Bàn luận về thực trạng phát triển các môn thể thao dân tộc hiện nay của sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc .... 1.1 Số liệu thống kê các kỳ Hội khoẻ Phù 3.1 Số lượ
Trang 1NGUYỄN ĐỨC THỤY
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔN THỂ THAO DÂN TỘC
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Trang 2nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Nguyễn Đức Thụy
Trang 3
11 TDÁKXDÁSVH : Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Quan điểm của Áảng và Nhà nước về TDTT và nâng cao chất lượng GDTC 6
1.2 Giáo dục thể chất trong các trường đại học ở Việt Nam 10
1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng giáo dục thể chất 12
1.2.2 Lý thuyết (kiến thức về giáo dục thể chất) 12
1.2.3 Kỹ năng thực hành 13
1.2.4 Các chỉ tiêu thể lực 14
1.3 Chủ trương của Áảng và Nhà nước về phát triển các môn thể thao dân tộc 15
1.4 Áặc điểm, vai trò và xu thế phát triển các môn thể thao dân tộc 23
1.4.1 Khái niệm về trò chơi vận động dân gian và thể thao dân tộc 23
1.4.2 Áặc điểm của thể thao dân tộc 24
1.4.3 Vai trò của các hoạt động thể thao dân tộc 26
1.4.4 Phân loại các hoạt động thể thao dân tộc ở Việt Nam 27
1.4.5 Những nguyên tắc phát triển các môn thể thao dân tộc 30
1.4.6 Xu thế phát triển các hoạt động thể thao dân tộc hiện nay 34
1.5 Thể thao dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc 38
1.6 Cơ sở lý luận về giải pháp quản lý 43
1.7 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến các môn thể thao dân tộc 45
1.7.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 45
1.7.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 48
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 58
Trang 52.1.2 Phương pháp phỏng vấn 58
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm 59
2.1.4 Phương pháp điều tra xã hội học 59
2.1.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm 60
2.1.6 Phương pháp kiểm chứng giải pháp 63
2.1.7 Phương pháp toán học thống kê 64
2.2 Tổ chức nghiên cứu 65
2.2.1 Áối tượng nghiên cứu 65
2.2.2 Khách thể nghiên cứu 65
2.2.3 Áịa điểm nghiên cứu 66
2.2.4 Cơ quan phối hợp nghiên cứu 66
2.2.5 Kế hoạch và thời gian nghiên cứu 66
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 68
3.1 Thực trạng hoạt động thể thao dân tộc trong các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc 68
3.1.1 Thực trạng hoạt động thể thao dân tộc trong các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc 68
3.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển các môn thể thao dân tộc trong các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc 82
3.1.3 Thực trạng thể lực của sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc 84
3.1.4 Bàn luận về thực trạng phát triển các môn thể thao dân tộc hiện nay của sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc 87
3.2 Lựa chọn và ứng dụng giải pháp phát triển các môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc 93
3.2.1 Cơ sở lựa chọn giải pháp phát triển các môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc 93
Trang 63.2.3 Áánh giá hiệu quả các giải pháp phát triển các môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc đã
ứng dụng trong thực tiễn 111
3.2.4 Bàn luận về các giải pháp phát triển các môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc 116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 124
THAM KHẢO 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 PHỤ LỤC
Trang 71.1 Số liệu thống kê các kỳ Hội khoẻ Phù
3.1 Số lượng các thể thao dân tộc ở các tỉnh
3.2
Kết quả phỏng vấn về sự cần thiết phát triển môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
72
3.3
Kết quả phỏng vấn về vai trò và ý nghĩa của việc phát triển môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
73
3.4
Kết quả phỏng vấn về hình thức tổ chức tập luyện, thi đấu các môn thể thao dân tộc cho sinh viên
74
3.5
Kết quả phỏng vấn những khó khăn trong việc phát triển các môn thể thao dân tộc cho sinh viên
Sau 78
Trang 8thể thao dân tộc
3.10 Kết quả điều tra những yếu tố hạn chế tham
gia tập luyện ngoại khoá của sinh viên 80
3.11 Thời điểm tập luyện TDTT ngoại khóa
3.12
Kết quả điều tra thực trạng sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc tham gia tập luyện các môn thể thao dân tộc
Sau 81
3.13
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển các môn thể thao dân tộc trong các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
83
3.14
Thực trạng thể lực chung của nam sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
Sau 84
3.15
Thực trạng thể lực chung của nữ sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
Sau 84
3.16
Kết quả xếp loại thể lực của sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
Sau 85
3.17
Kết quả xếp loại thể lực của sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
86
Trang 9thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
3.19
Kết quả phỏng vấn sinh viên về các giải pháp sử dụng để phát triển môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
101
3.20a
Kết quả kiểm chứng giải pháp nâng cao nhận thức về vai trò, giá trị văn hoá của các môn thể thao dân tộc cho sinh viên, cán bộ quản lý và giáo viên
Sau 112
3.20b
Kết quả kiểm chứng giải pháp nâng cao nhận thức về vai trò, giá trị văn hoá của các môn thể thao dân tộc cho sinh, viên cán bộ quản lý và giáo viên
Sau 112
3.21
Kết quả kiểm chứng giải pháp tăng cường phổ biến các môn thể thao dân tộc cho sinh viên
Sau 112
3.22
Kết quả kiểm chứng giải pháp đầu tư cơ sở vật chất cho phát triển các môn thể thao dân tộc
Sau 112
3.23 Kết quả kiểm chứng giải pháp tổ chức các
giải thi đấu thể thao dân tộc cho sinh viên Sau 112
3.24
Kết quả kiểm chứng giải pháp mở các lớp bồi dưỡng kiến thức thể thao dân tộc cho giảng viên và sinh viên
Sau 112
Trang 10GDTC trong các giờ chính khoá
3.26 Kết quả kiểm chứng giải pháp mở các
câu lạc bộ thể thao dân tộc cho sinh viên Sau 112
3.27
Kết quả kiểm chứng giải pháp tổ chức hoạt động ngoại khoá các môn thể thao dân tộc cho sinh viên
Sau 112
3.28
Kết quả xếp loại thể lực của sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc trước và sau kiểm chứng giải pháp
Sau 115
3.1 Số lượng đối tượng phỏng vấn là sinh
viên các dân tộc miền núi phía Bắc 70
3.2 Trình độ của đối tượng phỏng vấn là
3.3 Trình độ của đối tượng phỏng vấn là cán
3.4 Nhịp tăng trưởng thể lực chung của nam
sinh viên sau kiểm chứng giải pháp Sau 115 Biểu đồ
3.5 Nhịp tăng trưởng thể lực chung của nữ
sinh viên sau kiểm chứng giải pháp Sau 115
Trang 11MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, TDTT đã lớn mạnh không ngừng, một mặt nhờ được đầu tư lớn hơn của Nhà nước, mặt khác xã hội hoá TDTT đã từng bước hình thành và phát triển, đã đem lại kết quả quan trọng, đó là huy động được sức mạnh của toàn xã hội chăm lo công tác TDTT, góp phần làm cho TDTT ngày càng có tính quần chúng rộng rãi, trình độ được nâng cao Áảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng nhận thức đầy đủ
và sâu sắc hơn về tầm quan trọng của công tác TDTT trường học – một bộ phận cơ bản của nền TDTT nước ta Quan tâm lãnh đạo công tác TDTT trường học có ý nghĩa chiến lược to lớn, một mặt nhằm thúc đẩy GDTC, nâng cao sức khoẻ, thể lực, đời sống văn hoá tinh thần cho sinh viên, mặt khác nhằm góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, phát triển tài năng thể thao cho đất nước
Tuy nhiên, trong những năm qua lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta vẫn còn nhiều hạn chế và yếu kém Áiều này đã được chỉ rõ trong Nghị quyết Áại hội Áại biểu toàn quốc lần thứ XI của Áảng Cộng sản Việt Nam [18] Chính vì vậy, Áảng ta đã xác định cần phải có những đổi mới trong lĩnh vực giáo dục và nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, để tạo ra đội ngũ trí thức, lao động đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) [20] về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế với mục tiêu là:
"Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân " Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Chương trình hành động với mục đích xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu để Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch
Trang 12hành động, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 29 nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phấn đấu đến năm 2030 nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực [43]
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực [43]
Giáo dục thể chất trong các trường đại học và cao đẳng là bộ phận hữu
cơ của mục tiêu giáo dục đào tạo, đồng thời là một mặt cho giáo dục toàn diện thế hệ trẻ Áó là lớp người “phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” [13]
Trước những yêu cầu đổi mới trong ngành giáo dục để phù hợp với xu thế phát triển mạnh mẽ của kinh tế xã hội nói chung và khoa học giáo dục nói riêng, đáp ứng mục tiêu phát triển GDTC sinh viên, thực hiện mục tiêu đã ghi trong luật giáo dục là đào tạo người làm công tác chuyên môn có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức, ý thức phục vụ nhân dân, có sức khoẻ, có kiến thức thực hành nghề nghiệp tương ứng với trình độ đào tạo đáp ứng yêu
cầu của xã hội, mục đích GDTC của nước ta là: Bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành
những người phát triển toàn diện, có sức khoẻ dồi dào, thể chất cường tráng,
có dũng khí kiên cường để kế tục sự nghiệp cách mạng của Áảng một cách
đắc lực và sống một cuộc sống vui tươi lành mạnh
Khu vực miền núi phía Bắc bao gồm 14 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang ,Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ, Bắc Giang, Hòa Bình, Sơn La, Áiện Biên, Lai Châu Trung tâm của khu vực miền núi phía Bắc được xác định là thành phố Thái Nguyên
Trang 13Trong khu vực này hiện có 53 trường đại học, cao đẳng với 127.560 sinh viên Chỉ tính riêng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có tới 46 dân tộc trên tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam sinh sống, trong đó 8 dân tộc đông dân nhất là: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, H’Mông, Hoa Chính vì vậy, tiềm năng phát triển các môn thể thao dân tộc ở khu vực miền núi phía Bắc là rất lớn, đặc biệt là trong các trường đại học, cao đẳng
Các môn thể thao dân tộc được tổ chức thi đấu trong các lễ hội, Hội thi Thể thao Văn hoá các dân tộc góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống Những môn thể thao như: Ném còn, Kéo co, Áẩy gậy, Ái cà kheo, Áua thuyền, Áánh quay, Bắn nỏ, Chạy vượt đồi núi, Vật… được liệt vào kho tàng các trò chơi dân gian Việt Nam thường được tái hiện ở lễ hội
Sự hấp dẫn của các môn thể thao dân tộc đã thu hút được đông đảo mọi người tham gia và nhiều lễ hội đã trở thành nơi để các môn thể thao dân tộc được lưu giữ, phát huy, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân
Nếu có sự quan tâm thích đáng, các môn thể thao dân tộc có thể sẽ phát triển thành một phong trào rèn luyện sức khoẻ rộng rãi trong cộng đồng các dân tộc và làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân
Hàng năm các tỉnh miền núi được Vụ thể thao quần chúng tổ chức thi đấu giao lưu các môn thể thao dân tộc nhằm tăng cường tinh thần đoàn kết, giữ gìn nét đẹp văn hoá và phát triển các môn thể thao truyền thống như: Bắn
nỏ, Kéo co, Ném còn, Áá cầu, Áẩy gậy… tạo tiền đề cho việc đưa các môn thể thao dân tộc phát triển trong khu vực và thế giới
Phát triển các môn thể thao dân tộc trong khối sinh viên đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc còn có tác dụng rèn luyện thể lực, phát triển thể chất cho sinh viên, tạo môi trường hoạt động thể thao lành mạnh, góp phần tạo tạo con người phát triển toàn diện phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 14Qua khảo sát sơ bộ các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc cho thấy, môn GDTC là một trong những môn học được các nhà trường đặc biệt quan tâm chú trọng tạo điều kiện Song do nhiều yếu tố và nguyên nhân khác nhau nên thể chất của sinh viên trong trường còn nhiều hạn chế về tầm vóc và thể lực Các trường đều triển khai thực hiện chương trình GDTC của Bộ quy định nhưng chất lượng giảng dạy còn thấp, phương pháp và nội dung còn nghèo nàn đơn điệu chưa lôi cuốn được sinh viên tự giác luyện tập ngoại khóa
Áối với sinh viên Cao đẳng với 2 tiết học chính khoá (90 phút) trong 1 tuần (60 tiết học trong 1 năm), trong 3 năm học sinh viên chuyên nghiệp chỉ được học 3 học kỳ (90) giờ học TDTT chính khoá Kỳ 4, 5, 6 sinh viên không phải học TDTT, do đó đa số sinh viên không tiếp tục tập luyện TDTT dẫn đến thể lực sinh viên giảm sút rõ rệt Mặt khác, đảm bảo được 2 giờ trong tuần thì lượng vận động cho sinh viên vẫn thiếu, nhất là đối với các sinh viên thành thị
vì các em không phải tham gia lao động chân tay Chính vì vậy, nảy sinh nhu cầu tăng cường lượng vận động thể lực cho sinh viên của trường Áã có nhiều
ý kiến cho rằng: Cần tăng cường các hoạt động TDTT ngoại khóa để nâng cao thể lực cho sinh viên, các hoạt động TDTT ngoại khóa bao gồm: Các môn thể thao Cầu lông, Bóng đá, Bóng Chuyền, Bóng rổ thể dục phát triển chung, trò chơi vận động, đặc biệt là có thể đưa vào các môn thể thao dân tộc
Áối với sinh viên đại học, các môn học trong chương trình GDTC hầu như chỉ diễn ra tương tự, trong 4 học kỳ đầu (năm thứ nhất và thứ hai), còn các học kỳ tiếp theo sinh viên tập luyện TDTT chỉ thông qua hình thức ngoại khoá là chủ yếu Chính vì vậy, nhu cầu tập luyện ngoại khoá của sinh viên là rất lớn, trong đó có nhu cầu tập luyện các môn thể thao dân tộc
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Một số giải pháp phát triển môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc”
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở thực trạng tập luyện TDTT nội khóa
và ngoại khóa thông qua các môn thể thao dân tộc trong các trường đại học,
Trang 15cao đẳng khu vực miền núi phía Bắc, đề tài lựa chọn một số giải pháp phát triển môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc nhằm thu hút đông đảo sinh viên tham gia tập luyện thường xuyên và có chất lượng, nâng cao thể lực cho sinh viên trong quá trình học tập, đồng thời góp phần giữ gìn và phát triển các môn thể thao dân tộc
Nhiệm vụ nghiên cứu: Áể đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề
tài xác định 2 nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ 1 Khảo sát thực trạng phát triển các môn thể thao dân tộc
hiện nay của sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
Nhiệm vụ 2 Lựa chọn và đánh giá hiệu quả các giải pháp phát triển
các môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
Ý nghĩa khoa học: Quá trình nghiên cứu đề tài đã khái quát hệ thống
lý luận về việc phát triển các môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học để hình thành các giải pháp phát triển các môn thể thao dân tộc cho đối tượng nghiên cứu
Ý nghĩa thực tiễn: Áề tài đã đánh giá được thực trạng và các yếu tố
ảnh hưởng đến sự phát triển các môn thể thao dân tộc hiện nay của sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc Qua đó, đề xuất được 8 giải pháp cơ bản và khả thi trong việc phát triển phong trào thể thao dân tộc trong các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc
Giả thuyết khoa học: Áề tài đặt giả thuyết, một trong những nguyên
nhân cơ bản làm hạn chế hiệu quả phát triển các môn thể thao dân tộc trong sinh viên các trường đại học, cao đẳng khu vực miền núi phía Bắc là chưa có những giải pháp phù hợp Nếu lựa chọn được những giải pháp khoa học mang tính khả thi sẽ có tác dụng nâng cao nhận thức về giá trị và vai trò của việc giữ gìn và phát triển các môn thể thao dân tộc, thu hút đông đảo sinh viên tham gia tập luyện, đồng thời phát triển thể lực cho sinh viên
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về TDTT và nâng cao chất lượng GDTC
Bác Hồ là nhà lãnh tụ vĩ đại kính yêu của dân tộc Việt Nam và là một nhà tư tưởng lớn - là danh nhân văn hóa thế giới Sinh thời Bác rất quan tâm đến hoạt động TDTT Tư tưởng của Người bao trùm trong việc đặt nền tảng xây dựng TDTT của nước nhà, là sự khẳng định có tính chất cách mạng của công tác TDTT, là nhu cầu khách quan của một xã hội phát triển, là nghĩa vụ của mọi người dân yêu nước Mục tiêu cao đẹp của TDTT
là bảo vệ, tăng cường thể chất của nhân dân, góp phần cải tạo giống nòi, làm cho dân cường, nước thịnh Những ý tưởng này xuyên suốt trong các văn kiện của Áảng [118]
Giáo dục thể chất là một bổn phận của nền TDTT nước nhà GDTC là một nội dung, biện pháp quan trọng góp phần đào tạo thanh, thiếu niên Việt Nam phát triển hài hoà về trí tuệ và thể chất, tinh thần và đạo đức, đồng thời xây dựng nhà trường thành những cơ sở phong trào TDTT quần chúng của học sinh, sinh viên
Nhận thức một cách đầy đủ về ý nghĩa, vị trí, vai trò của GDTC đối với mục tiêu chung của giáo dục và đào tạo, Áảng ta đã lãnh đạo, chỉ đạo một cách sáng tạo công tác TDTT nói chung, GDTC nói riêng phù hợp với từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam Cùng với sự phát triển của đất nước, GDTC ngày một phát triển phục vụ tốt cho mục tiêu chung của giáo dục và đào tạo
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 về tăng cường sự lãnh đạo của đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 có đưa ra mục tiêu: "Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ TDTT; tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững
Trang 17chắc sự nghiệp TDTT; đến năm 2020, phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn RLTT; các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp có đủ
cơ sở vật chất TDTT phục vụ việc tập luyện của nhân dân " [19]
Nghị Quyết cũng chỉ rõ nhiệm vụ: "Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học" Áồng thời xác định TDTT trường học là bộ phận quan trọng của phong trào TDTT, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên, cần được quan tâm đầu tư đúng mức
Xây dựng và thực hiện “Áề án tổng thể phát triển GDTC và thể thao trường học” Thực hiện tốt GDTC theo chương trình nội khóa; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinh viên Góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao cho đất nước
Áổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục
ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của học sinh, sinh viên Áãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên GDTC hiện có, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và TDTT trường học
Các chủ trương trên của Áảng và Chính phủ là điều kiện thuận lợi và thời cơ tốt để công tác GDTC cho học sinh, sinh viên đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc đổi mới đất nước
Thông qua các văn kiện của Áảng đối với công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng có thể thấy rõ Áảng ta luôn coi TDTT là một công tác cách mạng như bao công tác cách mạng khác Sự nghiệp TDTT 1à sự nghiệp của toàn Áảng, toàn dân, toàn xã hội, của các cấp, các ngành, coi GDTC là một bộ phận khăng khít của hệ thống giáo dục XHCN
Trang 18ở nước ta GDTC là một trong những phương tiện quan trọng trong đào tạo con người phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (đã ban hành nghị quyết 29/NQ/TW ngày 4/11/2013 về "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" đã nêu rõ nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế [20]
Áảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu
Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
Trên cơ sở đó, Bộ giáo dục và đào tạo triển khai Nghị quyết 29 với quan điểm chỉ đạo [36]:
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Áảng, Nhà nước và của toàn dân Áầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên
đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Trang 19Áổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn
đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Áảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng,
xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Áổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp
Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo
số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu
số lượng
Áổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo
Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào
Trang 20tạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triểngiáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa
và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
để phát triển đất nước
Trên cơ sở chủ chương của Áảng, trong những năm qua, Bộ Giáo dục
và Áào tạo đã không ngừng nghiên cứu cải tiến chương trình GDTC trong nhà trường các cấp, thể hiện tính đa dạng, phong phú dựa trên mục tiêu của GDTC góp phần tạo nên những con người mới phát triển toàn diện “cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Áó là chủ trương kịp thời có ý nghĩa chiến lược của công tác GDTC trong nhà trường và biến những chủ trương của Áảng và Nhà nước thành những hành động cụ thể
1.2 Giáo dục thể chất trong các trường đại học ở Việt Nam
Giáo dục thể chất trong các trường đại học có một vị trí và ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ trí thức mới đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà để thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh" [19]
Mục tiêu của hệ thống GDTC trong các trường đại học là đào tạo các đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội có trình
độ cao, hoàn thiện về thể chất, phát triển hài hoà về mọi mặt, có năng lực hoạt động chuyên môn độc lập, có tư tưởng và đạo đức tác phong xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Áể thực hiện tốt mục tiêu đó, công tác GDTC trong các trường Áại học phải giải quyết đồng thời 4 nhiệm vụ cơ bản là:
Trang 21Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức
tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo
vệ Tổ quốc
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp luyện tập TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện nói trên để tự rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT ở cơ sở
Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể một cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu (uống rượu, hút thuốc ) trong cuộc sống, nhằm sử dụng thời gian vào công việc có ích, đạt hiệu quả tốt trong quá trình học tập, đạt những chỉ tiêu thể lực qui định cho từng đối tượng và năm học trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi
Giáo dục óc thẩm mỹ cho sinh viên và tạo điều kiện để nâng cao trình
độ thể thao của vận động viên sinh viên
Hoạt động TDTT trong các trường đại học là một thành phần quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho sinh viên Áể giải quyết các nhiệm vụ giáo dục của hoạt động TDTT cần quán triệt sự thống nhất của hai mặt:
Thứ nhất: GDTC trong trường đại học là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, là phương tiện quan trọng và có hiệu quả
để phát triển hài hoà, cân đối cơ thể và các tố chất thể lực của sinh viên
Thứ hai: GDTC trong trường đại học là một quá trình sư phạm, nó có tác dụng tích cực đến phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong và thẩm mỹ Nó đóng một vai trò quan trong trong việc hình thành nhân cách cho người cán bộ khoa học tương lai
Trang 221.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá chht lượng giáo dục thể chht
Giáo dục thể chất là một bộ phận cơ bản quan trọng trong hệ thống giáo dục toàn diện của Áảng, nhà Nhà nước ta Xuất phát từ mục tiêu và những hoạt động của mình, cùng với những khái niệm cơ bản của các mặt giáo dục chung, việc đánh giá chất lượng GDTC được xác định bởi khả năng thực hiện được mục đích và nhiệm vụ chương trình theo các nội dung cơ bản sau:
Thời gian tham gia học tập lý thuyết cũng như thực hành theo thời khoá biểu của chương trình
Thực hiện được các bài tập và yêu cầu kiểm tra GDTC theo qui định
1.2.2 Lý thuyết (kiến thức về giáo dục thể chht)
Kiến thức GDTC có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động Theo Nôvicốp A.G và Mátvêép G.P thì: "Kiến thức làm tiền đề cho việc tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động và sử dụng một cách có hiệu quả các năng lực thể chất trong cuộc sống Kiến thức chỉ
rõ ý nghĩa cá nhân và xã hội của việc GDTC cũng như bản chất của việc giáo dục này, các kiến thức cho phép sử dụng các giá trị của TDTT với mục đích tự giáo dục." [68]
Cũng theo 2 tác giả trên thì kiến thức về GDTC giúp cho việc lựa chọn
và sử dụng các bài tập thể chất "Cùng một loại bài tập, có thể mang lại hiệu quả hoàn toàn khác nhau căn cứ vào phương pháp sử dụng bài tập đó" [68]
Theo tiến sĩ khoa học giáo dục Liên Xô Pomomarev (1983) nhận xét: Kiến thức GDTC được xác định bởi những tri thức chung, các hệ thống kỹ năng, kỹ xảo phong phú để điều khiển mọi hoạt động của cơ thể trong không gian và thời gian, biết sử dụng các kỹ năng, kỹ xảo vận động trong mọi điều kiện sống và các hoạt động khác nhau của con người Nhận thức bao hàm những kiến thức lý luận khoa học, nội dung phương pháp tập luyện TDTT theo chương trình qui định nhằm giáo dục cho sinh viên về đạo đức xã hội
Trang 23chủ nghĩa, tinh thần tập thể, tính tự giác trong học tập, sử dụng các bài tập thể chất như là phương pháp GDTC nhằm mục đích rèn luyện thân thể cũng như nâng cao sức khoẻ sẵn sàng lao động và bảo vệ Tổ quốc
Khi xem xét về khuynh hướng hiện đại của GDTC trong các trường Áại học và cách tiếp cận, tác giả Lê Văn Xem đã đề cập tới các vấn đề tăng cường chất lượng GDTC về văn hoá thể chất trong khâu dạy và học TDTT bằng các giải pháp chú trọng hơn về khâu giáo dục nhận thức, hiểu biết và năng lực vận dụng vào thực tiễn hoạt động tự chăm lo sức khoẻ, rèn luyện thể chất hàng ngày [106]
Trên cơ sở những nhận định khoa học lý luận GDTC, chỉ rõ tầm quan trọng của công tác GDTC cho sinh viên, các tác giả: Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Áồng Văn Triệu, Lê Anh Thơ đã đề cập một cách có hệ thống những tri thức cơ bản về lý luận và phương pháp GDTC cho sinh viên các trường Áại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp [82],[84],[85],[88] Dựa trên cơ sở đó, chương trình GDTC đã được cải tiến nhằm giúp cho các giảng viên và sinh viên trong việc dạy và học, cũng như kiểm tra đánh giá chất lượng công tác GDTC trong nhà trường
1.2.3 Kỹ năng thực hành
Trong quá trình học tập, tập luyện các kỹ năng vận động cũng như kỹ xảo vận động được hình thành, là kết quả của quá trình tiếp thu các động tác:
kỹ năng vận động thể hiện tiêu biểu bằng sự tiếp thu kỹ thuật động tác ở mức
độ phải tập trung chú ý cao độ vào các bộ phận tạo thành động tác và ở các cách thức chưa ổn định khi giải quyết nhiệm vụ vận động" [82]
Trong quá trình tập luyện việc lặp đi lặp lại nhiều lần động tác thì các
bộ phận tạo thành động tác đó ngày càng trở nên quen thuộc, các cơ chế phối hợp vận động dần dần được tự động hoá và kỹ năng vận động chuyển thành
kỹ xảo Vì vậy "kỹ xảo vận động thể hiện tiêu biểu bằng sự tiếp thu kỹ thuật động tác ở mức độ sự điều khiển động tác xảy ra một cách tự động và động
Trang 24tác tiến hành với độ vững chắc cao" [84] Như vậy khả năng thực hành được hiểu như ở mức độ đánh giá nhất định (kỹ năng hoặc kỹ xảo) Việc thực hiện các động tác kỹ thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện học tập, trang thiết bị dụng cụ, sân bãi, trình độ của sinh viên, chế độ học tập, nhận thức của sinh viên trong việc chuyển hoá các bài tập thể chất là phương tiện để rèn luyện, củng cố và nâng cao sức khoẻ, phát triển các tố chất thể lực phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành nhiệm vụ học tập và công tác sau này
1.2.4 Các chỉ tiêu thể lực
Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành Quyết định số 53/2008/QÁ-BGDÁT ngày 18/9/2008 [34], quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên (Thay thế Tiêu chuẩn rèn luyện thân thể) Văn bản này áp dụng đối với học sinh, sinh viên của các học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học; Không áp dụng đối với học sinh, sinh viên khuyết tật, tàn tật; học sinh, sinh viên mắc các loại bệnh không thể vận động với cường độ và khối lượng cao, được cơ sở y tế có thẩm quyền từ cấp huyện trở lên xác nhận
Việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên được phân theo lứa tuổi từ 6 tuổi đến 20 tuổi Học sinh, sinh viên từ 21 tuổi trở lên sử dụng các chỉ số đánh giá của lứa tuổi 20
Khi đánh giá xếp loại thể lực học sinh, sinh viên cần dựa trên 6 nội dung, cụ thể là: Lực bóp tay thuận, Nằm ngửa gập bụng 30 giây, Bật xa tại chỗ, Chạy 30 m XPC, Chạy con thoi 4 x 10m, Chạy tuỳ sức 5 phút Mỗi học sinh, sinh viên được đánh giá 4 trong 6 nội dung; trong đó nội dung Bật xa tại chỗ và Chạy tuỳ sức 5 phút là bắt buộc
Xếp loại thể lực theo 3 loại:
Tốt: Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu theo lứa tuổi có 3 chỉ tiêu Tốt và một chỉ tiêu Áạt trở lên
Trang 25Áạt: Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu theo lứa tuổi từ mức Áạt trở lên
Chưa đạt: Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu theo lứa tuổi có 1 chỉ tiêu dưới mức Áạt
1.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển các môn thể thao dân tộc
Luật TDTT của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 số 77/2006/QH11, ngày 29 tháng 11 năm 2006 có qui định tại một số điều luật liên quan đến các môn thể thao dân tộc, cụ thể là [70]:
Chính sách của Nhà nước về phát triển TDTT có quy định: "Ưu tiên đầu tư phát triển TDTT ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc (Áiều 4);
Qui định về các môn thể thao dân tộc được thể hiện cụ thể như sau (Áiều 17):
Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy các môn thể thao dân tộc theo quy định của Luật di sản văn hoá và luật này khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia khai thác và phát triển các môn thể thao dân tộc, chú trọng các loại hình thể thao của các dân tộc thiểu số
Cơ quan quản l ý nhà nước về TDTT có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn tập luyện, biểu diễn và thi đấu các môn thể thao dân tộc; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan phổ biến các môn thể thao dân tộc ra nước ngoài
Nội dung hợp tác quốc tế về thể thao có quy định về việc "Giao lưu, giới thiệu các môn thể thao dân tộc" (Áiều 75)
Luật TDTT được Quốc hội khóa XI chính thức thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm 2006 là văn bản pháp lý quan trọng đối với công tác quản lý TDTT trong thời kỳ đổi mới, tạo hành lang pháp lý cho TDTT Việt Nam phát triển đúng định hướng: vì sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 26Thực hiện đường lối của Áảng ta về phát triển công TDTT trong thời
kỳ đổi mới, “xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi Tăng cường thể lực của thanh niên Phát triển mạnh TDTT, kết hợp thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại " (Văn kiện Áại hội Áại biểu toàn quốc lần thứ X của Áảng Cộng sản Việt Nam) [17]
Thể dục thể thao là một trong 3 lĩnh vực do Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch chịu trách nhiệm quản lý Vì vậy, Chiến lược phát triển TDTT đến năm 2020 được hình thành trong tổng thể phát triển hài hòa cùng với các lĩnh vực văn hóa và du lịch… nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy nhau,
hỗ trợ nhau cùng phát triển, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, mà TDTT đóng vai trò chủ đạo đối với sự nghiệp bảo vệ, nâng cao sức khỏe, tạo dựng nhân cách và lối sống lành mạnh của các thế hệ người Việt Nam [46]
Trong nhiệm vụ phát triển TDTT quần chúng đã xác định phải "Ban hành và hướng dẫn thực hiện quy chế về tổ chức thi đấu, lễ hội thể thao, công tác phong danh hiệu, thể thao dân tộc và thể thao giải trí; xây dựng và ban hành hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu về phát triển TDTT quần chúng:
Thành lập, hướng dẫn và hỗ trợ hoạt động đối với các Hội đồng TDTT, câu lạc bộ TDTT ở cấp xã;
Duy trì và hoàn thiện hệ thống thi đấu thể thao cho mọi người chu kỳ hàng năm, hai năm hoặc bốn năm…;
Ban hành chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển TDTT đối với các đối tượng xã hội đặc biệt, đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi, người khuyết tật
Tiếp tục hỗ trợ đầu tư và ban hành các chính sách khuyến khích huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển TDTT quần chúng
Trang 27Khuyến khích phát triển thể thao giải trí, kinh doanh dịch vụ thể thao gắn với hoạt động văn hóa, du lịch
Ban hành các quy chuẩn về quy hoạch đất đai cho TDTT; tăng cường đầu tư xây dựng các sân chơi bãi tập, công trình thể thao trong quần thể trung tâm văn hóa - thể thao cấp xã, cụm, thôn, bản
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hướng dẫn viên TDTT quần chúng; chú trọng tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cộng tác viên TDTT cấp xã và thôn, làng, bản
Áẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền cơ sở và các cán bộ ngành TDTT
về vai trò của hoạt động TDTT, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Xây dựng mô hình điểm về cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động TDTT tại các thôn, bản và xã; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển TDTT ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Áưa công tác sưu tầm, thống kê phân loại các trò chơi vận động dân gian trong các lễ hội truyền thống hàng năm của các dân tộc thiểu số thành một nội dung của nhiệm vụ sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam; lựa chọn một số trò chơi vận động dân gian
để đề xuất đưa vào thi đấu trong hệ thống thi giải thao quốc gia; chú trọng bảo tồn và phát triển các môn võ cổ truyền dân tộc
Ban hành và hướng dẫn thực hiện quy chế hoạt động của các câu lạc bộ TDTT người khuyết tật; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ huấn luyện viên, hướng dẫn viên, cộng tác viên TDTT người khuyết tật Ban hành bổ sung các điều kiện đáp ứng nhu cầu tập luyện TDTT của người khuyết tật trong quy chuẩn xây dựng cơ sở tập luyện, sân bãi thể thao; thí điểm xây dựng ở một số tỉnh, thành phố các trung tâm huấn luyện thể thao cho người khuyết tật
Trang 28Về các giải pháp thực hiện Chiến lược TDTT giai đoạn từ 2010 - 2015
đã xác định trọng tâm thực hiện trong giai đoạn này là:
Ban hành Quyết định phê duyệt Chương trình nâng cao thể lực và tầm vóc người Việt Nam và triển khai giai đoạn đầu để tạo chuyển biến tích cực cho giáo dục thể chất và thể thao trường học, tạo điều kiện thuận lợi phát triển TDTT trường học trong những năm tiếp theo; bước đầu đưa TDTT trường học thực sự góp phần cải thiện thể trạng và tầm vóc người Việt Nam
Phát triển có nề nếp TDTT quần chúng, chú trọng TDTT giải trí, góp phần tăng cường sức khỏe thể chất và tinh thần của nhân dân; chú trọng phát triển TDTT trong lực lượng vũ trang, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Ban Chấp hành Trung ương nêu rõ việc tăng cường sự lãnh đạo của Áảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ của sự nghiệp TDTT trong những năm tới, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy đảng quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp [19]:
Về mục tiêu: Gìn giữ, tôn vinh những giá trị TDTT dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phát triển nền TDTT nước ta mang tính dân tộc, khoa học, nhân dân và văn minh
Về giải pháp: Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động TDTT quần chúng cần thiết phải:
Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập luyện TDTT, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các hình thức tổ chức tập luyện TDTT ở cơ sở Gắn việc chỉ đạo phát triển phong trào TDTT với Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở” [19], với Chương trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng khu đô thị văn
Trang 29minh; quan tâm phát triển phong trào TDTT người cao tuổi, người khuyết tật
và người lao động tại các khu công nghiệp
Bảo tồn, phát triển các môn thể thao dân tộc và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong các hoạt động TDTT Có các giải pháp để phát huy tính tích cực, tính văn hóa, văn minh trong TDTT
Chú trọng phát triển TDTT trong lực lượng vũ trang đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong việc phát triển TDTT của nhân dân trên từng địa bàn, nhất là ở vùng biên giới, vùng cao, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Sự quan tâm của Áảng và Nhà nước về các môn thể thao dân tộc còn được thể hiện qua các môn thể thao dân tộc trong các cuộc thi đấu, cũng như các hoạt động nghiệp vụ, văn hóa thể thao định kỳ như: Hội khỏe Phù Áổng, Hội thi nghiệp vụ Sư phạm - Văn nghệ - Thể thao toàn quốc và Hội thi Văn hóa - Thể thao các trường dân tộc nội trú
Hội khoẻ Phù Áổng là Áại hội TDTT của học sinh phổ thông có quy
mô từ cấp trường đến cấp toàn quốc, Hội khoẻ Phù Áổng là ngày hội văn hóa thể thao lớn nhất của tuổi trẻ học đường, là điểm hội tụ vận động viên xuất sắc nhất của ngành giáo dục đào tạo để đua sức đua tài, thể hiện tài năng thể thao [118]
Trong hơn 30 năm qua, với 8 lần tổ chức ở quy mô toàn quốc, phong trào Hội khoẻ Phù Áổng ngày càng được phát triển mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng, số môn thi, số lượng vận động viên, huấn luyện viên và cán bộ tham gia ngày càng nhiều, kỉ lục về thành tích các môn thể thao được ghi nhận qua các kỳ Hội khỏe Phù Áổng, điều đó thể hiện sự phát triển không ngừng của công tác GDTC và thể thao trường học
Bảng số liệu thống kê các kỳ Hội khoẻ Phù Áổng toàn quốc được trình bày
ở bảng 1.1
Trang 30Hội khoẻ Phù Áổng có quy mô từ cấp trường; cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); cấp khu vực đến cấp toàn quốc
Hội khoẻ Phù Áổng cấp trường: Do Hiệu trưởng ra Quyết định thành lập Ban tổ chức Áược tổ chức theo chu kỳ 1 năm/lần
Hội khoẻ Phù Áổng cấp huyện: Ủy ban Nhân dân cấp Huyện ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo và Ban Tổ chức Hội khoẻ Phù Áổng cấp huyện được tổ chức theo chu kỳ 2 năm/lần
Bảng 1.1 Số liệu thống kê các kỳ Hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc Hội khoẻ
Phù Đổng
Năm Địa điểm tổ
chức
Số đoàn tham dự
Tổng số VĐV
Số môn thi
Các môn thể thao dân tộc
Lần thứ
Vovinam, Áẩy gậy, Kéo co, Bắn nỏ,
Áá cầu
*Nguồn: Vụ Thể thao quần chúng – Tổng cục TDTT
Trang 31Hội khoẻ Phù Áổng cấp tỉnh: Ủy ban Nhân dân cấp Tỉnh ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo và Ban Tổ chức Hội khoẻ Phù Áổng được tổ chức theo chu kỳ 2 năm/lần
Hội khoẻ Phù Áổng cấp khu vực: Sau khi được Ban Chỉ đạo Hội khoẻ Phù Áổng toàn quốc ủy nhiệm đăng cai tổ chức khu vực, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo và Ban Tổ chức Hội khoẻ Phù Áổng cấp khu vực được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần
Hội khoẻ Phù Áổng lần thứ VIII – 2012 được chia 5 khu vực, gồm: Khu vực I: Thi đấu tại Phú Thọ, gồm 13 đơn vị: Cao Bằng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Áiện Biên, Lai Châu, Sơn La và Hoà Bình
Khu vực II: Thi đấu tại Bắc Ninh, gồm 12 đơn vị: Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Áịnh, Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh,
Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc và Thái Bình
Khu vực III: Thi đấu tại Nghệ An, gồm 12 đơn vị: Áà Nẵng, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Áịnh và Phú Yên, Khánh Hoà
Khu vực IV: Thi đấu tại Bình Dương, gồm 13 đơn vị: Bình Dương, TP
Hồ Chí Minh, Áồng Nai, Lâm Áồng, Áắk Lắk, Áăk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Phước, Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu
Khu vực V: Thi đấu tại TP Cần Thơ, gồm 13 đơn vị: Cần Thơ, Áồng
Tháp, Long An, Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng và Hậu Giang
Hội khoẻ Phù Áổng cấp toàn quốc: Bộ giáo dục và đào tạo ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo và Ban Tổ chức Hội khỏe Phù Áổng toàn quốc Áược tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần
Qua số liệu thống kê các môn thể thao dân tộc ở bảng 1.1 cho thấy, Hội khỏe Phù Áổng lần thứ I đến thứ III không có các môn thể thao dân tộc Tuy nhiên, từ Hội khỏe Phù Áổng lần thứ IV đến Hội khỏe Phù Áổng lần thứ VIII,
Trang 32số lượng các môn thể thao dân tộc đã có sự gia tăng đáng kể Duy chỉ có Hội khỏe Phù Áổng lần thứ VII chỉ có môn Áá cầu
Hội thi Nghiệp vụ Sư phạm - Văn nghệ - Thể thao các trường sư phạm
là một phong trào thi đua nhằm phát triển kỹ năng, kỹ thuật nghề nghiệp cho học sinh sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo đội ngũ giáo viên được tổ chức định kỳ 4 năm một lần Trải qua 5 kỳ Hội thi Nghiệp
vụ Sư phạm - Văn nghệ - Thể thao toàn quốc đã có nhiều đóng góp cho việc nâng cao các kiến thức và kỹ năng thực hành sư phạm, tăng cường hiểu biết giao lưu, học hỏi kinh nghiệm giữa sinh viên các trường sư phạm Hội thi lần thứ V diễn ra từ ngày 18 đến 28/10/2013 tại Trường Áại học Sư phạm Hà Nội Tuy nhiên, tại Hội thi lần thứ IV (tổ chúc tại Trường Áại học Sư phạm Thái Nguyên) một số môn thể thao dân tộc mới được đưa vào nội dung thi đấu, đó là môn Áá cầu, Áẩy gậy và Kéo co [36] Song đến Hội thi lần thứ V chỉ còn lại một môn Áẩy gậy được đưa vào thi đấu Áiều này chứng tỏ mặc dù được quan tâm phát triển, song do số lượng các môn thể thao dân tộc lại bị chi phối bởi đơn vị đăng cai (Áơn vị đăng cai mạnh về môn thể thao nào thì sẽ đưa vào điều lệ để thi đấu môn thể thao đó) Như vậy muốn duy trì các môn thể thao dân tộc trong Hội thi, thì Áiều lệ cần ấn định một số lượng nhất định các môn thể thao dân tộc trong các nội dung thi đấu
Hội thi Văn hóa - Thể thao các trường dân tộc nội trú là ngày hội truyền thống, là nơi giao lưu gặp gỡ của học sinh các dân tộc thiểu số trên toàn quốc Qua đó, thắt chặt thêm tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trên khắp mọi miền Tổ quốc
Hội thi Văn hóa - Thể thao các trường dân tộc nội trú do Uỷ ban TDTT (Nay là Tổng cục TDTT) và Bộ Giáo dục và Áào tạo phối hợp tổ chức Theo
đó, các môn thi đấu tại Hội thi đều theo đúng Luật thi đấu do Uỷ ban TDTT ban hành Hội thi được tổ chức định kỳ 4 năm/1 lần Hội thi văn hoá - thể thao các trường dân tộc nội trú toàn quốc lần thứ VII – 2014 được tổ chức tại Cần
Trang 33Thơ Tham dự Hội thi là các học sinh dân tộc thiểu số đến từ 52 trường trên khắp mọi miền Tổ quốc Ngoài 7 môn được tổ chức thường xuyên từ các Hội thi trước (Cờ vua, Áá cầu, Áiền kinh, Bóng bàn, Bóng đá, Bóng chuyền, Bắn nỏ), bắt đầu từ Hội thi lần thứ V – 2006 được (tổ chức tại Bắc Giang) đã bắt đầu bổ sung thêm môn thể thao dân tộc nữa, đó là môn Áẩy gậy [37]
Như vậy, Các môn thể thao dân tộc trong những năm gần đây đã được quan tâm phát triển và hình thành hệ thống giải thi đấu trong học sinh và sinh viên Áây là tiền đề quan trọng để phát triển các môn thể thao dân tộc trong các trường chuyên nghiệp nói chung và các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc nói riêng
1.4 Đặc điểm, vai trò và xu thế phát triển các môn thể thao dân tộc
1.4.1 Khái niệm về trò chơi vận động dân gian và thể thao dân tộc
Theo tác giả Mai Văn Muôn, trò chơi vận động dân gian là những trò chơi dân gian có sự vận động đua tranh về thể lực là chính, theo quy lệ chơi và có sự phân định hơn - kém, thắng - thua, được - hỏng Áó chính là tiền đề của các nội dung hoạt động thể thao dân tộc ỏ việt Nam sau này (Trò chơi vận động dân gian là trò chơi dân gian có sự vận động, đua tranh về thể lực là chính)
Theo các tài liệu lý luận và phương pháp TDTT, thể thao trước hết là một hoạt động trò chơi (trình độ khác nhiều so với các trò chơi thông thường, đơn giản), một hình thức thi đấu đặc biệt, chủ yếu và phần nhiều bằng sự vận động thể lực, nhằm phát huy những năng lực chuyên biệt, đạt những thành tích cao, cao nhất, được so sánh trực tiếp và công bằng trong điều kiện chuyên môn như nhau
Theo nghĩa rộng (khá phổ biến), thể thao không chỉ là hoạt động thi đấu, biểu diễn đặc biệt mà còn là sự chuẩn bị cho nó cùng những quan hệ, chuẩn mực, những thành tựu đạt được trong hoạt động này
Trên nguyên tắc, bất kỳ một loại hình hoạt động nào nhằm phát huy, hoàn thiện những năng lực của con người, được tạo ra để làm đối tượng cho
Trang 34thi đấu thể thao, tiến hành theo những quy luật của hoàn thiện thể thao đều có thể thuộc về thể thao Xét theo quan niệm trên thì các trò chơi thi đấu (các môn bóng) cũng là các môn thể thao
Thể thao dân tộc, trước hết cũng là những môn thể thao, ra đời và phát triển chủ yếu ở một dân tộc, vùng, nước nào đó; phản ánh đặc điểm của con người và điều kiện thiên nhiên, xã hội nơi đó Nhiều môn thề thao hiện đại như Judo, Karatedo, Taekwondo chính gốc là từ các môn thể thao dân tộc của Nhật, Triều Tiên Nhưng ngày nay, do sự phổ biến rộng rãi, người ta không còn gọi chúng là môn thể thao dân tộc, tuy vẫn không quên xứ sở sinh
ra nó Từ đó, có thể hiểu thể thao dân tộc là những nội dung hoạt động của một số trò chơi vận động dân gian có tính chất "thể thao” như võ, vật, đua thuyền, bắn cung - nỏ, đá cầu (một sổ trò chơi với quả cầu), khi hoạt động phải thể hiện nổi bật 3 đặc trưng như sau: hoạt động theo sự quy định của những luật lệ chặt chẽ; có sự ganh đua; được tính bằng sự vận động thể lực Như vậy, thể thao dân tộc là những trò chơi vận động dân gian được chuẩn hóa về luật có tập luyện và thi đấu theo hệ thống, đáp ứng nhu cầu mang tính truyền thống, trước hết ở một vùng nào đấy, sau đó được giao lưu truyền bá rộng rãi trong và ngoài nước
1.4.2 Đặc điểm của thể thao dân tộc
Mỗi lĩnh vực hoạt động đều có những đặc điểm, tính chất thể hiện nét đặc trưng và chi phối toàn bộ các nội dung hoạt động đó Xác định những đặc điểm của từng hoạt động là tìm ra những cái khác nhau và giống nhau của từng lĩnh vực, điều đó có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của nó Bằng phương pháp so sánh, đối chiếu, chúng tôi cho rằng thể thao dân tộc ở Việt Nam có những đặc điểm riêng, thể hiện bản sắc dân tộc, đó là:
Thể thao dân tộc Việt Nam ra đời từ điều kiện cuộc sống thực tế của Việt Nam, do nhận thức của con người và điều kiện kinh tế - xã hội từng giai đoạn lịch sử cụ thể quyết định, đồng thời có sự tiếp thu các nền văn hóa khác, biến nó thành nét riêng của văn hóa thể chất Việt Nam
Trang 35Thể thao dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với phong tục tập quán và truyền thống văn hóa của từng địa phương, từng vùng, miền; gắn liền với các
lễ hội dân gian truyền thống; gắn liền với việc đua tài, đua khéo giữa các nhóm người và làm thỏa mãn nhu cầu về vui chơi giải trí của mỗi thành viên trong xã hội
Thể thao dân tộc Việt Nam không những là đặc trưng của một hình thức vận động thân thể mà còn ẩn chứa tính triết lý, tính khoa học và tính nghệ thuật của nền Văn hóa thể chất phương Áông nói chung, cũng như là sự kết tinh trí tuệ của dân tộc Việt Nam nói riêng trong lĩnh vực văn hóa - GDTC
Thể thao dân tộc Việt Nam luôn coi trọng triết lý về sự rèn luyện hợp nhất của 3 mặt: ý, khí và lực; coi con người là tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ bao
la Áó là sử dụng hợp lý nhuần nhuyễn của Nho học, mỹ học trong mọi hoạt động Áó là một trong những bí quyết tôi luyện cơ thể mà ngày nay nhiều nước phương Tây phải nghiên cứu, tìm hiểu
Thể thao dân tộc Việt Nam sơ khai có luật lệ không chặt chẽ, thường là những quy ước đơn giản, tự nhiên, dễ thực hiện Áiều đó phản ánh đúng thực trạng của xã hội Việt Nam xưa kia (đất nước nông nghiệp, nền sản xuất nhỏ
và thường bị thiên tai đe dọa)
Thể thao dân tộc Việt Nam có tính truyền bá (lưu truyền) tự nhiên từ nhiều thế hệ bằng hai con đường: truyền dạy tự nhiên theo gia đình, thông qua lao động và truyền dạy qua trường, lớp Áó cũng chính là hai hình thức tồn tại của thể thao dân tộc ở Việt Nam hàng chục thế kỷ qua (các lò võ, vật trong dân gian và võ học sở của cung đình) Từ những đặc điểm nói trên, từ
sự nhìn nhận, so sánh với các môn thể thao hiện đại khác, có thể nêu ra những ưu thế và hạn chế của thể thao dân tộc Việt Nam:
1.4.2.1 Các ưu thế của thể thao dân tộc Việt Nam
Có tính phổ biến cao, dễ phổ cập trong mọi đối tượng từ mầm non đến người có tuổi, mọi vùng, mọi địa phương trong cả nước
Trang 36Thể thao dân tộc gắn chặt và ăn sâu vào tiềm thức của nhiều thế hệ người Việt Nam, là dấu gạch nối quan trọng giữa truyền thống và hiện đại, thu hút mọi thành viên trong xã hội cùng hoạt động và thưởng thức
Phương tiện tổ chức vui chơi đơn giản, gọn nhẹ, có thể tổ chức ở nhiều nơi, cho nhiều đối tượng, nhiều lứa tuổi khác nhau
Là phương tiện phát triển tổng hợp các tố chất thể lực và dưỡng sinh đối với cơ thể, sức khỏe con người
1.4.2.2 Hạn chế của thể thao dân tộc Việt Nam
Tính khác biệt cao giữa các vùng (cùng một nội dung hoạt động nhưng ở các làng, các hội lại chơi theo cách thức khác nhau) do đó khó thống nhất chung
Luật lệ, quy ước thường rất đơn giản, được thực hiện trong phạm vi nhỏ, trong khi đó lại ăn sâu vào tiềm thức của từng người, vì thế khi luật lệ hóa và tiêu chuẩn hóa để trở thành môn thể thao thi đấu trong cả nước sẽ gặp nhiều khó khăn [63], [64],[65]
1.4.3 Vai trò của các hoạt động thể thao dân tộc
Là một trong những di sản quý báu, hấp dẫn của văn hóa thể chất dân tộc, thể thao dân tộc Việt Nam có vai trò và tác dụng rõ rệt trong các lĩnh vực sau:
Giáo dục thể chất và tinh thần cho thế hệ trẻ trước hết trong các câu lạc bộ, học đường
Phòng và chữa bệnh (đặc biệt là dưỡng sinh, phòng và chữa một số bệnh mãn tính)
Rèn luyện thể lực và tinh thần chiến đấu cho các lực lượng vũ trang Biểu diễn, thi đấu và giao lưu với các nước bạn, làm thỏa mãn các nhu cầu về vui chơi, giải trí và văn hóa tinh thần của con người [65]
Trong lịch sử, thể thao dân tộc đã từng có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc mà thể hiện cao nhất ở tinh thần thượng võ, được coi như lẽ sống của nhiều thế hệ người Việt Nam
Trang 37Ngày nay, thể thao dân tộc vẫn giữ nguyên được giá trị ban đầu của nó trong việc giáo dục nhân cách, đạo lý và truyền thống dân tộc, góp phần phát triển con người toàn diện về thể chất và tinh thần
1.4.4 Phân loại các hoạt động thể thao dân tộc ở Việt Nam
Trong số các hoạt động mang tính thể thao dân tộc ở Việt Nam có nhiều hoạt động chứa đựng những nét đặc trưng về cấu trúc (hình thức hoặc nội dung) và cách thể hiện tương đối giống nhau, đồng thời lại có những hoạt động ít thấy biểu hiện đó Vì vậy, cần thiết phải sắp xếp các hoạt động này theo những nhóm, loại, dạng khác nhau nhằm tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu và sử dụng chúng
Có nhiều cách phân loại các hoạt động thề thao dân tộc trong đó chủ yếu là tùy thuộc vào từng quan điểm đánh giá và góc độ tiếp cận các trò chơi đó
Khi xem xét riêng biệt các trò chơi, trên cơ sở những đặc điểm và tính chất cơ bản của nó, các nghiên cứu phần lớn đều thống nhất với cách phân loại của nhà nghiên cứu xã hội học người Mỹ là Roger Gaillois chia trò chơi thành 4 loại; Trò chơi cầu may (Alco); Trò chơi mô phỏng (Minicoy); Trò chơi gây choáng ngợp (Ilinx); Trò chơi thi đấu (A gôn) Trò chơi thi đấu là những trò chơi diễn ra giữa hai người, hai phe hoặc nhiều người, nhiều phe,
nó thường chiếm số lượng lớn trong các trò chơi dân gian và mang tính quần chúng rộng rãi Tuy những trò chơi này thường dẫn đến những cuộc thi đấu thể thao như đấu Vật, Võ, Áua ngựa
Theo tác giả Mai Văn Muôn cho rằng [63], có thể thống nhất quan điểm phân loại trò chơi của Roger Gaillois Tuy nhiên, các trò chơi Việt Nam trước hết cần được chia thành hai loại lớn là trò chơi cho trẻ em và trò chơi cho người lớn Trò chơi cho trẻ em lại có thể chia thành những nhóm như sau:
Nhóm những trò chơi rèn luyện sự khéo léo của tay, chân như các trò chơi: ném trúng đích (ném vòng cổ chai, ném bia, ném lao), tung bắt chính xác (đánh chuyền, đánh chất), nhảy theo nhịp (nhảy dây)
Trang 38Nhóm những trò chơi cần trí thông minh như: rải ranh, ô ăn quan, cờ lúa ngô, cờ đi đường, bịt mắt đánh trống
Nhóm những trò chơi sơ khởi diễn xướng thể hiện bước đầu việc gắn vui chơi với nghệ thuật hát múa mà lời ca là những bản đồng dao có nhịp, có vần như các trò rồng rắn, dung dăng dung dẻ, nu na ná nống
Nếu đứng từ góc độ giáo dục học, có thể chia trò chơi của trẻ em thành
3 nhóm lớn là trò chơi sáng tạo, trò chơi có luật và trò chơi học tập [65]
Trò chơi của người lớn có thể chia thành 4 nhóm [63]:
Nhóm các trò chơi mang ý nghĩa tín ngưỡng: Loại này giúp chúng ta nhận ra một cách khái quát tư duy của người Việt cổ vũ các ý niệm phồn thực (như các trò tắt đèn, múa mo, bắt chạch ) và về tục thờ mặt trời (như các trò đánh phết, vật, đánh quay, ném cầu, tung còn )
Nhóm các trò chơi giải trí như thả chim câu, chọi gà, thả diều, chọi trâu Nhóm các trò chơi thi tài, thi khéo như các trò thi làm cỗ, thi thổi cơm, thi dệt vải
Nhóm các trò chơi mang tính chất thi đấu thể thao đòi hỏi người chơi phải có sức khỏe và kỹ thuật điêu luyện như bơi chải, chèo thuyền, kéo co, đấu vật Nếu đứng từ góc độ giáo dục thể chất thì trò chơi của người lớn có thể phân thành 4 loại: những trò chơi ưu thế về tố chất thể lực, những trò chơi
ưu thế về kỹ năng vận động, những trò chơi ưu thế về trí lực và những trò chơi nhằm giải trí, trợ hứng là chính
Khi xem xét tổng thể các hoạt động thể thao dân tộc ở Việt Nam, có thể khái quát theo hai quan điểm phân loại chủ yếu như sau:
Dựa trên tính chất, nội dung của các hoạt động thể thao dân tộc, có thể chia chúng thành 4 loại: a) Các trò chơi vận động dân gian b) Các môn thể thao dân tộc c) Các bài tập bổ trợ cho quá trình giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao d) Các bài tập dưỡng sinh, khí công, nhu quyền
Trong đó, loại c và d là những hoạt động mang ý nghĩa giáo dục thể chất
là chính, còn loại a và b thể hiện tính thi đấu, đua tranh thể thao trong nước của các triều đại Nhà nước quân chủ ở Việt Nam (văn ban bên cạnh võ ban)
Trang 39Thể thao dân tộc ở Việt Nam được hình thành từ các trò chơi vận động dân gian, là một bộ phận không thể thiếu được của nền TDTT Nó có nhiều ưu thế trong việc phát triển khi gắn liền với các hoạt động văn hóa của từng vùng, miền, từng địa phương Nếu được chú ý phát triển đúng mức thì các nội dung của thể thao dân tộc sẽ là phương tiện tổng hợp để cùng với các môn thể thao hiện đại khác góp phần tích cực vào chiến lược con người của Áảng và Nhà nước ta trong thời đại ngày nay
Áể phát triển các hoạt động thể thao dân tộc Việt Nam, ngoài việc quán triệt đầy đủ 3 nguyên tắc chung của TDTT, còn phải đảm bảo 4 nguyên tắc có tính chuyên biệt của hoạt động này Áó là:
Kết hợp chặt chẽ giữa phổ cập và nâng cao
Kết hợp giữa kế thừa và phát triển
Áảm bảo việc giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng tính đa dạng và tích cực mở rộng việc giao lưu
Chú ý đảm bảo kết hợp chặt chẽ giữa thể thao dân tộc và thể thao hiện đại Trong quá trình cải tiến một số trò chơi vận động dân gian để trở thành môn thể thao dân tộc có từ chương trình thi đấu của quốc gia, cần đảm bảo yêu cầu sau:
Trò chơi phải phù hợp với sở thích, truyền thụ nguyện vọng và nhu cầu của nhiều đối tượng trong xã hội, nhiều địa phương khác nhau trong cả nước
Trò chơi phải được chuẩn hóa về cách chơi, luật chơi và các điều kiện sân bãi dụng cụ
Áược tổ chức huấn luyện và thi đấu có hệ thống, bài bản theo định
Trang 40động thể thao dân tộc chẳng những đáp ứng được như cầu trong nước mà còn phù hợp với xu thế chung của thời đại trong thập kỷ văn hóa, nghệ thuật và thể thao dân tộc UNESCO khởi xướng [63],[64]
1.4.5 Những nguyên tắc phát triển các môn thể thao dân tộc
Thể thao dân tộc Việt Nam nói chung là một bộ phận của nền TDTT trên đất nước ta Do đó, việc khôi phục, phát triển lĩnh vực này không thể tách rời khỏi những mục đích, nhiệm vụ và đặc biệt là những nguyên tắc phát triển chung của toàn bộ hệ thống thể thao dân tộc Những nguyên tắc này đã được thừa nhận và phổ biến rộng rãi trên toàn quốc
1.4.5.1 Nguyên tắc kết hợp giữa kế thừa và phát triển của thể thao dân tộc
Dân tộc ta có truyền thống văn hóa và tinh thần thượng võ từ lâu đời Thể thao dân tộc là một trong những di sản quý báu đó Nó được hình thành,
kế thừa và phát triển qua nhiều thế hệ Khác với nhiều môn thể thao hiện đại khác chỉ mới có lịch sử phát triền trên đất nước ta từ vài năm đến vài chục năm, thể thao dân tộc ở Việt Nam là một trong những nước phương Áông có lịch sử văn hóa lâu đời nên có một bề dày phát triển khác hẳn Ngày nay, chúng ta phát triển nó không phải từ hai bàn tay trắng, không có mối liên hệ
gì với truyền thống và quá khứ (từ triết lý, tập tục cho đến kỹ thuật, phương pháp, trọng tài, thể lệ thi đấu, dụng cụ tập luyện), cho nên con đường phát triển đúng đắn và sáng suốt nhất của thế hệ hôm nay và mai sau chính là phải
kế thừa một cách sáng tạo, chắt lọc và phát huy được những nét tinh túy nhất của thể thao dân tộc Áiều này đã trở thành xu hướng chung của thế giới, không phải chỉ có ở nước ta
Áương nhiên, công việc kế thừa và phát triển thể thao dân tộc không đơn giản bởi vì nội dung, trường phái, kỹ thuật và cả thể thức tiến hành các hoạt động thể thao dân tộc ở Việt Nam rất phức tạp và rộng rãi Áó là chưa kể mối quan hệ qua lại, đan xen giữa thể thao dân tộc Việt Nam với các nước trong vùng Cho đến nay, chúng ta còn có nhiều chỗ chưa thể khẳng định được rõ cái gì là đích thực của ta, cái gì được du nhập từ nước ngoài