1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiếu lăng lăng vua Minh Mạng

14 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 298,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến trúc: Không những thế dưới thời Minh Mạng tất cả các công trình lớn nhỏ của Kinh Thành Huế được sắp xếp chỉnh đốn lại.. Trong suốt hai mươi năm trị vì vua Minh Mạng đã nâng cấp, xâ

Trang 1

LĂNG VUA MINH MẠNG

I Tiểu sử và những thành tựu của Vua Minh Mạng

1 Tiếu sử

Vua Minh Mạng tên huý là Nguyễn Phúc Đảm, còn có tên gọi là Nguyễn Phúc Kiểu, là hoàng tử thứ tư, con của vua Gia Long và thứ phi Trần Thị Đang Ông sinh ngày

23 tháng 4 năm Tân Hợi, tức 25 tháng 5 năm 1791 tại tư dinh của bà Quốc Công Tống Phước Khuông ở làng Tân Lộc, tỉnh Gia định

Theo sử sách ghi lại con đầu của Gia Long là Hoàng tử Cảnh mất sớm vào năm

1801 Triều đình có người đề nghị cho con của Hoàng tử Cảnh nối ngôi để giữ đúng dòng đích, nhưng Gia Long không đồng ý Năm 1815, Nguyễn Phước Đảm được phong làm Hoàng thái tử và từ đó ở trong điện Thanh Hoà để quen với việc trị nước Có thể nói đây

là một quyết định đúng đắn của vua Gia Long Hoàng tử Đảm tư chất thông minh, hiếu học hay chữ, cương nghị, tinh thông nho học và hết lòng chăm lo quốc chính

Tháng 2 năm 1820 vua Gia Long băng hà, hoàng tử Nguyễn Phước Đảm lên ngôi lấy niên hiệu là Minh Mạng Sinh ra trong lớp hoà quang cả chiến thắng, lại có một người

mẹ nhân hậu đoan trang nuôi dưỡng, có một lớp các nhà nho dạy dỗ tận tình Từ học làm người đến học làm một ông vua trưởng thành trong “khuôn vàng thước ngọc” của nền giáo dục Khổng – Mạnh Với ông Lê Thánh Tông (1441-1497) là mẫu mực của “tu thân,

tề gia trị quốc, bình thiên hạ” đã làm nên một thời bình trị của đất nước

Ông mất ngày 28 tháng 12 năm Canh Tý, Tức 20 tháng 1 năm 1841 Lăng của Minh Mạng là Hiếu Lăng, tại làng An Bằng, huyện Hương Trà, tỉnh thừa Thiên Được thờ ở Tả Nhất Án thế miếu trong Đại nội Kinh Thành Huế với Miếu Hiệu là Thánh Tổ Cao Tông Hoàng Đế

2.Những thành tựu trong việc trì vì đất nước của Minh Mạng

a.Chính trị:

Là vị vua giỏi nhất trong các vị vua Minh Mạng tinh thông mọi lĩnh vực từ kinh tế chính trị cho đến văn hoá quân sự Tiếp nhận giang sơn từ tay vua cha mới được hoà hợp

về mặt lãnh thổ, còn nặng tính chất quân quản mà phân quyền, vua Minh Mạng dường như bắt đầu tất cả Dưới đời ông giang sơn được thu về một mối, không còn Bắc tống Trấn, Nam Tống Trấn Lãnh thổ Việt Nam dưới thời Minh Mạng được mở rộng nhất trong lịch sử và Việt Nam thực sự trở thành một quốc gia hùng mạnh Vì vậy vào năm 1838, vua Minh Mạng xuống dụ đổi tên nước ta thành là Đại Nam hay Đại Việt Nam Minh Mạng cho xây thành đắp luỹ từ bắc tới Nam Đồng thời cải đổi cơ cấu triều đình thành Nội Các với Lục Bộ và Cơ Mật Viện, đổi Trấn Thành Tỉnh và chia vị trí đất nước thành

31 tỉnh Ông lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Nam nhằm khống chế Ai Lao và thực sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam Vang là Trấn Tây Thành

Trang 2

b Kinh tế:

Cùng với việc mở rộng diện tích và thế lực của mình ông cũng không quên quan tâm đến đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân Dưới thời vua Minh Mạng các làng đã thờ thần Hoàng làng, khuyến khích dân khai hoang lập ấp Vì vậy dưới thời ông trị vì nhiều làng mới được lập nên, diện tích đất canh tác cũng tăng đáng kể

Ngoài ra ngài có ý muốn cho nước cường thịnh, dân giàu, ông đã cho định lại các định chế công quyền, hành chánh, pháp luật, thuế khoá, đinh điền, tu soạn sử sách địa lý, đặt mức lương bổng của các quan tùy theo ngạch trật thống nhất việc đo lường và thống nhất y phục, sửa sang hệ thống giao thông, lập nhà Dưỡng tế ở các tỉnh để giúp đỡ những người nghèo khổ, tàn tật, già cả không nơi nương tựa…

c Văn hoá –giáo dục:

Là người thông minh Nho học, sung đạo Khổng – Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến học hành khoa cử tuyển chọn nhân tài Ngài đã cho thành lập Quốc Tử Quán, ấn định học hiệu và thi cử Sau khi lên ngôi được hai năm vua Minh Mạng đã tổ chức mở khoa thi hội đầu tiên (1822) để chọn nhân tài giúp nước Các khoa thi hội được tổ chức đều đặn Từ khoa đầu tiên (1822) đến khoa thi thứ sáu (1838) đã có 56 vị tiến sĩ và hàng chục phó bảng Các lễ vinh quy bái tổ đón các tiến sĩ, phó bảng về làng thực sự là một ngày hội làm kích thích long hiếu học trong dân chúng Bản thân nhà vua cũng rất say mê, đã từng làm thơ, soạn sách, văn học, khuyến khích việc biên soạn sách vở, nhất là loại sách

sử địa Nhiều người biên soạn sách mới, dâng sách cũ, đều được nhà vua ban thưởng khuyến khích Do vậy dưới triều vua Minh Mạng có nhiều bộ sách quý như Gia Định thành thống chí, Lịch Triều Hiển Chương loại chí…Các hoàng tử, công chúa con vua, nhiều người là những nhà văn nhà thơ xuất sắc và nỗi tiếng dưới triều vua Thiệu Trị, Tự Đức sau này

d Kiến trúc:

Không những thế dưới thời Minh Mạng tất cả các công trình lớn nhỏ của Kinh Thành Huế được sắp xếp chỉnh đốn lại Kinh Đô Huế được định hình ngay từ thời vua Gia Long nhưng phải đến đợt tái quy hoạch và chỉnh trang vào thời Minh Mạng, bắt đầu

từ năm 1833, thì diện mạo của Kinh Đô Huế mới trở nên hoàn chỉnh Trong suốt hai mươi năm trị vì vua Minh Mạng đã nâng cấp, xây dựng thêm và hoàn chỉnh các công trình kiến trúc ở Hoàng Thành và Tử Cấm Thành: xây Thế Miếu, Hiển Lâm Các (1821-1822), dời Điện Thái Hoà, xây Đại Cung Môn, Ngọ Môn (1833), đúc Cửu đỉnh (1835-1837) để tượng trưng cho sự thành công và làm thêm hàng chục công trình khác như cung Trường Sanh, Đông Cát, nhà hát Duyệt Thị Đường, sở Thượng Thiện, lầu Minh Viễn, vườn Ngự Uyển, vườn Cơ Hạ, Lục Viện v.v…

e Quân sự:

Trang 3

Ông đã cho thành lập Tôn Nhơn Phủ, điều hành các Hệ, Phòng trong việc kê khai nhân thế bộ, cấp dưỡng cũng như kiểm soát và đàn hạch trong quốc tộc Dưới triều đai ông trị vì cuộc sông thái bình, nhân dân sống no đủ nhưng ông vẫn chăm lo đến lĩnh vực quân sự Vua Minh Mạng đã thân chinh ra thao trường chứng kiến các binh sĩ luyện tập Bên cạnh đó việc đúc vũ khí vẫn được chú trọng…Mặc dù vậy dưới triều Minh Mạng vẫn

có nhiều cuộc bạo động diễn ra, chủ yếu là ở vùng sâu vùng xa do quan lại nhũng nhiểu, tham ô, bốc lột nhân dân,và cũng một phần do việc vua cấm đạo Thiên chúa gây nên nhiều sự bất bình…vì vậy nhiều người đã đứng đậy đấu tranh Như ở miền Bắc có các cuộc nỗi dậy của Phan Bá Vành, Lê Văn Lương, Nông Văn Vân, Miền nam có Lê Văn Khôi…Minh Mạng đã phải đối phó rất vất vả với những cuộc khởi nghĩa này

Minh Mạng chú ý thuần phục nhà Thanh, nhận dự phong Vương của nhà Thanh Còn đối với các nước phương Tây, ông không có thiện cảm Năm 1832 tổng thống mỹ đã cho đưa quốc thư sang xin đặt quan hệ, nhưng nhà vua cũng không tiếp Chính sách thụ động như vậy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước Ông cũng không có thiện cảm với Thiên chúa giáo, chủ trương phải cấm đạo để giữ gìn phong tục nước nhà Nhưng mặt khác ông vẫn cho người đi các nước ở vùng biển Đông để thông thương, mua bán hàng hoá, và cho học cách đóng tàu của người phương Tây cũng như các kỹ thuật khác.Đặc biệt dưới thời của ông tàu chạy bằng hơi nước đã được làm

Với sự thông minh tài trí của mình, Minh mạng đã đưa một Đại Nam phát triển về mọi mặt Trong sự phát triển của nước nhà vai trò của Minh Mạng vô cùng to lớn

II Quá trình xây lăng Vua Minh Mạng

Lên làm vua được 7 năm Vua Minh Mạng cho người đi tìm đất xây lăng cho mình, quan địa lí Lê Văn Đức đã tìm vị trí tốt tại núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lăng , nơi hợp lưu của hai nguồn tả hữu Trạch tạo nên sông Hương Nhưng mãi 14 năm cân nhắc vua mới quyết định chọn nơi này Tháng 4/1840 vua xem chỗ đất và đổi tên vùng núi cẩm khê thành núi Hiếu Sơn Vua sai các quan đại thần khảo sát địa thế đo đạc đất đai và vẽ toàn bộ núi đồi, khe suối, sông ngòi ở đây cùng sơ đồ dự án kiến trúc La Thành, Bửu Thành, điền, lầu, đình, tạ, đường, viện cho đến nơi đào hồ làm cầu dựng cửa… Đích thân nhà vua phê chuẩn , xem xét đồ hoạ thiết kế của các quan Tháng 9/1840 triều đình huy động 3000 lính và thợ điều chỉnh mặt bằng và xây dựng vòng la thành xung quanh khu vực kiến trúc trên khu đất 14 ha Tất cả các công trình đăng đối theo trục dọc thể hiện sự bền vững Sau 8 tháng thi công công trình 1/1841 nhà vua băng hà giữa lúc ông 50 tuổi

Một tháng sau vua thiệu trị tiếp tục xây lăng và sai các quan đại thần Tạ Quan Cự ,

Hà Duy Phiên, Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Tri Phương và Tôn Thất Đường đứng ra lo liệu công tác ấy Triều đình điều 1 vạn lính và thợ bộ binh và bộ công lên làm việc: 7 viên quan , 140 viên suất đội , 7000 biền lính Trong không khí oi bức của mùa hè năm ấy, tại công trình đã có 3000 người bị kiết lị cùng một lúc Nhà vua bắt Thái Y Viện phải đem

Trang 4

tất cả các y sinh và thuốc men trong viện lên chữa cho bằng được Ngay sau khi bệnh dịch được dập tắt, việc xây dựng lăng được tiếp tục Quan tài vua Minh mạng được đưa vào chon ở Bửu Thành bằng con đường toại đạo 8/1841 và tấm bia “Thành Đức Thần Công” mới hoàn tất theo đồ án của vua Minh Mạng để lại

III Tổng thể lăng Vua Minh Mạng

Lăng Minh Mạng là tổng thể qui mô khoảng 40 công trình lớn nhỏ, nằm trên khu đồi núi ven sông thoáng mát Thầy địa lí Lê Văn Đức rất có lí trí khi chọn vị trí này vì vùa hợp với thuật phong thuỷ vừa hợp với cảnh quan xung quanh Trong chu vi được giới hạn bởi vòng La Thành dài 1750m là quần thể kiến trúc là cung điện, lâu đài, đình, tạ được bố trí đăng đối trên một trục dọc theo đường thần đạo dai 700m , bắt đầu từ đại Hồng Môn đến La Thành sau mộ vua Hình thể lăng giống như người đang nằm nghỉ với

tư thế thoải mái đầu gối lên núi kim Phụng, chân duỗi ra ngã ba sông ở trước mặt , hai nửa hồ Trừng Minh như đôi cánh tay buông xuôi tự nhiên bên trong La Thành là các công trình kiến trúc được bố trí đối xứng nhau thành từng cặp qua trục chính xuyên tâm lăng Tất cả đều được sắp sếp theo trật tự chặt chẽ có hệ thống giống như xã hội ông đang cai trị, một xã hội tổ chức theo chính sách từ trung ương tới địa phương hết sức chặt chẽ

Qua bố cục của lăng ta có thể thấy được đức tính và phong cách của vua Minh Mạng đó là tham vong của ông vua muốn ôm trọn vũ trụ vào lòng mình Lăng có 5 vòng tròn: Mộ vua hình tròn ở giữa tượng trưng cho mặt trời, vòng thư hai hồ Tân Nguyệt , vòng thứ ba La Thành, vòng thứ tư là sông Hương, vòng thứ 5 là đường chân trời Nếu ta nhìn từ trên cao xuống , ta thấy quần thể kíên trúc này gồm 2 chữ Minh Mạng Nếu quan sát từ đất ta thấy được chữ Minh gồm hai chữ Nhật và nguyệt cộng lại

IV Nguyên tắc sơn thủy ở lăng Vua Minh Mạng

Do ảnh hưởng quan niệm “sống gởi thác về” của nhà nho và triết thuyết “sắc không vô thường” của nhà phật, mỗi ông vua triều Nguyễn lúc còn tồn tại trên ngai vàng đã xây cho mình một “ngôi nhà vĩnh cữu” để sống ở thế giới bên kia Ngôi nhà vĩnh cữu này được tạo dựng như một “hoàng cung thứ hai” trên cõi đời này để thỉnh thoảng vua đến đây nghỉ ngơi tiêu khiển và khi mất thì nơi này trở thành nơi an giấc ngàn thu Trị vì trên ngai vàng được 7 năm, khi ở tuổi 36, Minh Mạng cho người đi tìm đất để xây dựng Sơn Lăng cho mình Hầu hết nhân lực, vật liệu nhà nước và năng lực của chính nhà vua nữa, đều được đỗ ra trong nhiều năm để thực hiện việc xây lăng

Xuất phát từ quan niệm tinh thần Hoàng Đế là “thiên tử” (con trời) nên cũng giống như mặt trời, sinh ra từ phương Đông và trở về ở phương Tây Và hình ảnh mặt trời lặn biểu hiện vua băng hà Khi đã thăng hà vua cùng mặt trời đi về phương Tây để an giấc

Trang 5

ngàn thu nơi suối đồi tĩnh mịch Mặt khác theo nguyên tắc sơn thuỷ của Đông phương và thuyết âm dương, thuyết ngũ hành của dịch học các nhà kiến trúc đầu thế kỉ XIX bố trí hệ thống các ông trình kiến trúc quay mặt về hương Nam Bởi trong kinh dịch chỉ rõ: “thành nhân nam diện nhi thính thiên hạ”(vua quay mặt về hướng nam để cai trị thiên hạ) Đây là điều mà các nhà kiến trúc dưới thời Nguyễn phải tuân thủ triệt để Đó là phần việc

chuyên môn của các quan bộ lễ, ở Khâm Thiên Giám và một vài cơ quan khác Âm phần của các vua có phát hay không, hậu vận của hoàng tộc có tốt hay xấy đều do sự lựa chọn cuộc đất “vạn niên cát địa”này Cát là điềm lành tốt đẹp, phước đức, vùng đất mãi mãi làm nên phú quý, thọ, khang, ninh cho hàng vạn năm sau Lăng tẩm nào cũng liên quan đến thực thể địa lý tự nhiên, như sông, núi, ao hồ, khe suối và nhất là huyền cung nơi trung tâm điểm của mặt bằng kiến trúc phải toạ lạc đúng long mạch

Các thầy địa lý giỏi bây giờ đi khắp mọi nơi để chọn “huyệt kết” Huyệt kết là nơi hội tụ mọi tinh hoa của long mạch, nơi làm cho mồ mả, nhà cửa vượng phát Đó là nơi hộ

đủ các nguyên tắc “sơn triều thuỷ tụ”, “tiền án hậu chẩm”, “tả thanh long”, “hữu bạch hổ”, “huyền thuỷ minh đường”…

Theo nguyên tắc đó quan địa lý Lê Văn Đức đã chọn được một cuộc đất tốt ở địa phận núi Cẩm kê, gần ngã ba Bằng Lãng, nơi hợp lưu của hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch để tạo thành con sông Hương mênh mông một dải gương nước in bóng núi kì thú Đời con, đời cháu sau này có vượng, phát…hay không đều phụ thuộc vào cuộc đất ấy Nên phải rồng rã 14 năm chọn lựa, cân nhắc, đến năm 1840, khi được 50 tuổi cùng với lễ thượng thọ, nhà vua mới quyết định cho xây dưng lăng tẩm của mình ở nơi này Đích thân nhà vua xem xét, phê chuẩn họa đồ thiết kế do các quan Bùi Công Huyên, Trương Đăng Quê và Giám thành vệ dâng lên Chủ đề tư tưởng nghệ thuật do nhà vua đưa ra, đồ

án kiến trúc do vua duyệt khan Ngự dụ huyệt lại lần cuối địa điểm Nhà vua cho đổi tên núi Cẩm Kê (thuộc ấp An Bằng, huyện Hương Trà) thành Hiếu Sơn và gọi tên lăng là Hiếu Lăng

Trong nguyên tắc sơn thuỷ, yếu tố thuỷ không bao giờ thiếu được Các di tích của Huế nói chung và lăng Minh Mạng nói riêng đều gắn liền với yếu tố mặt nước Có thể đó

là một dòng sông, một nhánh suối, khe, có thể là một chiếc hồ…Vì trong tâm thức cư dân lúa nước cuộc sống không thể tách rời yếu tố nước Mặt khác do tiếp thu ảnh hưởng của

Trang 6

văn hoá trung hoa từ ngàn năm nay (xem thuỷ là phần quan trọng để quân bình âm dương ngũ hành cho cả cuộc đất Vậy nên các cung điện, đền đài, lăng tẩm Huế đều được xây dựng ở vùng đồng bằng phù sa thấp hoặc kề cận sông suối gắn liền với hệ thống sông Hương Có thể nói sông Hương là xương sống, là một trục nước đặc biệt của kiến trúc Huế Lăng Minh Mạng cũng không ngoại lệ Khu đất xây lăng lấy ngã ba Bằng Lãng, nơi hợp lại Tả trạch và Hữu trạch của con sông Hương, làm “thuỷ tụ” – “minh đường” Đây

là nơi tụ thuỷ, tụ khí, tụ phúc cho con cháu

Mặt khác như ta biết lăng các vua nhà Nguyễn là một vùng rộng lớn, có lăng rộng đến 28 km2 (lăng Gia Long)…Phía trước mỗi lăng luôn luôn có một ngọn núi làm tiền

án, ngọn núi này có thể cách xa lăng đến cả chục cây số Ngọn núi này như một cái bàn đặt phía trước người ngồi Ngọn núi ở phía sau được chon làm hậu chẩm, giống như một cái gối nằm ngủ Ngoài ra phía bên trái và phải của huyệt cũng có hai ngọn núi chầu vào làm rồng chầu, hổ phục Đây là nguyên tắc sơn thuỷ mà các nhà kiến trúc triều Nguyễn đều tuân theo khi xây dựng công trình lăng tẩm Đối với lăng Minh Mạng quan địa lý Lê Văn Đức đã chọn cuộc đất có đồi Phú Sơn (Sương Thuỷ) làm tiên án, núi Ngọc Trấn làm rồng chầu, ngọn Tôn Sơn làm hổ phục Những ngọn núi này bao quanh lăng làm bình phong ngăn cơn gió độc, làm ấm áp người đã khuất

Nhờ tuân theo nguyên tắc sơn thuỷ mà lăng Minh Mạng trở thành một công trình kiến trúc vô cùng đặc biết, không chỉ về kiến trúc mà cả tinh thần Cùng với quan niệm

âm dương, ngũ hành…làm cho lăng có không gian rất riêng biệt Lăng còn là sự kết hợp hài hoà giữa cái cổ kính của các công trình nhân tạo và cảnh quan thiên nhiên nên không còn là nơi u sầu buồn bả nữa mà rất đẹp, có đồi, có núi, hồ, suối…Nó khiến du khách thực sự ngạc nhiên khi vào thăm lăng

V Giới thiệu về các công trình ở lăng Vua Minh Mạng

1 Phần 1: Từ Đại Hồng Môn đến Điện Sùng Ân

Đầu tiên là Đại Hồng Môn là cổng chính đi vào lăng cao 9 m rộng 12m, cổng có 3 lối đi với 24 mái lô nhô cao thấp, được trang trí rất đẹp Cổng chỉ mở một lần lúc đưa quan tài của nhà vua vào lăng , sau đó được đóng kín để tỏ lòng tôn kinh nhà vua Đại Hồng Môn-cửa đi vào niềm vui lớn, vậy tại sao lại gọi như vậy, có lẽ rằng có chết của con người là một qui luật, đồng thời quan niện “sống kí, tử quy” sống chỉ là tạn thời chết

Trang 7

là sang một thế giới vĩnh hằng Ra vào phải đi hai bên của phụ tả và hữu Hồng Môn vì vậy lúc mới vào đoàn chúng ta đi bằng cửa phụ chứ không đi bằng cổng chính là lí do đó

Và chúng ta đang đứng tại sân chầu, gạch dưới nền được lát bằng gạch Bát Tràng , hai bên có hai hàng tượng quan biên, voi, ngựa Trong năm tượng quan thì có hai tượng quan văn và ba tượng quan võ điều này nói lên rằng vua Minh Mạng là vị vua rất coi trọng nho giáo phát triển giáo dục nhưng ông cũng là người rất coi trọng võ để bảo vệ độc lập dân tộc trong bối cảnh các nước phương Tây đang mở rộng xâm lược thuộc địa ở châu Á Người ta xây dựng các hình tượng này vì với quan niện rằng sau khi vua băng

hà thì vẫn còn trị vì ở thế giới bên kia cho nên cần những con vật cưỡi và các quan để đứng chầu nhà vua để bảo vệ như khi còn sống Tiếp đến là hai con nghê (con vật tưởng tượng ăn cỏ, đầu sư tử, mình ngựa, chân đại bàng) chức năng là để giám sát long trung thành của quan lại nhà Nguyễn

Phía sau sân chầu là nhà bia, trong nhà bia là tấm bia “Thánh Đức Thần Công” (đức như thánh, công như thần nghĩa của cụm từ này là công đức của nhà vua như thánh thần) được làm từ khối đá xanh cao hơn 5m lấy từ Thanh Hoá vào Nội dung tấm bia viết

về tiểu sử và công đức của vua Minh Mạng do vua Thiệu Trị viết Nhà bia được làm ở trên cao như tôn thêm công lao của một vị vua tài, anh minh, quyết đoán của nhà

Nguyễn

Đi qua nhà bia sẽ vào Hiển Đức Môn mở đầu cho khu vực điện tẩm Hiển Đức Môm nghĩa là cửa vào nơi vinh hiển của nhà vua Sau Hiển Đức Môn được giới hạn bởi một lớp thành hình vuông biểu trưng cho đất vuông Ở trung tâm khu vực là điện Sùng

Ân ( sung-tôn sung, ân-là ân đức, ân nghĩa: nghi nhớ sự tôn sùng ân tình, ân nghĩa của vua nơi thờ bài vị của vua và kế bên đó là bài vị của bà Tả Thiên Hoàng Hậu (Hồ Thị Hoa) Ngôi điện được xây dựng theo lối nhà kép, còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc ( nhà nối liền nhau, mái chồng lên nhau)” Mái sau của nhà trước nối với mái trước cuả nhà sau bằng mái vỏ cua hay gọi là “trần thừa lưu” Bên trên trần có máng sối bằng đồng hứng nước của hai mái nhà này rồi chảy xuống mái hạ hai bên có miệng rồng đắp nổi Nơi đây tượng trưng cho nơi nghỉ của nhà vua Và hai bên của điện Sùng Ân là nơi thờ các quan

và cung tần Và quí khách thấy đấy, đây là Hoằng Trạch Môn (cửa vào nhà vua) là gianh giới nơi thờ và mộ táng, đầy hoa ngát hương, là nơi mở đầu cho thế giới đầy an nhàn và

Trang 8

siêu thoát, vô biên Bước xuống 17 bậc thềm bằng đá Thanh dịu mát để rơi mình vào khoảng không gian đầy hoa thơm cỏ lạ Từ đây ta thấy ba cây cầu bắc qua hồ Trừng Minh và một trong ba cây cầu đưa chúng ta tới minh Lâu nằm chân đồi Tam Tài Sơn, là nơi vua ngắm cảnh, ngắm trăng và suy ngẩm nhân thế

Như vậy qua tôi giới thiệu quí khách có thể thấy được những nét kiến trúc nổi bật của khu lăng ngoài tính cách đăng đối uy nghiêm đường bệ , lăng Minh Mạng còn có nét quyến rũ của thiên nhiên đã được chỉnh trang lại làm bối cảnh cho các công trình kiến trúc

Các kiến trúc sư bậc thầy ngày nay cũng phải khâm phục trước nghệ thuật tạo hình tuyệt diệu của lăng này

2 Phần 2 : Từ Minh Lâu đến Mộ Vua

Thưa quý khách, quý khách vừa đi qua cây cầu có tên là “ Trung Đạo kiều ” và trước mặt quý khách đây là Minh Lâu Như quý khách cũng thấy, tòa Minh Lâu này có dạng hình vuông, nằm trên quả đồi có tên là Tam Tài Sơn Minh Lâu cũng là một điểm nằm trên trục chính của đường Thần đạo và là công trình có vị trí cao nhất tính theo mặt bằng của lăng Minh Lâu có nghĩa là lầu sáng, là nơi đi về của linh hồn tiên đế Đây là nơi dừng chân của Vua trên đường bước vào cõi thiên thai và cũng được hiểu là nơi nhà Vua suy tư vào những đêm hè trăng thanh gió mát Minh Lâu được xem như là “ Bộ ngực kiêu hãnh ” của con người được ví bởi hình dáng của khu lăng và là công trình có giá trị đặc sắc nhất của lăng Minh Mạng

Kính thưa quý khách, Minh Lâu là tòa nhà gỗ 2 tầng với lối kiến trúc chồng rường giả thủ: 2 lớp mái biểu trưng: Dương nhẹ ở trên và Âm nặng ở dưới thật hài hòa, 4 mặt biểu trưng cho tứ tượng và 8 mái là biểu trưng cho bát quái Ở trên đỉnh là bình hồ lô lưỡng nghi để hút lấy sinh khí của trời đất Hôm qua quý khách đã đi tham quan lăng Tự Đức và lăng Khải Định và giờ đây là lăng Minh Mạng thì hẳn quý khách sẽ nhận thấy một điều rằng : chỉ mỗi lăng Minh Mạng là có Minh Lâu, điều này thể hiện tư tưởng thoáng đạt và tầm nhìn thật trí tuệ của vua Minh Mạng

Bây giờ xin mời quý khách vào bên trong Minh Lâu: ở bên trên quý khách có thể thấy các bộ vì kèo hình cánh ác, trạm trổ đầu rồng liên kết với nhau thật chặt chẽ, vững chắc Số lượng các cột vì kèo là 5 và 9 mà theo quan niệm của người phương Đông và

Trang 9

trong kinh dịch thì con số 5 và số 9 là những con số đẹp và may mắn Số 5 là biểu tượng cho ngũ hành : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, còn số 9 là biểu tượng cho Thiên tử là nhà Vua Chính vì lẽ đó mà các Vua đã vận dụng trong việc xây dựng cho các lăng tẩm, chùa chiền và lăng Minh Mạng là một điển hình, thể hiện rõ quan niệm sống : “ Sinh ký, Tử quy ” có nghĩa là “ Sống chỉ là tạm, và khi chết mới là vĩnh hằng” Chính vì quan niệm sau khi chết đi, cái còn lại là cái vĩnh hằng mà Vua Minh Mạng, ngay từ khi còn sống đã cho xây dựng lăng tẩm cho mình Đây là sự chuẩn bị cho một cái chết vĩnh hằng, điều này thể hiện cách lý giải về vũ trụ và nhân sinh quan của người xưa

Ở ngay chính giữa tòa nhà, sập gỗ liêm này là chỗ giành cho nhà Vua ngã lưng vào buổi trưa để hóng mát, nhưng sự thật thì vua Minh Mạng chưa một lần lên đây để nằm nghỉ thì đã băng hà và Minh Lâu được dựng lên chỉ là tượng trưng Sau này, con cháu vua Minh Mạng lên viếng mộ Vua cha thì dừng chân nghỉ ở tòa nhà này

Quý khách cũng có thể thấy ở bên trên, xung quanh là những ô hợp được trang trí hoa lá hoặc khắc in những bài thơ, câu thơ Tất cả được sơn son thiếp vàng rất đẹp

Những đường nét hoa văn được chạm khắc tinh tế, nhẹ nhàng, phản ánh những hình ảnh rất gần gũi với con người và với cuộc sống Những bài thơ này nói về nông thôn , cây lúa

và con người Có ý kiến cho rằng, những bài thơ này được Vua Thiệu Trị ( là con Vua Minh Mạng ) trong thời gian tiếp tục cho thi công công trình lăng đã cho in khắc vào, nhưng qua tìm hiểu và xét ở một khía cạnh khác thì có thể cho rằng hầu hết những bài thơ này đã được chính Vua Minh Mạng phê duyệt từ trước, bởi Ông là một người có tâm huyết và đồng điệu với làng quê, đất nước Và một trong những bài thơ hay, là bài thơ vịnh ngôi nhà người đạo sĩ ở ẩn rất đẹp, được Hoàng Phủ Ngọc Tường tạm dịch :

“ Long lanh ngọc đính trên sa

Thảnh thơi một mái khuất xa thị thành

Thú vui cao sĩ ẩn mình

Nằm trong mây khói bồng bềnh khói thu ”

Không những là một “ thi sĩ ”, Minh Mạng còn là một vị Vua năng động và rất quan tâm đến võ bị, nhất là thủy quân Điều này thể hiện qua việc trong thời gian trị vì, Vua đã sai người đi tìm hiểu cách đóng tàu của người Châu Âu và ước vọng làm sao cho người Việt đóng được tàu kiểu Tây và biết lái tàu vượt đại dương

Trang 10

Kính thưa quý khách, Tôi xin nhắc lại với quý khách một lần nữa rằng : Quý khách đang đứng trong tòa Minh Lâu này đây, là công trình có vị trí cao nhất so với các công trình kiến trúc khác của lăng Từ đây, quý khách có thể thấy được các công trình ở phía trước và cả ở đằng sau Minh Lâu Như ở phía trước Minh Lâu này nhìn ra quý khách

có thể thấy Trung Đạo kiều, Hoằng Trạch Môn, điện Sùng Ân và cả Bi Đình còn ở phía sau là Bửu Thành mà quý khách có thể thấy ở đằng xa kia

Kính thưa quý khách, xuyên suốt trục Thần đạo của lăng từ Đại Hồng Môn đến Bửu Thành, tất cả các công trình chính được bố trí ở 5 tầng sân tượng trưng cho Ngũ hành, còn các công trình phụ được bố trí đối xứng 2 bên, từng cặp một qua trục chính xuyên tâm lăng Trên mặt cắt kiến trúc dọc theo đường Thần đạo, các công trình cao thấp theo một nhịp điệu vần luật nhất quán, âm và dương xen kẽ nhau, tạo nên một nét đẹp riêng cho công trình kiến trúc lăng tẩm này Tất cả đã được sắp đặt theo một trật tự chặt chẽ, có hệ thống, giống như xã hội đương thời – một xã hội được tổ chức theo chính sách trung ương tập quyền của chế độ quân chủ tôn sùng nho học đến mức tối đa Bố cục kiến trúc ấy cũng phản ánh và nói lên tích cách, phong cách của chính vua Minh Mạng

Và nếu được nhìn từ trên cao, quý khách có thể thấy các hạng mục kiến trúc chính xếp thành một cành hoa, với bông hoa là khu mộ vua, những chiếc lá đối xứng 2 bên là các phần công trình kiến trúc phụ khác ở 2 bên hồ nước Cũng có quan niệm, có thể suy tưởng rằng : toàn bộ quần thể lăng giống như phần trên của cơ thể con người, với đầy đủ tim, phổi là khu tưởng niệm, và đầu óc là phần mộ Vua Hình thể lăng tựa dáng một người nằm nghỉ trong tư thế thoải mái, đầu gối lên núi Kim Phụng, chân duỗi thẳng ra ngã 3 sông trước mặt, 2 nữa hồ Trừng Minh như đôi cánh tay buông xuôi một cách tự nhiên

Các nhà kiến trúc thời ấy đã khôn khéo lợi dụng được thế đất và các ngọn đồi để nâng chiều cao của các công trình kiến trúc lên, làm cho lăng Minh Mạng trở thành một

kỳ quan được thiết kế xây dựng kỳ công trong một không gian hoành tráng hùng vĩ, toát lên vẻ đường bệ, uy nghiêm nhưng vẫn hài hòa với cảnh quan thiên nhiên một cách tuyệt vời Bố cục lăng tạo hình gợi cảm, tiết điệu, có giá trị thẩm mỹ cao, phản ánh tâm linh, quan niệm vĩnh cữu và huyền bí phương Đông

Ngày đăng: 06/12/2016, 12:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w