Thường khi chàng trai đến tuổi lấy vợ, ba mẹ chàng trai sẽ nhờ ông mai hoặc bà mai tìm xem nhà nào có con gái mới lớn để chọn làm dâu con của mình.. Sau khi ông mai tìm được nơi phù hợp,
Trang 1Giảng viên hướng dẫn
ĐIỂM:
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
GIẢNG VIÊN KÍ TÊN
Trang 2MỤC LỤC
A – LỜI NÓI ĐẦU 4
B – NỘI DUNG 5
I - HÔN LỄ Ở MIỀN NAM VIỆT NAM XƯA 5
1 Tuổi đính hôn 5
2 Lễ Nạp thái 6
3 Lễ Vấn danh 6
4 Lễ Nạp cát 7
5 Lễ Nạp tệ 7
6 Lễ Thỉnh kì 7
7 Lễ Thân nghinh 7
II – LỄ CƯỚI MIỀN NAM NGÀY NAY 8
1 Tuổi dựng vợ gả chồng 9
2 Lễ Dạm 9
3 Lễ Hỏi 9
a Lễ y kì 10
b Lễ Bái từ đường 10
c Lễ cho đồ nữ trang và trang phục cô dâu 11
d Lễ dỡ mâm trầu 12
e Lễ kiếu 13
4 Lễ Cưới 14
a Trước ngày rước dâu 14
b Ngày rước dâu 17
c Lễ Phản bái 20
Trang 3Lưu ý một số điều kiên cử trong lễ cưới, hỏi ở Nam Bộ 21
III - NHẬN XÉT VỀ HÔN LỄ Ở VIỆT NAM NGÀY NAY 22
IV – LÀM THẾ NÀO ĐỂ TỔ CHỨC MỘT HÔN LỄ LÀNH MẠNH 23
PHỤ LỤC: Một số hình ảnh về lễ cưới Nam Bộ 26
C - KẾT LUẬN 31
Link tham khảo 32
Trang 4A – LỜI NÓI ĐẦU
Hôn nhân là việc quan trọng của một đời người Ông bà ta đã dạy rằng: trai khôn dựng vợ , gái lớn gã chồng, điều này cho thấy việc xây dựng hạnh phúc gia đình đã trở thành một quy luật tất yếu khi chúng ta bước vào tuổi trưởng thành Ở đời, người ta hạnh phúc nhất là khi trải qua những khoảnh khắc trong ngày hôn lễ
Người xưa quan niệm cưới hỏi là một trong ba việc lớn của đời người: tậu trâu, cưới vợ, làm nhà, cho nên tập tục cưới sinh cũng được tổ chức với rất nhiều nghi lễ rình rang, tốn kém, phải tuân thủ theo nhiều lễ giáo phong kiến rất khắt khe Ngày nay, nhiều đám cưới tổ chức theo nếp sống mới, giúp cho đôi vợ chồng trẻ và hai họ không phải vất vả, không tốn kém tiền bạc mà còn đem cả niềm vui, hạnh phúc thật sự cho đôi vợ chồng mới
Bài tiểu luận này lấy thông tin chỉ ở khu vực Nam Bộ, nên mang tính đặc trưng vùng miền, có khác nhiều so với những khu vực khác
Trang 5B - NỘI DUNG
I – HÔN LỄ Ở MIỀN NAM VIỆT NAM XƯA
Việt Nam là một quốc gia chịu ảnh hưởng của phong kiến khá dài nên chuyện trăm năm của con cái đều do cha mẹ định liệu Ngày xưa, gia đình nào mỗi lần dựng vợ gã chồng cho con cái của mình là một lần phải trải qua những thử thách trước những nghi thức và lễ tục rườm rà Ông bà ta có câu “lục lễ bất bị, trinh nữ bất hành” Nghĩa là chưa đủ sáu lễ thì cô gái trinh chưa được lên xe hoa Chính vì vậy, trước khi tổ chức lễ cưới, người ta luôn phải có sự học hỏi, phải bàn bạc trước với những người có kinh nghiệm để làm sao có thể tổ chức
được một đám cưới thật hòan chỉnh với đầy đủ nghi lễ và tránh được những thiếu sót trong quá trình hôn lễ diễn ra
1 Tuổi đính hôn:
Người Việt Nam xưa có quan niệm rất coi trọng vấn đề tuổi tác khi làm bất cứ việc gì Tuổi tác có hợp, có đẹp thì mọi chuyện mới tốt đẹp Và đặc biệt trong chuyện cưới xin- một việc quan trọng của đời người thì việc xem tuổi đính hôn lại càng trở nên cần thiết “Nữ thập tam, nam thập lục” , nữ thì
Trang 6mười ba tuổi, nam thì mười sáu tuổi đã có thể kết hôn được rồi Và hai mươi
ba gọi là cưới muộn Không chỉ có thế, có nhà ước hôn với nhau từ trong thai
Tục vợ chồng lấy nhau hơn kém nhau một hai tuổi là vừa đôi, nhân gian
có câu “gái hơn hai, trai hơn một”, nữ hơn nam hai tuổi hoặc nam hơn nữ một tuổi được cho là tốt Khi đã xác định được tuổi đính hôn rồi, người ta bắt đầu giạm hỏi cho con mình
Thường khi chàng trai đến tuổi lấy vợ, ba mẹ chàng trai sẽ nhờ ông mai hoặc bà mai tìm xem nhà nào có con gái mới lớn để chọn làm dâu con của mình Sau khi ông mai tìm được nơi phù hợp, ba mẹ chàng trai cùng ông mai đến nhà cô gái để thực hiện lễ đầu tiên trong lục lễ, đó là lễ nạp thái
2 Lễ Nạp thái:
Như đã trình bày ở trên, lễ đầu tiên trong phong tục cưới hỏi của nhân gian xưa là lễ Nạp thái Ở lễ nạp thái, nhà trai mang sang nhà gái một miếng trầu cau biểu tượng cho hôn nhân, rượu trắng tượng trưng cho lễ nghĩa vì người xưa có câu vô tửu bất thành lễ Lễ nạp thái chỉ có ba mẹ chàng trai, ba mẹ cô gái cùng ông mai bàn chuyện với nhau Chàng trai và cô gái chưa hề biết mặt nhau
3 Lễ Vấn danh:
Sau lễ nạp thái là lễ vấn danh Lễ này nhà trai mang sang nhà gái hai miếng trầu cau cắt phải còn dính vào nhau để cầu mong cho đôi trẻ gắn bó với nhau suốt đời, và cũng không thể nào thiếu rượu trắng được Ngoài ra trong lễ vấn danh, nhà trai còn mang sang nhà gái trà, bánh mứt… Vấn danh trong tiếng Hán có nghĩa là hỏi tên Vì thế ở lễ này nhà trai hỏi tên, tuổi, vận mệnh
cô gái xem có hợp với tuổi, vận mạng của chàng trai hay không
Trang 74 Lễ Nạp cát:
Nếu nhà trai xem tuổi cô gái đã hợp với tuổi chàng trai rồi thì sẽ đến lễ tiếp theo là lễ nạp cát Trong lễ này, nhà trai mang sang nhà gái ba miếng trầu cau, rượu, trà, bánh, mứt cùng mảnh giấy hồng điều ghi tên tuổi cô gái và chàng trai đã hợp nhau Lễ này nhằm báo cho nhà gái biết con gái họ đã được chọn và chuẩn bị tiến hành lễ thứ tư là lễ nạp tệ
5 Lễ Nạp tệ
Sau lễ Nạp cát diễn ra không lâu, nhà trai sẽ trình lễ nạp tệ Lễ này là nhà trai mang sang nhà gái một số tiền để hỗ trợ nhà gái tổ chức tiệc cưới, mâm bàn, trà bánh Số tiền này gọi là “tiền đũa” hay “tiền đồng” Lễ này đơn giản là chỉ có mặt ba mẹ của chàng trai và ba mẹ cô gái
6 Lễ Thỉnh kì:
Nhà trai mang đến nhà gái năm miếng trầu cau cùng với rượu trà, bánh, trái, và lễ vật đính hôn Lễ vật đính hôn ở Nam Bộ thường là đôi bông tai bằng vàng Từ lễ thỉnh kì, cô gái xem như đã trở thành con dâu của nhà trai
Trong lễ thỉnh kì, ngoài ông mai, ba mẹ hai bên, chàng trai, cô gái còn
có các ông bà, thân tộc hai bên cùng đoàn người bưng mâm quả
7 Lễ Thân nghinh:
Sau khi đã thực hiện đầy đủ năm lễ nêu trên họ nhà trai sẽ tiến hành lễ than nghinh Nhà trai sẽ đem sáu miếng trầu cau, bánh trái, rượu trà, trang phục
cô dâu cùng với số tiền gọi là đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của ba mẹ
cô dâu Khoảng tiền này gọi là tiền đồng để rước dâu Trước đó thì nhà trai phải nộp cho làng xã của cô gái đó số tiền công ích gọi là “tiền cheo”
Trang 8Khi thực hiện nghi lễ ở nhà gái xong rồi, nhà trai sẽ tiến hành rước dâu
để đưa cô gái đó về nhà mình Lễ này rất quan trọng, bởi nên có sự hiện diện của ông mai, ba mẹ chàng trai và cô gái, đoàn người mâm quả, ông bà thân tộc của hai gia đình Sau lễ này, cô gái chính thức trở thành vợ chàng trai, trở thành con dâu trong gia đình chàng trai
Nho giáo rất coi trọng lễ nghĩa, vì thế trong tất cả các lễ đã trình bày ở trên, chàng trai cô gái, ba mẹ hai bên, và tất cả mọi người đều phải mặc áo dài, chân đi guốc mộc, lời nói phải nhã nhặn từ tốn, hành động phải mực thước
II – LỄ CƯỚI MIỀN NAM NGÀY NAY
Do nho giáo ngày càng suy yếu, chế độ phong kiến tan rã, xã hội ngày càng hiện đại kéo theo đó là những nguyên tắc, thủ tục rườm rà trong cưới sinh cũng đã nhiều phần thay đổi, ngày càng hiện đại hơn, đơn giản hơn những vẫn giữ được những ý nghĩa vốn có của nó Tục ngữ có câu “cổ tuy lục lễ, hậu thế tồn tam” Xưa quy định sáu lễ, nay chỉ còn ba lễ: Lễ dạm, Lễ hỏi và Lễ cưới
Trang 93 Lễ hỏi:
Sau khi dạm hỏi và nhà gái đã nhận lễ rồi, nhà trai sẽ tiến hành lễ ăn hỏi
Lễ này tương đương với lễ nạp cát và lễ thỉnh kì của lục lễ ngày xưa Vì thế nên lễ hỏi có mặt chàng trai, cô gái, cha mẹ hai bên, ông bà cô bác cùng đoàn người bê mâm quả Nhà trai phải đem bốn miếng tràu cau, rượu, trà, bánh trái đến nhà gái để thực hiện lễ hỏi Thường thì thành phần mâm quả như sau: một quả cái cây, một quả bánh, một quả trà, một quả mứt ngọt, một quả bánh kem
và quan trọng hơn hết là một quả trầu cau Miền nam chuộng số chẵn nên mâm quả thường là số chẵn, thường là sáu quả, đôi khi là tám quả Mâm quả khi nhà trai mang đến phải có phủ vãi hồng điều, trên mảnh vải đó có thêu hình long phụng và chữ song hỷ Ngoài ra còn có một cặp rượu trắng, một đôi đèn to Nhà trai cần chuẩn bị một người rể phụ để bê khay trầu rượu Khay trầu rượu là một khay nhỏ hình vuông, trên có một cái nhạo rượu, hai cái chung nhỏ, một cái hộp hình trụ tròn trong để để trầu cau
Trang 10Về phía nhà gái phải trang trí nhà cửa thật đẹp, khang trang, phải có cổng hoa, trên treo bảng ghi ba chữ “Lễ Đính Hôn”
Một lễ hỏi thường có những bước như sau:
a Lễ y kỳ:
Ông trưởng tộc nhà trai trình lễ y kỳ( tức là đúng hẹn) xin phép bên
họ nhà gái cho phép họ trai nhập gia để tiến hành các nghi lễ của lễ hỏi Được trưởng tộc bên họ nhà gái nhận lời và cử đại diện ra mời họ nhà trai vào nhà trình lễ nói Sau khi họ nhà trai vào xong và an vị chỗ ngồi, chú rể phụ rót rượu, ông trưởng tộc nhà trai trình lễ vật, mâm quả, rượu trà bánh mứt
b Trình lễ bái từ đường:
Họ nhà gái mở mâm quả, lấy mỗi thứ một ít để lên bàn thờ gia tiên Trưởng tộc nhà gái, cũng có thể là ba của cô dâu thắp đôi đèn mà nhà trai mang đến, nghi thức này gọi là lễ lên đèn, rất quan trọng với đám cưới ở miền nam Đèn phải cháy đều, không được một bên cháy mạnh bên còn lại
Trang 11cháy yếu Nhiều nơi kiên cử đến lễ lên đèn thì đóng cửa tắt quạt, vì nếu gió làm tắt ngọn đèn thì cô dâu chú rể ăn ở với nhau không bền, yểu mạng Sau khi lên đèn, cô dâu và chú rể thực hiện nghi thức lạy tổ tiên, rồi đến lễ bái tộc hai họ, lại ông bà hiện tiền, lại cha mẹ, cô bác, cậu dì, chú thím của hai bên
c Lễ cho đồ nữ trang và trang phục cô dâu:
Lúc này cô dâu cuối đầu chào hai họ và nhận đồ nữ trang của nhà trai, khi xưa đôi bông tai là do mẹ ruột cô dâu đeo cho cô dâu, ngày nay thì
do chú rể đeo cho cô dâu Ngoài ra nhà trai còn cho cô dâu một khoảng tiền mặt
Trang 12Trong lễ hỏi nhà trai sẽ trình thiệp cưới, thiệp ghi rõ ràng giờ làm lễ cưới, giờ rước dâu, giờ làm lễ bên gái, giờ làm lễ bên trai, giờ hợp cẩn Và nhà trai cũng đưa sang nhà gái một số tiền để phụ giúp nhà gái tổ chức đám hỏi, tùy nơi mà gia đình cô dâu có nhận số tiền này hay không Nhiều nơi nhận, nhiều nơi không nhận vì nghĩ là đến đám cưới mình sang nhà trai, bên
đó cũng đãi tiệc lại, xem như huề không ai nợ ai
d Lễ dỡ mâm trầu:
Cô dâu và chú rể dỡ mâm trầu ra Bẻ trầu đủ đôi, cau đủ đôi để trong dĩa đặt lên bàn thờ Các lễ đã lập xong, vị trưởng tộc nhà trai cho phép cô dâu, chú rể gọi phụ mẫu đôi bên là cha mẹ Sau khi các nghi lễ đã diễn ra xong, họ nhà gái mời họ nhà trai cùng chung vui với họ một bữa tiệc
Trang 13e Lễ kiếu:
Sau khi dùng tiệc xong, họ nhà trai trình lễ kiếu để nhà trai ra về Chú
rể theo về cũng được hoặc ở lại cũng được tùy theo mỗi vùng Nhưng ngày nay, trong đám hỏi, cô dâu cũng có mời vài người bạn than đến dự nên thường thì chú rể ở lại đến chiều mới ra về Khi nhà trai trình lễ kiếu, nhà gái sẽ “lại quả” cho nhà trai “Lại quả” nghĩa là lễ vật nhà trai mang qua, nhà gái sẽ lấy một phần và kiếu lại một phần chứ không lấy hết Riêng mâm trầu cau thì không “lại quả” Lưu ý, khi chia đồ lại quả không được dùng kéo cắt mà phải xé bằng tay, đồ lại quả phải là số chẵn và khi nhà gái trả lại mâm quả phải để ngửa nắp lên, không được đóng lại, không phủ vải hồng điều nữa
Trang 144 Lễ cưới hay còn gọi là Đám cưới:
Sau khi lễ hỏi xong thì sẽ là lễ cưới Lễ cưới tổ chức sau lễ hỏi bao lâu thì tùy ý nhà trai, nhưng thông thường sẽ là từ một đến ba tháng vì cả hai gia đình cần có thời gian để chuẩn bị mọi thứ cho thật chu đáo
Ngày nay, lễ cưới như là một bằng chứng về mặt xã hội, như là mottj bữa tiệc để cô dâu chú rể ra mắt hai họ và hàng xóm gần xa Và quan trọng hơn
là ngày nay các cặp đôi yêu nhau muốn tiến tới hôn nhân thì phải đi đăng ký kết hôn ở UBND xã, phường Đây mới là bằng chứng về mặt pháp lý
Trước khi ngày cưới diễn ra vài ngày, nhà trai mang đến nhà gái quần áo của cô dâu Gọi là lễ “nạp tài”
Đến ngày cưới, nhà trai nhà gái có những thủ tục khác nhau Có thể chia đám cưới thành ba giai đoạn chính như sau
a Trước ngày rước dâu:
Trang 15Vào ngày nhà gái đãi tiệc, chú rể và chú rể phụ phải sang nhà gái để cùng đãi tiệc với cô dâu Gọi là “lễ kiếu rể” Ngày xưa lễ kiếu rể nhằm mục đích để họ nhà trai dò xét xem nhà gái có làm lễ cưới như đã giao ước hay không Ngày nay lễ khiếu rể chỉ đơn giản là chú rể sang nhà cô dâu để đãi tiệc, ra mắt họ hàng nhà gái
Thường thì tiệc bắt đầu vào lúc 9 giờ và kéo dài đến chiều tối Ở quê, nhà không đủ rộng, mà khách lại đông nên người ta chia ra đãi tiệc thành nhiều khung giờ khác nhau nên đãi rất lâu Ở thành phố hiện nay nhà hàng rất phát triển nên nhiều gia đình đãi tiệc trong nhà hàng, mời tất cả các khách vào cùng một giờ nên rất nhanh và thuận tiện
Vào buổi tối, gia đình nhà gái sẽ tiến hành lễ “Lạy xuất giá” Trong lễ này, nhà gái sẽ chuẩn bị một bàn thờ nhỏ, có hoa, quả, nhang, đèn Nhiều nơi còn có chè xôi Bàn này là cúng bà mẹ sanh mẹ độ của cô dâu, báo cho đấng bề trên biết là cô dâu từ đây đã có chồng Lễ này do mẹ cô dâu và cô dâu thực hiện Mẹ cô dâu thắp nhang đèn, lại mười hai lạy, xong đến cô dâu cũng lạy mười hai lạy Sau đó đến lễ gia tiên trong nhà Ba mẹ cô dâu thắp nhang trên bàn thờ ông bà, quan trọng là phải thắp đôi đèn nhà trai mang
Trang 16đến lễ hỏi, sau đó cô dâu bước đến trước bàn thờ lạy bốn lạy, sau đó lạy cha, lạy mẹ hai lạy, sau đó theo thứ tự ông bà bên nội, bên ngoại, bác, cô dượng, chú thím, Những người có đủ cặp vợ chồng, cô dâu lại chung hai lạy, những người không đủ cặp vợ chồng cũng lạy hai lạy Trong dịp này, những người thân trong tộc dự lễ “Lạy xuất giá” của cô dâu, đều có mừng cho cô dâu nữ trang, quà hoặc tiền Tiền hay quà cho cô dâu để làm của mang theo về nhà chồng Ngày nay lễ “Lạy xuất giá” này ở một số nơi đã
bỏ qua
ii) Nhà trai:
Trước ngày rước dâu, nhà trai cũng trang hoàng nhà cửa, làm cổng hoa như bên nhà gái Nhưng ghi là “Lễ Tân Hôn” Trong nhà thì bàn thờ cũng phải chưng hoa quả Phải có đôi đèn, đôi đèn này nhà trai tự mua về, thắp trong lễ “Công cô” Chú rể cũng lạy ông bà, ba mẹ, họ hang như cô dâu lạy xuất giá Nội ngoại của chú rể cũng tặng quà cho chú rể goi là tặng vốn để làm ăn
Trang 17b Ngày rước dâu:
Vào ngày rước dâu, nhà trai chuẩn bị trà bánh, mọi người đều khăn
áo chỉnh tề, ông già bà cả thì mặc áo dài khăn đống, nam thanh nữ tú thì âu phục Cô dâu phải mặc chiếc áo dài mà nhà trai đem đến trong lễ nạp tài
Nhà trai đi rước dâu thường đi số chẵn Gồm có ba mẹ, ông bà, họ hàng của chú rể, cùng một vài người bê mâm quả Lễ cưới thường nhà trai
đi bốn quả Tùy theo nhà gái yêu cầu mà nhà trai đi quả đó là gì Thường thì
là một quả bánh, một quả trà, một quả mứt ngọt, một quả trái cây Lưu ý là
có nhiều gia đình gộp lễ cưới và lễ hỏi làm chung một ngày thì nhà trai phải
đi sáu quả như lễ hỏi, có đôi đèn Còn nếu lễ hỏi đã làm riêng thì chỉ đi bốn quả nữa là đủ Và cũng không thể nào thiếu khay trầu rượu Ở lễ cưới thì phải thêm sáu miếng trầu vì lễ cưới tương đương với lễ thân nghinh của lục
lễ xưa Đặc biệt ở lễ cưới chú rể sẽ cầm một bó hoa nhỏ
Lễ rước dâu gồm những lễ nhỏ sau đây:
i) Lễ ở nhà gái:
Khi nhà trai đã đến nhà gái rồi, chú rể phụ cùng với trưởng tộc nhà
Trang 18trai vào trong để trình lễ nhập gia Nếu nhà gái thấy đã đúng giờ và đủ lễ thì cho mời họ nhà trai vào
Khi vào nhà trai đã yên vị Ba của chú rể trình lễ y kì, tức là đúng như lời giao ước đến đây làm lễ rước dâu Sau đó ba chú rể cũng trình mâm quả,
lễ vật Lễ hỏi nhà trai chỉ cho đôi bông và nhiều hơn là dây chuyền Lễ cưới thì lễ vật nhà trai là một cặp nhẫn, nhẫn phải là nhẫn vàng, nhẫn trơn không
có hoa văn hay đính hột
Khi nhà trai làm lễ xong, nhà gái tiến hành mở mâm quả, lấy mỗi thứ một ít để cúng gia tiên Ba cô dâu hoặc người lớn nào đó bắt đầu cúng gia tiên nhà gái, thắp nhang, thắp đôi đèn cưới Lễ này cũng gọi là lễ lên đèn như đám hỏi
Sau khi lễ từ đường xong, cô dâu bước ra chào hai họ bằng cách xá hai xá Xong thì quay về trước bàn thờ để cùng chú rể trao nhẫn cưới Nhẫn cưới phải đeo vào ngón áp út tay phải Chú rể trao nhẫn cho cô dâu trước, sau đó cô dâu trao nhẫn lại cho chú rể Khi trao nhẫn xong chú rể sẽ trao cho cô dâu bó hoa Cô dâu vào chú rể quay lại vào bàn thờ xá bốn xá