Về năng lượng, theo các chuyên gia dinh dưỡng thì nhu cầu năng lượng của bà mẹ có thai 6 tháng cuối là 2.550 Kcal/ngày, tăng hơn người bình thường mỗi ngày là 350Kcal.. Đối với người mẹ
Trang 1Ăn cả cho con
Việc ăn uống của người mẹ có vai trò quan trọng quyết định sự phát triển của thai nhi Các bà mẹ cần phải luôn tâm niệm rằng mình ăn không chỉ cho bản thân mà cho cả đứa con trong bụng
Mọi thành viên trong gia đình cũng cần quan tâm và ưu tiên nhiều hơn cho mẹ
và em bé sắp chào đời Nếu được quan tâm và ăn uống tốt, đủ các chất dinh dưỡng người mẹ sẽ khỏe và lên cân tốt Trong suốt thời kỳ có thai, người mẹ cần tăng từ 10-12kg (trong đó 3 tháng đầu tăng 1kg, 3 tháng giữa tăng 4-5kg, 3 tháng cuối tăng 5-6kg) Những bà mẹ tăng cân tốt trong thời kỳ mang thai, cơ thể sẽ tích lũy mỡ - đây chính là nguồn dự trữ để tạo sữa sau khi sinh Các bà mẹ trong các gia đình không có điều kiện ăn uống đầy đủ, hoặc vì lý do nào đó do bệnh tật, sợ béo mà kiêng khem không hợp lý sẽ làm cho em bé bị suy dinh dưỡng ngay từ khi còn là bào thai, lúc sinh ra thường có cân nặng thấp (dưới 2.500g)
Vậy người mẹ ăn bao nhiêu là đủ?
Về năng lượng, theo các chuyên gia dinh dưỡng thì nhu cầu năng lượng của bà
mẹ có thai 6 tháng cuối là 2.550 Kcal/ngày, tăng hơn người bình thường mỗi ngày là 350Kcal Để đạt được mức tăng này, mỗi ngày người mẹ cần ăn thêm từ
1 đến 2 bát cơm Trong những tháng đầu của thời kỳ thai nghén, các bà mẹ hay
ốm, ăn vào là muốn ói mửa Nhiều người không muốn ăn cơm Lúc này các chị nên tận dụng mọi loại thức ăn có thể cung cấp năng lượng cho cơ thể như: bánh, ngô, khoai, mì, chuối, kẹo và ăn bất cứ lúc nào thèm ăn Thường những phụ
nữ đang ốm nghén, dễ ăn nhất là vào mỗi buổi sáng sau khi thức dậy Đối với người mẹ nuôi con bú, nhất là nuôi con 6 tháng đầu năng lượng cần đạt được 2.750Kcal/ngày (tăng thêm 550Kcal mỗi ngày so với người bình thường - như vậy phải ăn thêm 3 bát cơm mỗi ngày)
Ngoài cơm (và lương thực khác) ăn đủ no, trong mỗi bữa ăn người mẹ mang thai cần được ăn thêm chất đạm và chất béo
Trang 2Về chất đạm và chất béo, khi mang thai nhu cầu chất đạm ở người mẹ tăng hơn
để giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể của em bé Trước hết cần chú ý đến nguồn chất đạm từ các thức ăn thực vật như: đậu tương, đậu xanh, các loại đậu khác và vừng lạc Những thức ăn này rẻ hơn thịt (ở các gia đình nông thôn lại rất sẵn trong vườn nhà), nhưng lượng đạm lại cao, dễ tiêu, lại có chất béo giúp tăng năng lượng bữa ăn và giúp hấp thu tốt các vitamin tan trong dầu (vitamin A, D, E) Đối với chất đạm động vật, nên chú ý đến các loại thủy sản như: tôm, cua,
cá, ốc nhất là các loại cá biển béo như cá thu, cá hồi rất tốt cho sự phát triển não của trẻ Những chị em có điều kiện nên ăn thêm thịt, trứng sữa Trong khi có thai cũng như cho con bú, với khẩu phần ăn cân đối sẽ đảm bảo cung cấp vitamin, các chất khoáng và các yếu tố vi lượng Lúc này các chị nên
ăn nhiều các loại thức ăn, thực phẩm có nhiều vitamin C như rau, quả, các loại thức ăn có nhiều calci, phospho (cá, cua, tôm, sữa ) để giúp cho sự tạo xương của thai nhi Các thức ăn có nhiều sắt như: thịt, trứng, các loại đậu đỗ để đề phòng thiếu máu Để đảm bảo đủ lượng vitamin A cần thiết, các chị nên ăn trứng, sữa, cá thịt, đậu, đỗ và các loại rau, quả có nhiều caroten (tiền vitamin A) như rau muống, rau ngót, rau dền, đu đủ, gấc, xoài Ngoài ra, các bà mẹ trong vòng một tháng đầu sau khi sinh nên uống một liều vitamin A 200.000 đơn vị để
đủ vitamin A trong sữa cho con bú 6 tháng đầu
Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai (phần 1)
Truy cập http://salehot.net/ để tìm mua những sản phẩm giả giá hấp dẫn!!!
Aug 7 2009 10:20AM
Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai là vấn đề hết sức quan trọng, chẳng những ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ mà còn quyết định sự hình thành, phát triển của đứa bé Do đó, cần hết sức đặc biệt chú ý
Tại sao phụ nữ mang thai cần có chế độ dinh dưỡng đặc biệt?
Chế độ dinh dưỡng của người mẹ có vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triển của thai nhi Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa khẩu phần ăn của mẹ (đặc biệt là năng lượng khẩu phần) với mức tăng cân của
mẹ và cân nặng trẻ sơ sinh Những trường hợp người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn
Trang 3uống kiêng khem không hợp lý có nhiều nguy cơ sinh ra đứa trẻ có cân nặng thấp dưới 2500g Ngoài ra, nếu người mẹ tăng cân tốt, thì sẽ tích lũy được khoảng 4kg
mỡ, tương đương 36.000kcal, là nguồn dự trữ để sản xuất sữa sau khi sinh Nhu cầu dinh dưỡng gia tăng do việc hình thành thai nhi, bánh nhau, gia tăng các
mô cho mẹ và cho việc tăng chuyển hóa cơ bản của mẹ 4,8%, do đó người phụ
nữ có thai cảm thấy nóng (3-6 tháng đầu: phát triển tử cung, các mô của mẹ và 7-9 tháng sau: phát triển thai nhi và bánh nhau) Thời gian mang thai, khối lượng máu tăng 50% dẫn đến tăng nhu cầu chất đạm, sắt, acid folic, vitamin B6 do vậy cần cung cấp đầy đủ
Truy cập http://salehot.net/ để tìm mua những sản phẩm giả giá hấp dẫn!!!
Nhu cầu dinh dưỡng gia tăng như thế nào?
Trong 3 tháng đầu, nhu cầu dinh dưỡng không tăng hơn so với trước khi mang thai Trong 6 tháng cuối, nhu cầu dinh dưỡng tăng 10-30%
Nhu cầu calci của phụ nữ có thai khó có thể đạt được nếu không uống sữa vì sữa
là nguồn cung cấp calci dồi dào và dễ hấp thu nhất
Năng lượng: Nhu cầu khuyến nghị ở 6 tháng cuối là 2250kcal/ngày, nghĩa là tăng hơn so với người bình thường, mỗi ngày là 350kcal Chỉ cần uống thêm 2 ly sữa,
2 chén cơm, hoặc ăn thêm 2-3 bữa phụ như khoai, bắp, chè, bánh cũng đủ đáp ứng nhu cầu này
Chất đạm (protein): Do nhu cầu chất đạm tăng lên để tổng hợp protein cho cơ thể
mẹ như tăng lượng máu, tử cung, đồng thời cung cấp protein cho thai nhi và nhau thau hình thành, phát triển nên phụ nữ mang thai cần được cung cấp tối thiểu 70g protein/ngày, cao hơn người bình thường 15g/ngày Chỉ cần 70g đậu các loại cũng đủ cung cấp nguồn protein 15g/ngày, hoặc 2 chén cơm thêm cũng cung cấp được 9g protein/ngày
Vitamin, khoáng chất và yếu tố vi lượng:
Calci: Khi mang thai, cơ thể người mẹ cần lượng calci gấp đôi bình thường
Trang 4(1000mg calci/ngày) để đáp ứng quá trình hình thành răng và xương thai nhi Nếu việc cung cấp calci trong thai kỳ không đầy đủ, cơ thể sẽ huy động calci dự trữ từ xương và răng của mẹ để đảm bảo lượng calci cung cấp cho thai, và có thể dẫn đến các triệu chứng vọp bẻ, đau mỏi cơ ở phụ nữ mang thai, nhất là 3 tháng cuối, dẫn đến tình trạng loãng xương, hư răng ở mẹ sau sinh
Đối với thai nhi, lượng calci cung cấp không đủ sẽ ảnh hưởng đến việc tạo xương và các mầm răng ngay từ trong giai đoạn bào thai, gây nên những khiếm khuyết về xương và răng có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành Trẻ sinh ra đã có dấu hiệu thiếu calci như mềm hộp sọ, thóp trước và thóp sau rộng, trẻ có các cơn khóc tím tái do co thắt, thậm chí bị co giật do hạ calci huyết
Mỗi ngày chỉ cần 2 ly sữa hoặc 100-200g cá, tép nhỏ ăn cả vỏ, cả xương, hoặc các chiên xù, cá lớn kho rục xương, cá hộp, 50g mè, là đủ cung ứng cho nhu cầu calci của thai phụ
Truy cập http://salehot.net/ để tìm mua những sản phẩm giả giá hấp dẫn!!!
Sắt: Nhu cầu tăng cao để đáp ứng với sự phát triển bào thai trong tiến trình thai nghén và nguy cơ mất máu lúc chuyển dạ Thiếu máu, thiếu sắt trên phụ nữ mang thai làm tăng nguy cơ tử vong đối với thai nhi như sinh non, sẩy thai, thai chết lưu, chậm phát triển bào thai trong tử cung Thiếu máu thiếu sắt được xem là liên quan đến 1/4 trường hợp tử vong mẹ có liên quan đến thai sản, làm gia tăng các tai biến sản khoa nhất là tai biến do xuất huyết sau sinh
Một chế độ ăn hợp lý, đa dạng sẽ giúp cơ thể người mẹ có đầy đủ các loại vitamin cần thiết giúp cho sự cân bằng của cơ thể và thai nhi phát triển tốt Nhu cầu sắt trong khẩu phần là 30-40mg/ngày có thể được cung cấp từ những thức ăn giàu chất sắt như: thịt, phủ tạng động vật (tim, gan, thận, huyết, ) lòng
đỏ trứng, cá, thủy sản và đậu đỗ Ngoài tăng cường thức ăn giàu chất sắt, có thể
sử dụng viên sắt bổ sung đều đặn mỗi ngày hoặc các sản phẩm dinh dưỡng đặc biệt có bổ sung thêm sắt và acid folic như: sữa bột
Acid folic (Vitamin B9): Cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh trung ương của thai, đặc biệt trong những tuần lễ đầu tiên Thiếu acid folic ở phụ nữ mang thai
Trang 5có thể gây ra dị tật ống thần kinh ở trẻ em B9 có nhiều trong gan, men bia, các loại rau xanh lá to, màu xanh đậm: mồng tơi, cải cúc, đậu phộng, hạt dẻ, ngũ cốc, thịt, sữa
Iốt và kẽm: Việc thiếu hụt các chất dinh dưỡng này có thể gây nên một số các tổn thương không phục hồi được Thiếu hụt kẽm dẫn đến chậm hoặc ngừng tăng trưởng, dị tật bẩm sinh, làm gia tăng các triệu chứng nghén như: nôn ói, chán ăn Kẽm có nhiều trong thức ăn động vật màu đỏ và nhuyễn thể, đặc biệt hàu chứa đến 75mg kẽm/100g Ngoài ra, khi bổ sung kẽm cần chú ý bổ sung thêm 2mg đồng (Cu) để tránh giảm Cu
Thiếu Iốt là nguyên nhân gây nên các bệnh: đần độn, bướu cổ, chậm phát triển cả
về thể chất lẫn tinh thần Iốt có nhiều trong các loại thủy hải sản, rong biển… nhưng không phải ngày nào thai phụ cũng được cung cấp các thức ăn này, vì vậy
sử dụng muối iốt thay muối thường là biện pháp hiệu quả nhất
Khắc phục một số tình trạng khó chịu thường gặp trong thai kỳ
Trong giai đoạn mang thai, do một số thay đổi về sinh lý, thai phụ có thể gặp phải một số vấn đề liên quan đến dinh dưỡng Tùy vào tính chất thai kỳ của mỗi người, các vấn đề gặp phải có thể khác nhau nhưng nhìn chung có một số vấn đề thường gặp hơn cả là:
- Sự thay đổi về khẩu vị có ở 3/4 phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu Các thực phẩm không ưa thích thường là: cá, thịt bò, thức ăn khô, thức uống có rượu, cà phê, thức ăn chiên xào, có nhiều gia vị… Các thức ăn thường dễ được chấp nhận, thích: kem, chocolate, snack mặn, sữa, trái cây…
- Nôn ói: thường gặp trong 3 tháng đầu Có thể ăn làm nhiều bữa nhỏ, ăn từ sáng sớm, chọn các loại thức ăn dễ được chấp nhận hơn như: thức ăn giàu chất bột đường, trái cây, thức ăn lỏng như cháo, phở, miến, sữa, thức ăn mát, lạnh
- Tê chân: Có thể nghĩ đến:
Trang 6• Thiếu Calci: Nên tăng Calci khẩu phần bằng thực phẩm giàu calci như: sữa, tôm cá nhỏ ăn cả xương
• Tăng phosphat (thường gặp ở những phụ nữ uống trên 1 lít sữa/ngày): giảm lượng sữa và thay 1 phần Calci sữa (có kèm nhiều phosphat) bằng thuốc calci
- Táo bón: Do thay đổi hormon, giảm nhu động ruột, do thai lớn chèn ép, hoặc uống bổ sung các vitamin và khoáng chất có chứa sắt có lợi cho thai nhi trong thời kỳ này có thể làm tăng tình trạng táo bón Cần tăng lượng nước uống 6-8ly/ngày, tăng lượng rau trái giàu chất xơ như: chuối, đu đủ, khoai lang, thanh long, rau xanh… (> 300g rau và > 200g trái cây/ngày), uống đủ nước (ít nhất 6 ly/ngày), tránh thức ăn gây táo bón
Tránh dùng thuốc xổ Năng tập thể dục, đi bộ 15-30 phút/ngày là tốt nhất Cuối cùng, nếu đã áp dụng những biện pháp trên mà vẫn táo bón, bạn có thể thử dùng thuốc nhuận trường Có loại thuốc sử dụng được cho phụ nữ mang thai nhưng bạn nên đến bác sĩ để được tư vấn kỹ hơn về vấn đề này
Truy cập http://salehot.net/ để tìm mua những sản phẩm giả giá hấp dẫn!!!
- Ợ, trào ngược: Do thay đổi hormon dẫn đến dãn cơ tâm vị
• Tránh thức ăn béo, nhiều gia vị, thức ăn chua
• Ăn nhiều bữa ăn nhỏ
• Ngồi hoặc đi lại nhẹ nhàng 1 giờ sau bữa ăn tránh nằm ngay
• Tránh uống thuốc: Bicarbonat gây kiềm hóa, các Antacid làm giảm hấp thu chất sắt
- PICA (ăn các loại không phải thức ăn): Chú ý an toàn và vệ sinh Làm sao biết mình đã có chế độ dinh dưỡng hợp lý?
Trước tiên, một chế độ ăn hợp lý cần có đầy đủ 4 nhóm thức ăn: Đường, đạm, béo, vitamin và muối khoáng, mỗi nhóm thức ăn cung cấp một hoặc nhiều thành phần cần thiết cho cơ thể Với chế độ ăn như vậy, các dưỡng chất tăng lên khá đồng bộ, đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng tăng lên
Trang 7Thứ hai, chế độ ăn hợp lý còn được thể hiện qua sự tăng cân của thai phụ Đối với một người có cân nặng bình thường cần tăng 10–12kg trong suốt thời kỳ có thai Trong đó: 3 tháng đầu tăng 1kg, 3 tháng giữa tăng 4–5kg và 3 tháng cuối tăng 5–6kg Phụ nữ song thai nên tăng 16–25,5kg, mỗi tuần tăng 0,75kg Tuy nhiên, mức tăng cân khuyến nghị còn thay đổi tùy theo chỉ số khối cơ thể của phụ nữ trước khi có thai (BMI - Body Mass Index):
Nhóm BMI Tăng cân đề nghị (kg) cho 6 tháng cuối
Thấp 0,5kg/tuần Bình thường 0,4kg/tuần Cao 1,3kg/tuần Mức tăng cân do Viện Hàn Lâm Hoa Kỳ khuyến nghị:
< 19,8 12,5 - 18 19,8 - 26 11,5 - 16
26 - 29 7 - 11,5
> 29 Ít nhất 6kg
Chế độ ăn uống và dinh dưỡng cho bà bầu
Nuôi con khoẻ mạnh, thông minh là niềm vui, hạnh phúc, là mong muốn của mỗi người mẹ, mỗi gia đình và là trách nhiệm thiêng liêng đối với giống nòi, đất nước
Muốn con khoẻ mạnh, mỗi người mẹ cần phải biết chăm sóc sức khoẻ của mình, đặc biệt trong thời kỳ có thai, cho con bú, vì sức khoẻ, bệnh tật của người mẹ trong thời kỳ này đều có ảnh hưởng sâu sắc đế sự phát triển và sức khoẻ của đứa con trong bụng hay đang được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ Trước hết, để có một gia đình hạnh phúc, cần thực hiện sinh đẻ có kế hoạch Nuôi được một đứa con nên người rất công phu, tốn kém, cho nên phải tính toán cân nhắc kỹ trước khi định có con Trong tình hình kinh tế chung hiện nay, mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ một đến hai con Không nên có con quá
Trang 8sớm, trước 22 tuổi, vì đẻ sớm quá cơ thể người mẹ chưa phát triển đầy đủ và hoàn thiện cơ quan sinh dục và các tuyến nội tiết Không nên sinh quá muộn sau 35 tuổi, vì đẻ muộn, khung xương chậu, các dây chằng cứng khó dãn nở, dẫn đến nguy cơ đẻ khó Tốt nhất nên đẻ ở lứa tuổi 25 đến 30 tuổi và khoảng cách mỗi lẫn sinh tối thiểu là 3 năm
I Chăm sóc người mẹ
Chăm sóc người phụ nữ khi có thai nghén nhằm đảm bảo một cuộc thai nghén bình thường và sinh đẻ an toàn cho cả mẹ lẫn con Vì thế, khi có thai người mẹ cần đến trạm y tế hoặc nhà hộ sinh đăng ký quản lý thai, để được nhân viên y tế khám và theo dõi Mỗi người mẹ đều có phiếu khám thai hoặc phiếu theo dõi sức khoẻ tại nhà
Bắt đầu có thai, một số người mẹ thường cảm thấy mệt mỏi, chán ăn, hay có cảm giác buồn nôn hoặc thèm ăn những thức ăn theo sở thích riêng của từng người Các hiện tượng đó chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, sau đó người mẹ cần chăm lo ăn uống hợp lý và giữ gìn sức khoẻ để thai phát triển bình thường
Truy cập http://salehot.net/ để tìm mua những sản phẩm giả giá hấp dẫn!!!
Để theo dõi sự phát triển của thai, người mẹ nên thực hiện việc khám thai định kỳ ít nhất 3 lần trong suốt thời kỳ thai nghén Lần thứ nhất vào ba tháng đầu để xác định chắc chắn có thai hay không, lần thứ hai vào ba tháng giữa
để xem thai khoẻ hay yếu để có kế hoạch bồi dưỡng cho người mẹ kịp thời, lần thứ ba vào ba tháng cuối để xem thai có phát triển bình thường không, thuận hay ngược, tiên lượng cuộc đẻ và dự kiến ngày sinh
Nếu khám được nhiều lần hơn càng tốt, nhất là ba tháng cuối, mỗi tháng nên khám một lần Khi khám thai, người mẹ cần được khám toàn thân: đo chiều cao, cân nặng, đếm mạch, nghe tim phổi, đo huyết áp, thử nước tiểu, phát hiện các yếu tố bất thường như cao huyết áp, protein niệu, da xanh xao thiếu máu (nhìn niêm mạc môi, mắt), phù nề (ấn vào mắt cá chân) và các bệnh mãn tính tim, gan, thận Khám sản khoa: đo chiều cao tử cung, vòng bụng, nghe tim thai Đề phòng bệnh uốn ván cho con, người mẹ khi có thai cần
Trang 9được tiêm phòng uốn ván, tiêm hai lần: mũi thứ nhất vào tháng thứ tư hoặc thứ sáu, mũi thứ hai cách mũi thứ nhất một tháng và trước khi đẻ ít nhất nửa tháng
Trong thời kỳ có thai, nhất là ở các tháng cuối, do thai chèn ép vào các mạch máu lớn của ổ bụng, có thể có hiện tượng "xuống máu chân", phù nhẹ ở chân Nếu thấy phù toàn thân kèm nhức đầu, mờ mắt thì có thể do nhiễm độc thai nghén, phải đi khám, thử nước tiểu, đo huyết áp, hạn chế ăn muối Thường xuyên đi khám để tránh tai biến khi đẻ
Khi có thai, cần hết sức thận trọng khi dùng thuốc, tiêm chủng, chiếu chụp điện vì rất dễ gây rối loạn phát triển thai Thí dụ, khi mới có thai, dùng vitamin A liều cao có thể làm thai phát triển không bình thường; dùng kháng sinh streptomycin có thể làm trẻ bị điếc ngay từ khi đẻ
Một số thuốc nội tiết, an thần có thể gây sảy thai, thai chết, rối loạn phát triển của thai hoặc bị bệnh sau khi đẻ Do đó khi cần dùng thuốc, phải hỏi ý kiến thầy thuốc
Truy cập http://salehot.net/ để tìm mua những sản phẩm giả giá hấp dẫn!!!
Chế độ lao động, nghỉ ngơi hợp lý, tinh thần thoải mái của người mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi Nên lao động chân tay và trí óc một cách điều
độ, tránh lao động mệt nhọc quá sức Quan niệm "Chửa con so, làm cho láng giềng" để thai không quá to, dễ đẻ là không đúng Vào tháng cuối, người mẹ cần được nghỉ ngơi để có thời gian chuẩn bị cho con, cho mẹ, có sức khoẻ tốt, tránh được tai biến khi đẻ
II Chế độ ăn uống của người mẹ
Chế độ ăn uống của người mẹ có vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triển của thai nhi Người mẹ cần nhớ rằng phải ăn uống cho mình và cho cả con trong bụng Nếu người mẹ được ăn uống tốt, đầy đủ các chất dinh dưỡng thì người mẹ sẽ lên cân tốt Trong suốt thời kỳ có thai, người mẹ cần tăng được từ 10kg đến 12 kg (trong đó, 3 tháng đầu tăng 1kg, 3 tháng giữa tăng 4-5kg, 3 tháng cuối tăng 5-6 kg)
Trang 10Tăng cân tốt, người mẹ sẽ tích luỹ mỡ là nguồn dự trữ để tạo sữa sau khi sinh Những trường hợp người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn uống kiêng khem không hợp lý chính là nguyên nhân của suy dinh dưỡng trong bào thai,trẻ đẻ
ra có cân nặng thấp dưới 2500g
1 Nhu cầu dinh dưỡng
Khi có thai, nuôi con bú, nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏi cao hơn ở mức bình thường vì nhu cầu ngoài đảm bảo cung cấp cho các hoạt động của cơ thể, sự thay đổi về sinh lý của người mẹ như biến đổi về chuyển hoá, tích luỹ mỡ, tăng cân, sự tăng về khối lượng của tử cung, vú, còn cần thiết cho sự phát triển của thai nhi và tạo sữa cho con bú
* Tăng thêm năng lượng:
Nhu cầu năng lượng của bà mẹ có thai 6 tháng cuối là 2550 Kcal/ngày, như vậy, năng lượng tăng thêm hơn người bình thường mỗi ngày là 350 Kcal Để đạt được mức tăng này,người mẹ cần ăn thêm 1 đến 2 bát cơm Đối với bà
mẹ nuôi con bú, năng lượng cung cấp tỷ lệ với lượng sữa sản xuất, nhưng nói chung, ở bà mẹ nuôi con 6 tháng đầu, năng lượng cần đạt được 2750 Kcal/ngày, như vậy, năng lượng tăng thêm mỗi ngày là 550 Kcal (tương đương với 3 bát cơm mỗi ngày)
* Bổ sung chất đạm và chất béo giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể cho trẻ:
Khi mang thai nhu cầu chất đạm ở người mẹ tăng lên giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể của trẻ Ngoài cơm (và lương thực khác) ăn đủ no, bữa ăn cho bà mẹ có thai cần có thức ăn để bổ sung chất đạm và chất béo Trước hết cần chú ý đến nguồn chất đạm từ các thức ăn thực vật như đậu tương, đậu xanh, các loại đậu khác và vừng lạc Đây là những thức ăn giá rẻ hơn thịt, nhưng có lượng đạm cao, lại có chất béo giúp tăng năng lượng bữa ăn và giúp hấp thu tốt các vitamin tan trong dầu (vitamin A,D,E) Chất đạm động vật đáng chú ý là các loại thủy sản như tôm, cua, cá, ốc có điều nên cố gắng có thêm thịt, trứng, sữa Nhu cầu chất đạm cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai 3 tháng cuối: 70g/ngày, còn đối với bà mẹ cho con bú cần cao hơn