Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5,nội dung kiến rhức về từ loại chiếm một phần không nhỏ và có vai trò rất quan trọng cả với học sinh đại trà và học sinh giỏi. Tuy nhiên khi học đến phần từ loại Tiếng Việt thì nhiều em còn lúng túng. Ở lớp 2,3 HS không được học lí thuyết ,các kiến thức ẩn dưới các bài tập thực hành sử dụng từ và câu (Tìm từ chỉ sự vật,từ chỉ hoạt động trạng thái).Đến lớp 4,5 HS được cung cấp lí thuyết,biết thế nào là danh từ,động từ,tính từ,đại từ,quan hệ từ…Đén lớp 5 học sinh đã được học 5 8 từ loại của Tiếng Việt.Với suy nghĩ: làm thế nào để học sinh nắm chắc kiến thức này và tự tin trong học tập ? nên tôi đã quyết định chọn đề tài: DẠY PHẦN TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5’’
Trang 1MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU
I - Lý do chọn đề tài Trang 2
II -Mục đích nghiên cứu Trang 3
III-N ội dung nghiên cứu Trang 3
IV- Phương pháp nghiên cứu Trang 4
PHẦN II: NỘI DUNG
A.Cơ sở lí luận,khoa học của đề tài……… Trang 4
B.Cơ sở thực tiễn:
1.Khảo sát tình hình ……… Trang 5 2.Chỉ tiêu phấn đấu ……… Trang 6 C.Ứng dụng vào thực tiễn công tác giảng dạy
I.Giúp học sinh nắm chắc kiến thức về từ loại Trang 7
II.Thực hành từ loại Trang 11
III.Kết quả thực hiện Trang 18
Trang 2I - Lý do chọn đề tài:
Người giáo viên tiểu học có nhiệm vụ là cung cấp những kiến thức một cách toàn diện cho học sinh Mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục vụ cho cuộc sống, học tập và sinh hoạt sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao
Ở trường Tiểu học đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục tiểu học, việc chăm
lo phát triển bồi dưõng học sinh giỏi góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước được xem
là một nhiệm vụ cần thiết và quan trọng
Được phân công giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi ở lớp 5, qua thời gian giảng dạy tôi thấy học sinh của mình rất cố gắng học tập, đặc biệt là môn Tiếng Việt Tôi luôn trăn trở đi sâu tìm hiểu nội dung chương trình Tiếng Việt lớp 5 đại trà và nâng cao,tìm phương pháp tối ưu để giảng dạy có hiệu quả Bản thân tôi nhận thấy mục tiêu của việc giảng dạy môn Tiếng Việt không phải để tạo ra các nhà văn,nhà ngôn ngữ học Mục tiêu chính của việc làm này là bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, khả năng tư duy và năng lực ngôn ngữ cho học sinh, góp phần hỡnh thành nhõn cỏch con người Việt Nam hiện đại Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5,nội dung kiến rhức về từ loại chiếm một phần không nhỏ và có vai trò rất quan trọng cả với học sinh đại trà và học sinh giỏi Tuy nhiên khi học đến phần từ loại Tiếng Việt thì nhiều em còn lúng túng Ở lớp 2,3 HS không được học lí thuyết ,các kiến thức ẩn dưới các bài tập thực hành sử dụng từ và câu (Tìm từ chỉ
sự vật,từ chỉ hoạt động trạng thái).Đến lớp 4,5 HS được cung cấp lí thuyết,biết thế nào là danh từ,động từ,tính từ,đại từ,quan hệ từ…Đén lớp 5 học sinh đã được học 5 / 8 từ loại của Tiếng Việt.Với suy nghĩ: " làm thế nào để học sinh nắm chắc kiến thức này và tự tin
trong học tập ?" nên tôi đã quyết định chọn đề tài: DẠY PHẦN TỪ LOẠI TIẾNG
VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5’’
Trong quỏ trỡnh thực hiện đề tài này, tôi gặp những thuận lợi, khó khăn sau:
1 Thuận lợi: Đó là sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lónh đạo nhà trường:
- Tạo mọi điều kiện có thể để cụng việc nâng cao chất lượng đại trà và bồi dưỡng học sinh giỏi có chất lượng như thời gian, tài liệu
Trang 3- Bản thân hiệu trưởng trực tiếp tham gia kiểm tra, đánh giá, chỉ đạo chương trỡnh.
- Nhà trường có những biện pháp động viên, khuyến khích học sinh và giỏo viờn học tập
và bồi dưỡng, tạo động lực thúc đẩy công việc có hiệu quả tốt
- Học sinh chăm ngoan, hiếu học
2 Khó khăn:
Nhỡn chung nhiều năm nay, chúng ta đó chỳ ý nâng cao chất lượng đại trà và bồi dưỡng học sinh giỏi nhưng điều kiện thực tế cũn nhiều hạn chế Việc giải quyết mồi quan hệ giữa giỏo dục toàn diện và bồi dưỡng học sinh giỏi cũn nhiều lỳng tỳng, đặc biệt việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt cũn gặp nhiều khú khăn hơn bởi nhiều
lí do: Về phía phụ huynh học sinh: số phụ huynh có nguyện vọng cho con bồi dưỡng Tiếng Việt ít hơn bồi dưỡng Toán Mặt khác, do điều kiện kinh tế của nhân dân ở địa phương cũn khú khăn ,một số gia đỡnh phụ huynh phải đi làm ăn xa, việc học tập ở nhà, mua sắm tài liệu tham khảo là rất khó khăn do vậy hạn chế không nhỏ đến chất lượng học tập của các em Về phía nhà trường cơ sở vật chất còn thiếu ,chưa đủ phòng học
-Thấy rõ vị trí quan trọng của từ loại Tiếng Việt
-Giúp học sinh tiếp thu bài giảng 1 cách nhẹ nhàng, khắc sâu kiến thức về từ loại
III-N ội dung nghiên cứu:
-Phần từ loại trong chương trình lớp 5 ở Tiểu học
-Nghiên cứu biện pháp giảng dạy và bồi dưỡng để nâng cao chất lượng phần Từ loại cho HS ở trường
IV-Phương pháp nghiên cứu:
Trang 4a/ Phương pháp quan sát: Quan sát thực tế, thực trạng về công tác chỉ đạo, công tác bồi dưỡng, quá trình học tập, chất lượng học tập của HS lớp 5.
b/ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
c/ Phương pháp nghiên cứu tài liệu Nghiên cứu sách, báo, giáo trình có liên quan đến công tác giảng dạy- bồi dưỡng HS giỏi
Nghiên cứu chất lượng HS những năm trước Nghiên cứu công tác chỉ đạo của nhà trường đối với việc bồi dưỡng HS giỏi
d/ Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Điều tra, phỏng vấn thu thập thụng tin về số liệu, chất lượng học sinh, HS giỏi các năm trước ở nhà trường, GVCN
PHẦN II : NỘI DUNG
A.CƠ SỞ LÍ LUẬN, KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI:
-Kết quả thực tế cho thấy số học sinh được xem là có năng lực nhận thức, tư duy, vốn sống, nổi trội hơn các em khác chiếm từ 5-10% tổng số học sinh Các tài năng xuất hiện từ rất sớm Vì vậy trên thế giới, người ta luôn quan tâm đến việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài ngay từ những năm tháng trẻ còn nhỏ tuổi Ở nước ta, từ nhiều năm nay vấn đề này cũng được quan tâm
-Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước,
tổ chức thi học sinh giỏi môn Tiếng Việt cũng có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, việc bồi dưỡng học sinh giỏi có tác dụng tích cực trở lại đối với giáo viên Để có thể giảng dạy nâng cao chất lượng đại trà- bồi dưỡng học sinh giỏi, người giáo viên luôn phải học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cũng như phải bồi dưỡng lòng yêu nghề, tinh thần tận tâm với công việc
-Các từ trong ngôn ngữ nói chung và trong Tiếng Việt nói riêng,có một số lượng rất lớn.Nhưng mỗi một từ không phải hoàn toàn khác biệt với những từ khác mà chúng có những điểm giống nhau.Những từ này hình thành những loại,những lớp,những nhóm lớn nhỏ khác nhau trong lòng kho từ vựng.Dựa vào đó có thể phân các từ thành các loại
Trang 5-Các từ có thể có điểm giống nhau về âm thanh,các từ có thể giống nhau về kiểu cấu tạo,các từ có thể có điểm giống nhau về ngữ nghĩa,các từ có thể có điểm giống nhau về nguồn gốc.
-Trong ngôn ngữ còn có một loại hệ thống khác của các từ.Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức của ngôn ngữ Đó là hệ thông các từ đựoc hình thành trên cơ sở các đặc điểm ngữ pháp giống nhau của các từ.Lớp các từ có những đặc điểm ngừ pháp giống nhau gọi là các từ loại
Từ loại đó là sự phân định vốn từ của một ngôn ngữ thành những lớp,những hạng
dựa vào đặc trưng ngữ pháp
Hệ thống từ loại tiếng Việt:phân thành 2 loại:
-Thực từ:danh từ,động từ,tính từ,số từ,đại từ -Hư từ:phụ từ,quan hệ từ,tình thái từ
Thực từ là những từ mang ý nghĩa từ vựng chân thực,còn những từ không mang ý nghĩa
từ vựng chân thực gọi là hư từ
B.CƠ SỞ THỰC TIỄN
1/Khảo sát tình hình:
Qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy giáo viên dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt nắm khá chắc nội dung chương trình và kiến thức Tiếng Việt lớp 5, biết vận dụng đổi mới PPDH: Lấy học sinh làm trung tâm, biết trân trọng sự sáng tạo dù nhỏ của học sinh, biết sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh phân tích tìmhiểu bài tập
Công tác chỉ đạo của nhà trường cũng như mỗi cán bộ giáo viên đã nhận thức sâu sắc
về các cuộc vận động lớn của ngành như “ Đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất
lượng giáo dục”, phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Tuy nhiên thời gian dành cho chương trình bồi dưỡng phần từ loại không phải là nhiều so với lượng kiến thức các em cần nắm ở phân môn luyện từ và câu Sự chú ý của các em chưa bền vững, khả năng tập trung chưa cao nên học sinh thường nóng vội, đọc
đề qua loa, chưa hiểu thấu đáo đó bắt tay vào làm
Trang 6Trong thực tế,học sinh tiểu học cũng gặp phải những khó khăn khi học phần từ
loại,có thể kể tới một số nguyên nhân sau:
-Do không phân định đúng ranh giới của từ mà học sinh xác định từ loại sai
-Nhiều em không nắm được thuật ngữ "từ loại" nên không hiểu đúng yêu cầu của bài tập
-Khi xác định từ loại học sinh cũng gặp khó khăn trong những trường hợp mà nghĩa của từ hoặc dấu hiệu hình thức không rõ ràng
-Thời gian luyện tập, số tiết luyện tập về từ loại Tiếng Việt cũng chưa được nhiều
*Kết quả điều tra,khảo sát đầu năm:
Lớp Số HS
tham gia
Nội dung khảo sát Kết quả
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Các bài tập vận dụng về danh từ,động từ,tính từ
Các bài tập vận dụng về danh từ,động từ,tính từ
2/ Chỉ tiêu phấn đấu:
Lớp Số HS
tham gia
Nội dung khảo sát Kết quả
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Các bài tập về xác định ,vận dụng kiến thức
từ loại:danh từ,động từ,tính từ,đại từ,quan hệ từ
Các bài tập về xác định ,vận dụng kiến thức
từ loại:danh từ,động từ,tính từ,đại từ,quan hệ từ
Trang 7Học sinh giỏi các cấp:
+Cấp tỉnh:03em
+Cấp huyện:02 em +Cấp trường:07em 100% HS xếp loại giáo dục từ trung bình trở lên.
C.ỨNG DỤNG VÀO THỰC TIỄN CÔNG TÁC GIẢNG DẠY:
I Giúp học sinh nắm chắc lí thuyết về từ loại:
*Danh từ chung: là tên gọi chung của một loại sự vật
VD: Học sinh, công nhân, thành phố
*Danh từ riêng: là tên gọi riêng của một loại sự vật.
VD: Võ Thị Sáu, núi Trường Sơn
-Phân biệt danh từ cụ thể với danh từ trừu tượng
Trang 8Danh từ cụ thể: chỉ những sự vật mà ta có thể nhận ra được bằng giác quan
( nghe,ngửi, thấy, đếm được )
VD: Nhà, tủ
Danh từ trừu tượng: chỉ những sự vật mà ta nhận ra được bằng suy nghĩ chứ
không phải bằng các giác quan.
VD: Niềm vui, đạo đức, thái độ
Trong câu, danh từ (Đứng một mình hoặc kèm theo các từ phụ thuộc) cú thể làm nhiều
b.Tiểu loại: Có hai loại động từ:
*Động từ chỉ trạng thái, hoạt động do người hay sự vật thực hiện, không ảnh hưởng tới người hay sự vật khác gọi là động từ nội động
-Động từ "bị"và "được" chỉ trạng thái tiếp thụ
-Động từ "có" chỉ trạng thỏi tồn tại hặc sở hữu
-Động từ "là" chỉ được dùng trong câu giới thiệu , nhận xét, đánh giá.
Trang 9- Xanh, đỏ, xanh biếc, đỏ thắm (chỉ màu sắc)
- Vuông, tròn, thon (chỉ hình thể)
- To, nhỏ,dài, ngắn (chỉ kích thước)
- Nặng,nhẹ, nhiều, ít (chỉ khối lượng, dung lượng)
- Tốt, xấu, thông minh (chỉ phẩm chất)
b Tiểu loại: Có hai loại tính từ:
-Các đại từ thay thế cho danh từ: tôi,tao,
-Các động từ thay thế cho động từ,tính từ: thế ,vậy,như thế,
Ví dụ:Tôi thích bóng đá, em tôi cũng vậy
-Các đại từ thay thế cho số từ:bao, bao nhiêu,
Trong giao tiếp người ta có thể dùng đại từ để xưng hô Đó là đại từ chỉ ngôi Các đại từ chỉ ngôi thường dùng là :
+Ngôi thứ nhất: Tôi, chúng tôi, tao, chúng tao
+Ngôi thứ hai : mày , chúng mày…
+Ngôi thứ ba : nó, chúng nó …
* Danh từ chỉ người cũng thường được dùng trong xưng hô như đại từ chỉ ngôi
VD: anh , chị , ông , bà
5- Số từ :
Trang 10-Các phụ từ thường đi kèm với danh từ
VD:ở lớp tôi mỗi người có một vẻ riêng.
-Các phụ từ thường đi kèm với động từ và tính từ: hãy,đừng,chớ,không,chưa,chẳng,
7-Quan hệ từ(từ chỉ quan hệ,từ nối)
-Các quan hệ từ phục vụ cho quan hệ đẳng lập: và,với,rồi,
-Các quan hệ từ phục vụ cho quan hệ chính phụ: của,bằng, rằng,vì ,tại, bởi,
8-Tình thái từ:
a.Khái niệm:
Trang 11TTT là những từ chỉ mối quan hệ của người nói,chỉ thái độ ,tình cảm của người nói đối với nội dung của câu hoặc đối với người cùng tham gia hoạt động giao tiếp
1 Dạng1: Xác định từ loại cho từ
Kiểu 1: Cho sẵn các từ, yêu cầu học sinh xác định từ loại của các từ đó.
VD: Xác định từ loại của các từ sau: niềm vui, vui tươi, vui chơi, tình yêu , yêu thương, đáng yêu
Để xác định từ loại của những từ này, ta xét ý nghĩa (chỉ đối tượng , chỉ hành động hay chỉ tính chất) cũng như thử các khả năng kết hợp của chúng
Có thể nói :
- những niềm vui - rất yêu thương
- hãy vui chơi - tình yêu ấy
- hãy yêu thương - rất đáng yêu
Sau đó học sinh trình bày:
Trang 12yêu thương
Kiểu 2: Xác định từ loại trong đoan thơ ,văn có sẵn:
VD: Xác định động từ , danh từ , tính từ trong hai câu thơ của Bác Hồ:
“ Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót chim kêu suốt cả ngày”
Ở bài tập này , học sinh cần phải xác định ranh giới các từ rồi xét ý nghĩa và các khả năng kết hợp của từ rồi xếp:
1 Danh từ : cảnh , rừng , Việt Bắc, vượn , chim , ngày
2 Động từ: hót, kêu
3 Tính từ : hay
2 Dạng2: Đưa ra bài tập mà học sinh còn hay nhầm để các em sửa.
VD: Tìm tính từ trong khổ thơ sau:
Việt Nam đẹp khắp trăm miền,Bốn mùa một sắc trời riêng đất này
Xóm làng , đồng ruộng , rừng cây, Non cao gió dựng , sông đầy nắng chang
Sum suê xoài biếc cam vàng Dừa nghiêng , cau thẳng , hàng hàng nắng soi
*ở bài tập này học sinh xác định các tính từ : đẹp , cao, đầy , sum suê, nghiêng , thẳng
một cách dễ dàng Khi xét đến : “trời riêng” , “xoài biếc”, “nắng chang”các em lúng túng không biết đây là một từ hay hai từ nên nhiều em xác định từ loại sai Vậy giáo viên phải
củng cố và khắc sâu kiến thức này: chỉ cho các em biết đây là hai từ đơn và các tính từ
là “riêng” “biếc” “chang”.
3 Dạng 3 :
Trang 13Khắc phục khó khăn của học sinh khi xác định từ loại trong những trường hợp
mà nghĩa hoặc dấu hiệu hình thức từ loại không rõ ta có thể cho học sinh làm dạng bài tập:
VD:Xác định từ loại của các từ trong các thành ngữ sau:
Đi ngược , về xuôiNước chảy , đá mònCác từ loại học sinh xác định nhanh và rõ ràng chính xác là “đi,về” là động từ , “nước ,đá” là danh từ Nhưng các từ “ngược”, “xuôi”, “ mòn” các em lúng túng và hay xếp các
từ này vào
loại tính từ Vậy giáo viên phải phân tích ý nghĩa của từ và hướng dẫn học sinh xếp từ
“ngược” “xuôi” là chỉ vùng núi và vùng đồng bằng nên xếp các từ này là danh từ Còn từ
4 Dạng 4:
Khắc sâu thuật ngữ “từ loại” ta cho học sinh làm dạng từ loại sau:
Ví dụ: Cho các từ sau: núi đồi , rực rỡ, chen chúc, vườn , dịu dàng, ngọt , thành phố, ăn, đánh đập
Hãy xếp những từ trên thành các nhóm theo hai cách:
a, Dựa vào cấu tạo (từ đơn, từ ghép , từ láy)
b, Dựa vào từ loại ( danh từ , động từ, tính từ)
* ở bài tập này học sinh phải củng cố về kiến thức thế nào là chia từ theo cấu tạo và thế nào là chia từ theo tự loại Các em sẽ dễ dàng làm được
- Nếu xếp theo cấu tạo từ, ta sẽ xếp như sau:
Trang 14+ Từ đơn : vườn , ăn , ngọt
+ Từ ghép: núi đồi , thành phố , đánh đập
+ Từ láy: rực rỡ, dịu dàng , chen chúc
-Nếu xếp theo từ loại, ta sẽ xếp như sau:
+ Danh từ : núi đồi, thành phố, vườn
+ Động từ : chen chúc, đánh đập , ăn
+ Tính từ : rực rỡ, dịu dàng, ngọt.
5 Dạng 5 Chuyển từ loại theo một kiểu cấu tạo nào đó
Ví dụ 1: Xác định từ loại của các từ sau:
- vui,buồn, đau khổ, đẹp
- niềm vui , nỗi buồn, cái đẹp , sự đau khổ
* ở bài tập này , học sinh phải nắm được các từ “ vui , buồn , đau khổ” là các động từ chỉ trạng thái Còn từ “đẹp” là tính từ.Phải nắm được quy tắc cấu tạo từ: sự, cuộc , nỗi , niềm
đi kèm với động từ hoặc tính từ thì tạo thành một danh từ mới Đó là các danh từ trừu tượng “niềm vui”, “ nỗi buồn”, “sự đau khổ”, “ cái đẹp”
-Có thể cho HS tìm thêm các ví dụ
Ví dụ 2:
“ Sầu riêng thơm mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi , béo cái béo của trứng gà, ngọt cái ngọt cuả mật ong già hạn”
a) Hãy tìm các tính từ có trong câu văn
b)Nhận xét các từ loại: cái béo, mùi thơm-ở bài tập này học sinh cần vận dụng kiến thức về quy tắc cấu tạo từ và ý nghĩa của từ để
xác định từ loại và tìm được các tính từ trong bài là : “ thơm”,“béo”, “ ngọt”, “già” Nhờ có sự kết hợp từ : cái béo, mùi thơm… là các danh từ.
6 Dạng 6 Tuỳ trong văn cảnh mà từ loại cũng có thể thay đổi.
Ví dụ : Xác định từ loại của từ “ danh dự” trong câu văn sau: