong 09 chỉ số thành phần của PCI thì chỉ số đào tạo lao động (daotao) có mức điểm bình quân thấp nhất 4.68014 điểm và chỉ số gia nhập thị trường (gianhap)

có mức điểm bình quân cao nhất 7.711697 điểm

Bảng 2 Thống kê các chỉ số đặc trưng

Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu của VCCI Qua kết quả bảng 3 về kiểm định mối tương quan cặp biến giữa lnFDI, lnNOP với 09 chỉ số thành phần PCI cho thấy chỉ số tính minh bạch (minhbach), hỗ trợ doanh nghiệp (hotro), đào tạo lao động (daotao) có mối tương quan đồng biến với biến vốn đăng ký FDI (lnFDI), số dự án đăng ký (lnNOP); và chỉ số tiếp cận đất

Trang 11

đai (tiepcandd) có quan hệ nghịch biến vốn đăng ký FDI (lnFDI), số dự án đăng ký (lnNOP) tại mức ý nghĩa thống kê 5%

Bảng 3 Kiểm định mối tương quan giữa 09 chỉ số thành phần PCI và FDI

Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu của VCCI và GSO

Tuy nhiên, khi tách khu vực phía Nam thành 02 vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL cho thấy mối tương quan có sự khác biệt giữa hai vùng này

Bảng 4 Mối tương quan giữa 09 chỉ số thành phần PCI và FDI phân theo vùng

Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu của VCCI và GSO Qua kết quả bảng 4 cho thấy rằng, tại mức ý nghĩa thống kê 5%:

Trang 12

(1) Tại vùng Đông Nam Bộ, các chỉ số có mối tương quan với vốn đăng ký FDI (lnFDI) gồm: tính minh bạch (minhbach+), chi phí thời gian (thoigian+), hỗ trợ doanh nghiệp (hotro+), đào tạo lao động (daotao+

) và tiếp cận đất đai (tiepcandd-) các chỉ số có mối tương quan với số dự án đăng ký FDI (lnNOP) gồm: tính minh bạch (minhbach+), hỗ trợ doanh nghiệp (hotro+), đào tạo lao động (daotao+) và tiếp cận đất đai (tiepcandd-);

(2) Tại vùng ĐBSCL, các chỉ số có mối tương quan với vốn đăng ký FDI (lnFDI) gồm: đào tạo lao động (daotao+) và thiết chế pháp lý (phaply+) Không có chỉ số nào có mối tương quan với số dự án đăng ký FDI (lnNOP)

c Phân tích hồi quy về thu hút vốn FDI khu vực phía Nam:

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy với dữ liệu bảng (panel data): phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) với dữ liệu gộp (pooled data), hiệu ứng cố định (FE) và hiệu ứng ngẫu nhiên (RE) Đối với dạng dữ liệu bảng hỗn hợp (panel data) thì OLS không phải là một lựa chọn hợp lý vì phương pháp này là phương pháp ước lượng đơn giản nhất và trong trường hợp này OLS có thể làm cho các hệ số ước lượng không vững hoặc bị chệch

và khả năng kiểm tra ý nghĩa thống kê không còn chính xác Mặc dù, phương pháp

FE là phương pháp ước lượng tương đối tốt để đánh giá tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc, nhưng FE lại không thể ước lượng được hệ số cho các biến

có giá trị cố định theo thời gian như khoảng cách giữa các nước hoặc có chung đường biên giới mà đây lại là các biến quan trọng trong mô hình lực hấp dẫn RE có thể ước lượng được hệ số của các biến có giá trị cố định theo thời gian nhưng lại không thể cho kết quả tốt nếu các mẫu lựa chọn trong mô hình không đồng nhất Để kết hợp ưu điểm của cả 2 phương pháp FE và RE, Hausman và Taylor (1981) đã đề xuất một phương pháp ước lượng mới của Hausman–Taylor Một vài kiểm định của các tác giả như Mcpherson và Trumbull (2003), Egger (2005) đã chỉ ra rằng kết quả ước lượng dùng phương pháp Hausman–Taylor ít nhất là phù hợp với 2 phương pháp FE, RE thường là tốt và đáng tin cậy hơn Với cách tiếp cận đó, tác giả sẽ dùng phương pháp ước lượng Hausman–Taylor cho phân tích thực nghiệm trong nghiên cứu này

Kết quả hồi quy cho thấy việc lựa chọn phương pháp FE và RE đều phù hợp với mô hình nghiên cứu dữ liệu bảng 2005-2014 đo lường 09 chỉ số thành phần PCI tác động đến khả năng thu hút dòng vốn FDI: (1) Biến phụ thuộc vốn đăng ký FDI địa phương (lnFDI): chỉ số chính sách đào tạo lao động (daotao) có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc lnFDI

Bảng 5 Kiểm định giả thuyết 09 chỉ số thành PCI tác động đến FDI

Ngày đăng: 01/01/2017, 21:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w