-Thiên nhiên Nam Bộ tương đối đồng nhất , tuy nhiên cũng có những dị biệt về địa chất : -Miền Tây - Đồng bằng sông Cửu Long hình thành từ quá trình lùi dần của biển cổ Vùng Cà Mau có kh
Trang 4Đặc điểm tự nhiên
Nam Bộ là vùng đất cuối đất nước về
phía Nam, nằm trong lưu vực sông Cửu
Long và sông Đồng Nai Gồm các tiểu
vùng:
-Vùng Đồng bằng Nam Bộ gồm
+ Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước,
Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu
-Vùng Tây Nam Bộ gồm
+ Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh
Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ,
Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc
Liêu, Cà Mau, Tp HCM
Trang 5Đặc điểm tự nhiên
- Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa Thời tiết có hai mùa mưa và mùa
nắng Nhiệt độ trung bình cả năm là 260 C
-Mật độ sông ngòi dày đặt Sông lớn sông bé khắp nơi Ở Nam Bộ có hai nhóm sông chính Tiền Giang và Hậu giang, Sông Tiền có dòng chảy mở rộng quanh co, bồi đắp phù sao cho vùng Sa Đéc, Mỹ Tho rất thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt
-Thiên nhiên Nam Bộ tương đối đồng nhất , tuy nhiên cũng có những dị biệt về địa chất :
-Miền Tây - Đồng bằng sông Cửu Long hình thành từ quá trình lùi dần của biển cổ ( Vùng Cà Mau có khoảng 1000 năm trước) Toàn bộ vùng đồng bằng này là sản
phẩm bồi lắng phù sa rất lâu đời của sông Cửu Long ( 1 tỉ tấn phù sa/ năm) Chính
vì vậy địa hình nơi đây chịu tác động của sông biển với hệ thống kênh rạch chằng chịt ( 50 000 km kênh rạch , trong đó 25 000 kênh rạch nhân tạo )
- Miền Đông Nam Bộ : hệ sinh thái vừa có sông ngòi vừa có rừng , núi…Đông Nam
Bộ có đồng bằng sông Đồng Nai và các chi lưu của nó là sông La Ngà , sông Sài Gòn , sông Vàm Cỏ tạo nên một đồng bằng nhỏ , có những thềm phù xa cổ ( cùng đất xám) và các cao nguyên đất đỏ bazan
Trang 6Đặc điểm xã hội
- Văn hóa và cư dân văn hóa Đồng Nai là cư dân bản địa cách nay khoảng ± 4000 đến ± 2500 năm trước những cư dân bản địa miền Đông nam Bộ như Stiêng , Chơ Ro , Mạ
-Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII, người Indonesian và nhiều lớp người ngoại nhập (Thiên Trúc, Nguyệt Thị, Nam Dương ) tạo
lập nền văn hoá Óc Eo ở đồng bằng Nam Bộ và Đông Campuchia, dựng nên vương quốc Phù Nam hùng mạnh
-TK VII, vương quốc Chân Lạp tiêu diệt Phù Nam Nền văn hoá Óc
Eo vẫn còn tiếp diễn ở một số nơi trên đồng bằng sông Cửu Long nhưng đến cuối thế kỷ VIII thì tàn lụi hẳn
Sau đó chia Lục Chân Lạp (địa phận Campuchia hiện nay ) và Thủy Chân Lạp (địa phận Nam Bộ hiện nay )
Thủy Chân Lạp hoang vắng ( TK VIII- XIII )
Trang 7+ 1698 : Chúa Nguyến cử Nguyễn Hữu Cảnh vào lập phủ Gia Định
+ 1757 : Nam Bộ hình thành chính thức đến mũi Cà Mau – Xác lập chủ quyền của Việt Nam
Trang 8Đặc điểm văn hóa đặc trưng
Chủ thể văn hóa
Ngôn ngữ Tôn giáo Văn học, nghệ thuật
Kiến trúc nhà ở Trang phục
Ẩm thực
Trang 9Chủ thể văn hóa
- Hiện nay, Nam Bộ là nơi cư trú của người Việt và các tộc người
thiểu số là cư dân bản địa: Stiêng, Chrau, Mạ, hoặc di dân: Khmer, Hoa, Chăm, Tày, Nùng, Mường, Thổ Tuy nhiên, chiếm đa số là người Việt, người Khơme , người Hoa và người Chăm
Trang 10Người Khơme
- Cư trú ở Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giag, Bạc
Liêu, với dân số
1.055.174 người.
- Người Khmer là một tộc người thiểu số đông dân, xếp thứ 5 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển.
- người Khơme có khuynh hướng sống khép kín, phận thủ thường, chỉ là những người nông dân,
kĩ thuật vẫn còn đơn
giản.
Trang 11Người Hoa
Người Hoa cũng là một tộc
người thiểu số đông dân, xếp thứ 6 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển.
- Những người Hoa đến Nam
Bộ vào thế kỷ XVII-XVIII, gọi là người Minh Hương, thì phần nhiều con cháu đều đã trở thành người Việt, đóng góp vào văn hoá Việt nơi đây những yếu tố đặc thù của văn hoá người Hoa.
- Do quê quán khác nhau và nhập cư vào những thời điểm khác nhau, nên người Hoa ở Việt Nam và Nam Bộ nói riêng
là một tộc người không thuần nhất về nguồn gốc và ngôn
ngữ
Trang 12Người Chăm
- Hiện nay ở vùng Nam Bộ có khoảng
12 000 người ( thống kê 1999 ) tập
trung chủ yếu ở An Giang , Đồng Nai ,
TP Hồ Chí Minh và miền cực Đông
Nam Bộ Ngôn ngữ chính thuộc hệ Mã Lai – Đa Đảo Hầu hết người Chăm theo đạo Hồi (nhóm Bà Ni và nhóm
Ixlam) và đạo Bà La Môn (chiếm 3/5 dân số) Duy trì chế độ mẫu hệ, con gái theo họ mẹ Nhà gái cưới chồng cho con, con trai ở rể Con gái được thừa
kế tài sản, con gái út phải nuôi dưỡng
bố mẹ Nhà ở quay mặt về phía nam hoặc tây Múa hát dân tộc Chăm rất nổi tiếng
Trang 13Người Việt (Kinh)
- Nam Bộ cũng là một vùng đất đa tộc người Tuy nhiên, chủ thể văn hoá chính của toàn vùng vẫn là người Việt, tộc người đa số mà dân số ở riêng Nam Bộ lên đến hơn 26 triệu người, chiếm 90,9% dân
số của vùng
Trang 14Ngôn ngữ
Đất nước ta, mỗi vùng có một cách nói rất riêng trong quá trình giao tiếp Mặc dù, hệ thống quốc ngữ được dùng chung cho toàn dân, gọi là từ toàn dân nhưng đến vùng nào thì quốc ngữ lại phát sinh ra phương ngữ của vùng đó
Vùng đất Nam bộ cũng không ngoại lệ, có những cách nói tưởng chừng như không có nghĩa, vô nghĩa, nếu chiết tự từng chữ rồi kết hợp lại với nhau, nhiều lúc thấy phi lý, nhưng người Nam bộ vẫn hiểu được Hiện tượng ngôn ngữ này dùng lâu ngày giống như một quy ước và bất kỳ người Nam bộ nào
cũng hiểu được nhau khi giao tiếp
Trang 15Ví dụ:
Từ “khổ qua” người Nam bộ đọc là “hủ qua” mà vẫn hiểu đó là một loại trái ăn
có vị đắng dùng để dồn thịt hầm hoặc nấu canh ăn rất ngon :D
Trang 16Cũng với cách nói trại từ ngữ như thế này, người Nam bộ còn sử dụng ngay cả trong khi dùng các thành ngữ để giao tiếp.
Ví dụ:
Một thành ngữ thuộc từ Hán Việt cũng được nói trại đó là
“Bất quá tam” được nói trại thành “ Nhứt bá tam” lại còn thêm vào “ nhì ba cái”
Ngĩa là: không quá ba lần khi làm một việc gì đó thành
công hoặc thất bại
Ta có:
- Đã hai mùa dưa rồi, mùa nào cũng thất chẳng biết trồng
gì nữa bây giờ ?
- Yên tâm đi, “nhứt bá tam nhì ba cái mà”!
Do đặc điểm của người dân Nam bộ là “ăn ngay nói thẳng” nên những từ ngữ, hình ảnh của họ dùng mang tính hình tượng rất cao để dễ diễn đạt ý muốn nói
Trang 17Ngôn ngữ Nam Bộ hết sức phong phú
về màu sắc
- Với màu đỏ, chúng ta có: đỏ lòm, đỏ loét, đỏ hoe, đo đỏ, đỏ bầm, đỏ rực,
đỏ ửng, đỏ chói, đỏ chạch, đỏ tươi Mỗi màu đỏ ứng với một sự vật hiện tượng cụ thể
- Với màu xanh, chúng ta có: xanh lam, xanh lơ, xanh da trời, xanh nước biển, xanh lá cây, xanh đọt chuối,
xanh ngọc, xanh dương, xanh bông phấn, xanh xanh, xanh ngắt, xanh lè, xanh lét, xanh lá mạ, xanh rêu Mỗi một màu xanh tương ứng với một sự vật hiện tượng khác nhau
Trang 18Tín ngưỡng và tôn giáo
• Tín ngưỡng
- Tín ngưỡng của nhân dân Nam Bộ cũng do những quá
trình đi tìm miền đất hứa của những lưu dân Đàng Trong
xuôi Nam tiếp tục phát huy truyền thống Văn hóa Việt và
tạo ra những sắc thái riêng biệt của văn hóa tín ngưỡng
Nam Bộ
Những cơ sở của biến đổi văn hóa Việt tạo nên sắc thái
riêng cho văn hóa Nam Bộ về tín ngưỡng
- Ảnh hưởng của khung cảnh địa lí : Trong cuộc Nam Tiến,
người lưu dân Đàng Trong, sau khi vào đến vùng đồng
bằng Nam Bộ , chắc chắn không khỏi bàng hoàng trước
không gian mênh mông của vùng đất mới này, do cuộc
sống tương đối dễ dàng hơn rất nhiều so với cuộc sống ở
vùng đất cũ, cá tính tâm lý của người lưu dân cũng dần dà
biến đổi, trở nên rộng rãi, phóng khoáng hơn
- Sự tiếp xúc với các nền văn hóa bản địa: Chiêm Thành,
Chân Lạp
Trang 19+ Tâm thức của người dân : Theo dòng Nam tiến của những lưu dân đầy khó khăn lớn lao về về mọi mặt đã tự tạo cho mình một bản lãnh anh hùng độc đáo , dám nghĩ dám làm , hoàn toàn không câu nệ vào tập tục truyền thống Sự biến đổi này là cơ sở tạo ra hành động trên con đường đi tìm miền đất mới hoàn toàn xa lạ người dân không thể hành động rụt rè dựa trên lối mòn của những nếp suy nghĩ cũ kĩ , trên sách vở cổ điển Tâm lí của họ là những người thích phiêu lưu mạo hiểm không chịu khuất phục trước những khuôn khổ của vùng đất cũ vì vậy họ dễ dàng chấp nhận
những cái mới và sáng tạo nên những tín ngưỡng mới phù hợp với đời sống tâm linh của mình lúc bấy giờ
Trang 20• Tôn giáo
- Với đặc điểm sinh thái địa lí vừa thuận lợi vừa khó khăn của vùng đất Miền Nam , quá trình đấu tranh cho cuộc sống mới đã để lại những dấu ấn riêng Trong đời sống văn hóa và tâm linh của những lưu dân người Việt vừa kế thừa và phát huy những tôn giáo đã du nhập vào Việt Nam trước đó như : KiTo giáo , Phật giáo , Hồi giáo vừa góp phần tạo nên một bản sắc Nam Bộ mà đặc biệt là sự hình thành những tôn giáo bản địa từ nữa cuối TK XIX đến quá đầu TK XX : Bửư Sơn Kì Hương , Cao Đài , Hòa Hảo , Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đạo Dừa…
Trang 21Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
Người sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là ông Ðoàn Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh, sinh năm 1807 ở làng Tòng Sơn, tỉnh Sa Ðéc (Ðồng Tháp) trong một gia đình nông dân Bửu Sơn
Kỳ Hương ra đời vào giữa thế kỹ XIX (1849) là trong hoàn cảnh đất nước và
xã hội cực kỳ rối ren từ Bắc vào Nam.Ðạo Bửu Sơn Kỳ Hương lấy tứ đại
trọng ân làm nền tảng Bốn ân lớn đó là :
- Ân tổ tiên cha mẹ
- Ân đất nước
- Ân tam bảo
- Ân đồng bào, nhân loại
Bửu Sơn Kỳ Hương khuyên mọi người học Phật tu nhơn (tu nhân, tích đức và niệm Phật)
Trang 22Ðạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
Người sáng lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là ông Ngô Viện, húy là lợi nên gọi là Ngô Lợi Ông sanh năm 1831 tại Mỏ Cày (Bến Tre)
Pháp môn tu hành của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là:
- Trì niệm theo Thiền tông ;
- Xử sự theo Nho giáo
- Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo
- Ấn quyết, thần chú theo Mật tông
Trang 23Đạo Hòa Hảo
Người lập ra đạo Hòa Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ, sinh năm
1918 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh An Giang (có sách nói sanh năm 1919).
Trong chế độ thực dân cũng như tay sai của đế quốc, một số người đầu cơ chính trị đã lợi dụng đạo Hòa Hảo để truyền bá
mê tín, lừa dối nông dân, đưa
họ vào những hành động sai trái đối với Tổ quốc như Hai
Lực chỉ huy nóm Dân vệ Hòa Hảo, nhóm Hai Bành
Trang 24Ta có thể kể đến :
- Hội Thông thiên học
- Ðạo Ba-hai (Baha'i-gốc ở Arab)
- Ðạo Subud (gốc ở Indonesia)
Trang 25Văn học – nghệ thuật
Nam Bộ có một kho tàng văn học, văn
nghệ dân gian phong phú Đó là các truyện
dân gian phản ánh sự nghiệp khai phá đất
đai, gắn liền với những danh thắng, di tích
và nhân vật lịch sử Đó là kho tàng ca dao và
dân ca với các điệu hò, điệu lý, các bài hát
huê tình, hát ru em, hát đồng dao, hát sắc
bùa, hát thài, hát rối, hát vọng cổ, hát tài tử,
v.v Đặc biệt, hát vọng cổ và hát tài tử rất
được người Nam Bộ ưa thích
Trang 26Ngoài ra, Nam Bộ còn có một số
thể loại văn học dân gian đặc sắc
khác là nói vè, nói tuồng, nói thơ
Đây là loại hình tự sự dân gian khá
phổ biến, nó thông tin nhanh những
nỗi niềm, tâm sự
- Truyện thơ và hình thức diễn
xướng nói thơ cũng là một hoạt động
văn nghệ dân gian phổ biến tại Nam
Bộ, với các truyện thơ nổi tiếng như
Lục Vân Tiên, Phạm Công - Cúc
Hoa,
- Hát bội (tuồng) từ miền Trung đưa
vào đã phát triển mạnh mẽ trên đất
Nam Bộ Hầu hết các lễ hội thường
có kèm theo hát bội
Văn học – nghệ thuật
Trang 29Kiến trúc nhà ở
Người Khmer trước đây đều ở nhà sàn, nhưng ngày nay phần nhiều đã chuyển thành nhà đất, nhà sàn chỉ còn phổ biến ở những khu vực gần biên giới.Nhà ở của họ ngày nay về hình dáng, vật liệu kiến trúc cũng gần giống với nhà của người Việt và người Hoa Nếu sống trên đất cao thì người
Khmer thường làm nhà đất, còn ở nơi đất thấp họ phải cất nhà sàn, nhỏ nhưng nóc cao, mái rất dốc và thường được lợp bằng lá dừa nước, ở các vùng gần biên giới thì dùng lá dừa chằm để lợp
Người Chăm Nam Bộ trước đây cũng ở nhà sàn, nhưng ngày nay phần nhiều cũng đã chuyển thành nhà đất Ở miền Đông, người Stiêng vẫn còn
sử dụng nhà sàn dài, phù hợp với chế độ đại gia đình phụ hệ, nhưng người Chrau thì phần nhiều cũng đã chuyển nhà sàn thành nhà đất như người Việt
Trang 30Trang phục
Trang 31Trang phục
Do sống trong môi trường sông nước, nông dân
người Việt ở Nam Bộ, cả nam và nữ, rất thích chiếc áo
bà ba và chiếc khăn rằn Chiếc áo bà ba gọn nhẹ rất tiện dụng khi chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng, tát
mương, tát đìa, cắm câu giăng lưới, và có túi để có thể đựng một vài vật dụng cần thiết Chiếc khăn rằn được dùng để che đầu, lau mồ hôi, và có thể dùng quấn
ngang người để thay quần
Trang 32Trang phục thường nhật của nam giới người Khmer Nam Bộ cũng là bộ bà ba đen, quấn
khăn rằn
Trang phục nữ giới thông
thường cách đây ba, bốn mươi năm là xăm pốt, một loại váy bằng tơ tằm, hình ống (kín) Chiếc váy điển hình là loại xăm pốt chân khen, một loại váy hở, quấn quanh thân, ngày nay ít còn thấy.
Trang 33Người Chăm Nam Bộ cũng sử dụng những trang phục dân tộc nhưng có tiếp nhận ảnh hưởng trang phục của các tộc người cộng cư Phụ nữ Chăm khi tiếp xúc với khách hoặc khi ra đường đều đội khăn
để che kín tóc, nhưng không phải mang mạng che mặt như phụ nữ Hồi giáo ở
Trung Đông
Trang 34Ẩm thực