1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Detmay TPP (demo) (Autosaved) (Autosaved)

21 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 124,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về tiến trình đàm phán Hiệp định TPP: Nền tảng của TPP là Hiệp định Đối tác Kính tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dươngđược ký kết năm 2005, còn gọi là “Hiệp định P-4” Năm 2007: H

Trang 1

MỞ ĐẦU

Ngày nay, toàn cầu hóa đã trở thành một xu hướng khách quan thì yêu cầu về hộinhập kinh tế càng trở nên cân thiết hơn bao giờ hết Liên kết các nền kinh tế khu vựcđang diễn ra mạnh mẽ và có tác động sâu rộng tới toàn bộ nền kinh tế trên toàn thếgiới Kết quả của sự liên kết này là sự ra đời của các Hiệp định, các thể chế toàn cầu

và khu vực như Tổ chức thương mại thế giới WTO, Cộng đồng châu Âu EU, Diễn đànhợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương APEC, Hiêp định mậu dịch tự do Bắc MỹNAFTA,…Hay gần đây nhất là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, đâyđược xem là hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” Với những cam kết toàn diện,linh hoạt trên nhiều lĩnh vực TPP được đánh giá là cơ hội không thể bỏ qua

Với mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, nền kinh tế Việt Namđang có nhưng bước chuyển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng Trong quá trìnhchuyển dịch cơ cấu, Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào quá trình hội nhập kinh tếquốc tế Tháng 11/ 2010, Việt Nam chính thức tham gia ký kết hiệp định xuyên TháiBình Dương (TPP) hứa hẹn sẽ mang đến nhưng cơ hội không nhỏ cho nền kinh tếViệt Nam

Để thực hiện mục tiêu trên, Việt Nam cần tập trung các ngành kinh tế mũi nhọn Mộttrong số đó là ngành Dệt may, ngành có thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam Phát huyđược những thế mạnh sẵn có, khắc phục điểm yếu và tận dụng được các cơ hội, đốiđầu với những thách thức bên ngoài sẽ tạo động lực cho ngành phát triển mạnh Trên

cơ sở đó thúc đẩy các ngành thứ yếu và mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế.Nhận thấy việc phân tích cơ hội và thách thức của ngành Dệt may khi Việt Nam thamgia ký kết TPP, đề xuất ra các giải pháp cho ngành dệt may là cần thiết Do đó, chúng

tôi chọn đề tài “Cơ hội và thách thức của ngành dệt may Việt Nam khi gia nhập Hiệp định đối tác xuyên thái bình dương (TPP)” đề nghiên cứu

- Phân tích thực trạng ngành dệt may để rút ra những cơ hội, thách thức khi ViệtNam gia nhập TPP

- Tìm hiểu khái quát về TPP và những tác động chính của TPP đến nền kinh tếViệt Nam

Trang 2

- Đề xuất giải pháp chiến lược đẩy mạnh phát triển ngành dệt may trong bối cảnhTPP được ký kết

- Phương pháp thu thập thông tin: các nguồn niên giám thống kê, sách báochuyên ngành, mạng internet,…

- Phương pháp xử lý thông tin và trình bày kết quả nghiên cứu: phối hợpgiữa các phương pháp thống kê mô tả, phân tích, so sánh, tổng hợp, quynạp,

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất, xuất khẩu hàng dệt may củangành dệt may Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

• Về thời gian: chuỗi số liệu phân tích thực trạng sản xuất, chế biến,tiêu thụ sẽ được nghiên cứu tập trung trong giai đoạn 2006-2015),các mục tiêu phát triển sẽ được dự báo đến năm 2025

• Về không gian: quan hệ sản xuất, xuất khẩu của ngành công nghiệpdệt may Việt Nam sẽ được xem xét cả trong phạm vi thị trường nộiđịa và thị trường quốc tế

Trang 3

1.1.1. Lịch sử hình thành hiệp định TPP:

Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (Trans-PacificStrategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là TPP) là một Hiệp định thươngmại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự

do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương Hiệp định này được ký kếtngày 3/6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006 giữa 4 nước Singapore, Chile, New Zealand,Brunei (vì vậy Hiệp định này còn gọi là P4)

Tháng 9/2008, Hoa Kỳ tỏ ý định muốn đàm phán để tham gia TPP Sau đó (tháng11/2008), các nước khác là Australia, Peru, Việt Nam cũng thể hiện ý định tương tự.Tháng 10/2010, Malaysia chính thức thông báo ý định tham gia đàm phán TPP

Ngày 13-11-2010, Việt Nam tuyên bố tham gia TPP với tư cách thành viên đầy đủ 1.1.2. Các bên tham gia hiệp định TPP:

Hiện nay, có 12 quốc gia đang đàm phán TPP, ngoài 8 quốc gia có tên trên, còn thêmcác nước Malaysia, Mexico, Canada và Nhật Bên cạnh đó, các nước Colombia,Philippines, Thái Lan, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc đã bày tỏ sự quan tâmđến TPP

1.1.3. Tổng quan về tiến trình đàm phán Hiệp định TPP:

Nền tảng của TPP là Hiệp định Đối tác Kính tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dươngđược ký kết năm 2005, còn gọi là “Hiệp định P-4”

Năm 2007: Hoa Kỳ bắt đầu tiếp cận và tham gia thảo luận với các nước P-4

Năm 2008: Hoa Kỳ tham dự các cuộc đàm phán của P-4 về các dịch vụ tài chính vàđầu tư Tháng 9/2008: Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, bà Schwab thông báo dự địnhcủa nước này sẽ tham gia đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do toàn diện với nhómP-4 Tháng 11/2008: Hoa Kỳ, Australia, Peru và Việt Nam thông báo sẽ cùng đàmphán với các quốc gia P-4 nhằm đi đến ký kết một Hiệp định Thương mại “thế hệ tiếptheo”

Năm 2009: Việc khởi động các đàm phán TPP bị trì hoãn Tháng 12/2009: Đại diệnThương mại Hoa Kỳ thông báo lên Quốc hội về ý định tham gia vào đàm phán TPP

Trang 4

Tháng 3/2010: Vòng đàm phán đầu tiên diễn ra tại Australia (Các bên tham gia:Australia, Chi Lê, Peru, Singapore, Việt Nam, Hoa Kỳ, Brunay và New Zealand).Tháng 6/2010: Vòng đàm phán thứ hai diễn ra tại Hoa Kỳ Tháng 10/2010: Vòng đàmphán thứ ba diễn ra tại Brunei (có thêm Malaysia tham dự)

Tháng 12/2010: Vòng đàm phán thứ tư dự kiến tổ chức tại New Zealand

Từ năm 2010 đến nay, tổng cộng đã có 19 vòng đàm phán chính thức diễn ra Trong

đó có vòng đàm phán thứ 7 được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh trong các ngày từ 15đến 24/6/2011

Trong 2 năm gần đây là 2014 và 2015, tiếp tục có nhiều cuộc đàm phán cấp Bộ trưởng

và cấp trưởng đoàn đàm phán diễn ra tại nhiều nước, nội dung đàm phán gồm 30chương

Ngày 5/10/2015: TPP hoàn thành việc đàm phán sau 5 ngày họp cấp Bộ trưởng ởAlanta

1.2. Phạm vi điều chỉnh của hiệp định TPP:

Do hiện tại chưa có quyết định chính thức về các vấn đề sẽ được đưa ra thảo luận vàcam kết trong khuôn khổ TPP nên chưa thể xác định chính xác phạm vi đàm phán.Tuy nhiên, có thể suy đoán phần nào về phạm vi của TPP mới trên cơ sở xem xét 2yếu tố:

 Phạm vi của TPP4 (TPP ký kết năm 2005 giữa 4 nước): Vì TPP mới được đàmphán trên cơ sở đã có TPP4 nên đây có thể là nền cho đàm phán TPP mới

 Xu hướng đàm phán các FTA gần đây của Hoa Kỳ: Do Hoa Kỳ là đối tác đàmphán lớn nhất và cũng là động lực lớn nhất thúc đẩy đàm phán TPP mới nênsuy đoán là quan điểm của nước này sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả đàm phánTPP

1.2.1 Về phạm vi của TPP4

_ Cắt giảm thuế quan theo lộ trình từ 2006 đến 2015

_ Các vấn đề thương mại phi thuế quan như xuất xứ hàng hóa, các biện pháp phòng

vệ thương mại, các biện pháp vệ sinh dịch tễ, hàng rào kỹ thuật đối với thương mại,

sở hữu trí tuệ, mua sắm công, chính sách cạnh tranh

_ Các vấn đề phi thương mại như hợp tác trong lĩnh vực môi trường, lao động

_ Chưa bàn đến các vấn đề đầu tư, dịch vụ tài chính

1.2.2 Về xu hướng đàm phán FTA của Hoa Kỳ

Trang 5

Thông qua các FTA đã ký của Hoa Kỳ (đặc biệt là NAFTA), Hoa Kỳ đã thiết lập một

hệ thống “tiêu chuẩn vàng” (“gold standards”) cho các FTAs của mình và có xuhướng tăng cường những quy định này trong các FTA tương lai (bao gồm cả TPP –Hoa Kỳ đã bày tỏ quan điểm rằng Hoa Kỳ muốn TPP là một “FTA của thế kỷ 21” vớicác “tiêu chuẩn” cao hơn so với các FTA trước) Cụ thể, FTA mà Hoa Kỳ sẽ ký có thể

có các nội dung sau:

_ Thuế quan: Cắt giảm hầu hết các dòng thuế, thực hiện ngay hoặc thực hiện với lộtrình rất ngắn

_ Dịch vụ: Tăng mức độ mở cửa các lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính Đầu tư: Tăng cường các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài và bảo vệ nhàđầu tư

-_ Quyền sở hữu trí tuệ: Tăng mức độ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cao hơn so vớimức trong WTO (WTO+)

_ Bảo vệ tính mạng, sức khỏe: Tăng mức độ bảo vệ thông qua các quy định khắtkhe hơn về vệ sinh dịch tễ và rào cản kỹ thuật

_ Cạnh tranh và mua sắm công: Tăng cường cạnh tranh, đặc biệt trong lĩnh vực muasắm công

_ Các vấn đề lao động: Đặc biệt là các vấn đề về quyền lập hội (công đoàn), quyềntập hợp và đàm phán chung của người lao động, quy định cấm sử dụng mọi hìnhthức lao động cưỡng bức, quy định cấm khai thác lao động trẻ em, quy địnhkhông phân biệt đối xử trong lực lượng lao động

_ Các vấn đề phi thương mại khác: tăng yêu cầu về môi trường

1.3. Vị trí của Việt Nam trong TPP và cơ hội thách thức khi gia nhập TPP

Nguồn: World Bank; WDI 2015; Hải quan Việt Nam

Về GDP danh nghĩa năm 2014, Việt Nam đạt 186 tỷ USD, đứng ở gần vị trí cuốibảng, xếp thứ 11/12 nước và chỉ hơn Brunei (đạt 17 tỷ USD)

Thu nhập trung bình của người Việt năm 2014 đạt 2.052 USD và là nước có GDP đầungười thấp nhất Trong khi đó thu nhập của người Úc gấp 30 lần người Việt, thu nhậpcủa người người Mỹ, Canada gấp 25 lần, Nhật Bản gấp 13 lần Nước ở vị trí gần cuốibảng như Peru cũng gấp Việt Nam hơn 3 lần với 6.551 USD/người

Nguồn: World Bank; WDI 2015; Hải quan Việt Nam Nguồn: World Bank; WDI 2015; Hải quan Việt Nam

Trang 6

Việt Nam chiếm 38,8% tỷ trọng xuất khẩu vào các nước TPP, trong đó xuất khẩunhiều nhất ở thị trường Mỹ với 20,6% Đứng thứ hai là thị trường Nhật Bản 8,7% Cácthị trường còn lại, Việt Nam chưa tiếp cận được nhiều, tỷ trọng xuất khẩu còn hạnchế Trong đó với Brunei, chưa có sản phẩm nào của Việt Nam đặt chân tới thị trườngnày.

Tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ các nước TPP đạt 22,2% trong đó nhậpkhẩu nhiều nhất từ Nhật Bản với 8,7% và nhập khẩu 4,8% từ thị trường Mỹ Tỷ lệ này

sẽ thay đổi lớn khi TPP đi vào có hiệu lực với thuế suất ưu đãi về 0 ở nhiều mặt hàng

Về kinh tế, trong tương lai Việt Nam là nước đem lại giá trị gia tăng lớn thứ 2 choHoa Kỳ, sau Nhật Bản Đồng thời, việc tham gia đàm phán TPP cuat Việt Nam đượccác nước đánh giá cao vì các lí do:

- Có vị trí địa chính trị rất quan trọng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, địabàn cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc; làmột đối tác quan trọng trong hiện tại và tương lai, có thể giúp tăng ảnh hưởng củaTPP

- Có quy mô dân số đáng kể, nền kinh tế phát triển năng động, hứa hẹn thị trường cósức mua lớn, là điểm đến doanh nghiệp các nước, nhất là tại khu vực châu Á - TháiBình Dương

- Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp Việc Việt Nam tham gia thành côngvào TPP sẽ là hình mẫu để Hoa Kỳ thúc đẩy các nước khác trên vành đai Thái BìnhDương tham gia đàm phán khu vực mậu dịch tự do APEC và bằng chứng thuyết phục

về Hiệp định TPP thực sự quan tâm đến các nước đang phát triển (thông qua các biệnpháp đa dạng để hỗ trợ một nước đang phát triển thực thi các tiêu chuẩn cao của Hiệpđịnh)

Trên cơ sở đó, TPP mở ra những cơ hội rất lớn cho Việt Nam về các mặt thu hút đầu

tư, mở rộng xuất khẩu, tiếp nhận công nghệ mới, cơ cấu lại nền kinh tế, cải thiện môitrường kinh doanh…

Trang 7

Tuy nhiên, song hành với những cơ hội là thách thức không nhỏ mà Việt Nam đangđối mặt:

- Sự cạnh tranh quyết liệt trên cả ba cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia Trong

đó cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh là yếu tố quyết định.Tiêu biểu như các sản phẩm nông nghiệp, thách thức lớn nhất vẫn là đảm bảo tiêuchuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh Nếu không đảm bảo, dùthuế nhập khẩu của các nước được đưa về 0%, hàng hóa dồi dào, chủng loại phongphú nhưng chất lượng kém vẫn không xuất khẩu được

- Hệ thống thực thi pháp luật của Việt Nam hiện còn yếu, sự phối hợp giữa các cơ quantrong hệ thống chưa tốt Đội ngũ nhân lực về pháp luật còn yếu về nhiều mặt

- Chỉ số cạnh tranh toàn cầu và môi trường kinh doanh của Việt Nam đang ở mức thấp.Theo báo cáo Chỉ số cạnh tranh toàn cầu năm 2015 -2016 do WEF công bố, chỉ sốcạnh tranh về thể chế - một yếu tố quyết định của cạnh tranh vĩ mô, Việt Nam xếpthức 92 trong số 140 nước được xếp hạng và đứng thứ 8 trong 10 nước ASEAN; cácchỉ số mà doanh nghiệp có vai trò quyết định đến khả năng cạnh tranh vi mô, ViệtNam có thứ hạng rất thấp: xếp thứ 99 về sự sẵn sàng về công nghệ, sự tinh thế trongkinh doanh xếp thứ 106, đổi mới sáng tạo xếp thứ 87 Về môi trường kinh doanh, theođánh giá của WB, năm 2015, Việt Nam xếp thứ 78, tụt 6 hạng so với năm 2014

Trang 8

Chương 2: Phân tích cơ hội và thách thức của ngành dệt may Việt Nam khi

gia nhập TPP

2.1 Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trước khi gia nhập TPP 2.1.1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam

Trang 9

Thiết kế mẫu Sản xuất nguyên

Phân phối & Marketing

Ngành dệt là ngành có lịch sử phát triển lâu đời ở Việt Nam Nghề dệt vải sợi thủcông truyền thống đã tồn tại từ rất lâu Đến giai đoạn khi Việt Nam bị thực dân Phápxâm lược, Pháp đã cho xây dựng nhiều nhà máy hiện đại hơn như Nam Định, Hà Nội,Hải Phòng Sau giải phóng, các doanh nghiệp dệt may bị quốc hữu hóa, sản xuất theochỉ tiêu kế hoạch Trong nền kinh tế kế hoạch, mối quan hệ giữa dệt, nhuộm và maytrở nên khăng khít hơn bao giờ hết tuy nhiên mối quan hệ này rạn nứt khi Liên Xô cũ

kí Hiệp định gia công ủy thác với Việt Nam năm 1986 Theo hiệp định này Việt Namnhập nguyên liệu từ Liên Xô để tiến hành sản xuất hàng may mặc tại các Doanhnghiệp trong nước sau đó xuất trở lại Liên Xô Việc này đã làm cho sự giảm sút nhucầu sản phẩm của doanh nghiệp nhuộm và dệt sợi Từ khi thực hiện đổi mới, ngànhdệt may đã có những bước tiến đáng kể đặc biệt là thập niên 90 của thế kỉ 20 Đếnnay, dệt may thực sự trở thành một ngành mũi nhọn, là ngành có kim ngạch xuất khẩulớn thứ hai với giá trị xuất khẩu đóng góp từ 10- 15% vào GDP Trong những nămgần đây, ngành dệt may liên tục phát triển với tốc độ bình quân 17% một năm ViệtNam nằm trong top 5 nước xuất khẩu hàng dệt may hàng đầu thế giới với thị phần 4%

- 5% Lực lượng lao động ngành dệt may đến nay khoảng 2,5 triệu lao động , chiếmhơn 20% lao động trong khu vực công nghiệp và gần 5% tổng lực lượng lao động toànquốc Các công ty may chiếm tỷ trọng lớn nhất (84%), theo sau là các công ty dệt vàkéo sợi (15%)

Trang 10

2.1.2 Vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị ngành dệt may toàn cầu:

Đối với ngành dệt may, quan hệ theo chiều dọc của ngành này được biểu hiện dướidạng chuỗi giá trị như sau:

Hình 1: Chuỗi giá trị ngành dệt may

Theo chuỗi giá trị trên, ngành công nghiệp phụ trợ sẽ gồm các giai đoạn sản xuấtnguyên liệu, dệt vải, nhuộm, in vải Ngành công nghiệp phụ trợ có liên quan mật thiếtđến ngành cắt may Sự liên kết này đóng vai trò quan trọng bởi vì nguyên nguyên liệucung cấp ổn định, chất lượng nguyên liệu được nâng cao nhờ ngành dệt bám sát hơnnhu cầu của ngành may về các loại nguyên liệu Lợi ích thứ hai là giảm chi phí do chiphí trung gian giảm, và giảm nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài từ đó giáthành sảm phẩm hạ xuống, tăng sức cạnh tranh cho mặc hàng may mặc do tỷ lệ nộiđịa hóa được nâng cao

Việc thực hiện khâu thiết kế kiểu dáng sản phẩm được thực hiện ở các trung tâm thờitrang nổi tiếng thế giới như Paris, London, New York… Nguyên liệu chính là vảiđược sản xuất tại Hàn Quốc, Trung Quốc hoặc các phụ liệu khác được sản xuất tại Ấn

Độ Khâu sản xuất, gia công sản phẩm cuối cùng được thực hiện ở các nước có chi phínhân công rẻ như Việt Nam, Trung Quốc… Các sản phẩm dệt may hoàn chỉnh sẽđược phân phối trên thị trường bởi các công ty thương mại danh tiếng Lợi nhuận ởmỗi khâu là khác nhau, khâu có lợi nhuận cao nhất là thiết kế mẫu, cung cấp nguyênphụ liệu và phân phối Khâu có giá trị gia tăng thấp nhất chính là khâu sản phẩm cuốicùng (chỉ chiếm từ 5-10% tỉ suất lợi nhuận) và ước tính khoảng 70% doanh nghiệpmay mặc của Việt Nam tham gia vào khâu này dưới hình thức chủ yếu là gia côngxuất khẩu (CMT) Vì thế, tuy sản phẩm dệt may của Việt Nam được xuất đi nhiều nơinhưng giá trị thu về rất thấp

Ngày đăng: 14/12/2016, 12:28

w