1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỰ SUY GIẢM đa DẠNG SINH học ở VIỆT NAM

36 951 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài tiểu luộn về vấn đề suy giảm đa dạng sinh học ở việt nam. các thực trang nguyên nhân và các biện pháp được đề ra rất cụ thể trong bài . có cả phần sl để trình chiếu nhưng mình chưa tải lên được, đây là một tài liệu cho các bạn thao khảm rất bổ ích.

Trang 2

ĐỀ TÀI: SUY GIẢM ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM

Trang 3

I THỰC TRẠNG SUY GIẢM ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM

1.Suy giảm đa dạng sinh học trên cạn, diện tích rừng có chất lượng suy giảm:

Rừng là hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất, là nơi nuôi dưỡng và sinh cư của hầu hết các loài động thực vật hoang dại Năm 1943, diện tích rừng của Việt Nam là 14,3 triệu ha với tỷ lệ che phủ là 43% Điều đáng chú ý là rừng trong thời kỳ này là rừng tự nhiên, chất lượng tốt Đến những năm 1990-1995, diện tích rừng suy giảm rất mạnh, chỉ còn trên 9 triệu ha, tỷ lệ che phủ chỉ còn 27-28% Điều đặc biệt quan trọng là tính trạng mất rừng phòng hộ đầu nguồn, ven biển đã gây những tác động nguy hiểm như xói lở, trượt đất, lũ quét, hoang mạc hóa (ven biển)

Trong giai đoạn 2001-2010, thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường, mặc

dù, Việt Nam đã đạt được nhiều chỉ số khả quan, nhưng tài nguyên thiên nhiên vẫn

bị khai thác quá mức, kém hiệu quả và thiếu bền vững Cụ thể, tính đến năm 2012, diện tích rừng nguyên sinh, rừng nhiều tầng (3-7 tầng) bị giảm sút trầm trọng, chỉ còn 0,57 triệu ha, chủ yếu tập trung ở các khu rừng phòng hộ và trong các khu bảo tồn.Độ che phủ của rừng trên các vùng lưu vực sông:

Lưu vực sông Đà chỉ còn dưới 11%, lưu vực sông Hồng 23%, lưu vực sông Chảy-sông Lô-sông Gâm 27%, lưu vực sông Se San 31%, lưu vực sông Sê Rê Pôc 29%, lưu vực sông Đồng Nai 25% Vùng lưu vực sông Cả, diện tích rừng che phủ còn tương đối khả quan, chiếm 39% Trong khi đó, độ che phủ rừng ở vùng lưu vực sông Ba cách đây 5 năm là 37% thì nay chỉ còn không quá 23% Các vùng rừng ngập mặn ven biển các tỉnh Đông và Tây Nam Bộ vẫn tiếp tục bị xâm hại, diện tích rừng ngập mặn trồng không bù lại diện tích rừng đã bị mất

Trong những năm gần đây, do có kế hoạch trồng mới rừng nên độ che phủ của rừng tăng nên đáng kể Tuy nhiên, diện tích rừng có chất lượng (rừng gỗ nhiệt

Trang 4

đới tự nhiên nhiều tầng) vẫn có xu hướng suy giảm Điều đó gây suy giảm đa dạng sinh học

Theo các dẫn liệu thống kê (Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2001), đến năm 1999, vùng Tây Nguyên chiếm 33,1%, vùng Bắc Trung Bộ chiếm 19,4% và vùng duyên hải Nam Trung Bộ chiếm 17,3% tổng diện tích rừng của cả nước Đây

là những vùng còn nhiều rừng nhất đồng thời cũng là những vùng có độ ĐDSH cao nhất ở Việt Nam

Bảng Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ (ĐV: triệu ha)

Năm

Loại rừng

Tổng diện tích 14,3 11,168 10,608 9,892 9,176 9,302 10,945 11,784Rừng trồng 0 0,092 0,422 0,584 0,745 1,050 1,524 1,919Rừng tự nhiên 14,3 11,076 10,186 9,308 8,431 8,252 9,421 9,865

Độ che phủ

(%)

Trang 5

Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ (ĐV: triệu ha)

Trang 6

Độ che phủ rừng toàn quốc tại các thời điểm

2.Suy giảm hệ sinh thái dưới nước.

Hiện có tới 62% tổng diện tích rừng ngập mặn trên toàn quốc là rừng trồng mới, thuần loại, chất lượng rừng kém cả về kích cỡ, chiều cao cây và đa dạng thành phần loài Những cánh rừng ngập mặn tự nhiên hầu như không còn Sự suy thoái thể hiện rõ nét nhất qua sự suy giảm nhanh chóng về diện tích và chất lượng các khu rừng ngập mặn

Kết quả điều tra từ năm 2004-2007 cho thấy hiện chỉ có 14,4% diện tích rạn san hô phát triển tốt, còn 44,9 % đang ở trong tình trạng xấu và rất xấu; diện tích thảm cỏ biển cũng giảm xuống 40-60%, đặc biệt là ở các khu vực miền Trung và Nam Bộ Đáng lo ngại hơn là tình trạng suy giảm các loài động vật quý hiếm, do tình trạng săn bắn và buôn bán động vật trái phép trong những năm qua

Cụ thể như năm 1943 Việt Nam có hơn 408.500 ha rừng ngập mặn, thì đến năm 2006 chỉ còn 209.741 ha và chủ yếu là rừng trồng mới Mất rừng ngập mặn chính là làm mất bãi đẻ của các loài thủy sản, mất nơi cư trú di cư của các loài chim nước, chức năng chống phèn hóa, ngăn ngừa xói lở bờ biển, hạn chế tác hại của bão lũ, triều cường

Năm 2001, diện tích phân bố rạn san hô biển Việt Nam khoảng 110.000 ha, song theo số liệu điều tra nghiên cứu của Viện Tài nguyên và Môi trường biển hiện chỉ còn 14.130 ha Các kết quả điều tra tại 7 vùng san hô trọng điểm cho thấy chỉ

có 2,9% diện tích được đánh giá là trong điều kiện sinh trưởng tốt; 11,6% ở trong tình trạng tốt, còn 44.9% rơi vào tình trạng xấu và rất xấu

Rạn san hô ở vùng quanh đảo Cô Tô-Quảng Ninh vốn được xem là phát triển rất tốt, tỷ lệ phủ đạt 60-80%, có nơi 100% Nhưng gần đây rạn san hô ở khu vực này hầu như đã chết hoàn toàn Nguyên nhân gây chết do ngư dân đánh bắt cá

Trang 7

ở rạn san hô bằng hóa chất độc Xianua từ những năm 2002-2006, làm cho san hô chết hàng loạt vào thời gian này.

Hệ sinh thái thảm cỏ biển được xem là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, là nguồn cung cấp thức ăn cho các loài hải sản Số loài cư trú trong vùng thảm

cỏ biển thường cao hơn vùng biển bên ngoài từ 2 đến 8 lần Cách đây 5 năm, thảm

cỏ biển ven bờ Việt Nam còn tới 12.380 ha, chủ yếu thuộc về vùng bờ biển đảo Phú Quốc-Kiên Giang

Nhưng cũng giống như rạn san hô, thảm cỏ biển đang mất dần diện tích, một phần do tai biến thiên nhiên, một phần do lấn biển để xây dựng các công trình và làm đầm, ao nuôi thủy sản Nên đến nay độ che phủ của thảm cỏ biển tại nhiều khu vực đã giảm một nửa diện tích so với năm 2007

Sự đa dạng sinh học vùng biển Việt Nam đang bị suy giảm mạnh Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhiều loài sinh vật biển giảm mạnh về

số lượng, có loài đã tuyệt chủng cục bộ: Có đến 236 loài thủy sinh quý hiếm bị đe dọa ở cấp độ khác nhau, trong đó có hơn 70 loài sinh vật biển đã bị liệt kê trong sách đỏ Việt Nam Nguồn lợi hải sản bị khai thác ngày càng cạn kiệt cả về số

lượng và chất lượng Các nguồn cá dự trữ bị suy giảm từ 4 triệu tấn vào năm 1990 xuống còn 3 triệu tấn như hiện nay Kích thước đa dạng của cá và tính đa dạng loài cũng giảm đáng kể

Ở nhiều vùng biển đặc trưng, sự suy giảm nguồn tài nguyên, đa dạng sinh học đã thấy rõ Quần đảo Cát Bà là một trong nhưng khu dự trữ sinh quyển thế giới

do UNESCO công nhận năm 2004 Đây không chỉ là khu dự trữ sinh quyển mà còn có tài nguyên sinh vật vô cùng phong phú và đa dạng Theo thống kê, tại Cát

Bà có 196 loài cá biển, 132 loài san hô, 532 loài động vật đáy sự đa dạng sinh học

và nguồn lợi ven biển đóng góp cho sự phát triển của Cát Bà Tuy nhiên khoảng 10 năm gần đây, một số nguồn lợi ở đây đang ở tình trạng suy giảm nghiêm trọng

Trang 8

Tại vùng ven biển, tình trạng khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên sinh vật vùng nước ven bờ cũng đang gia tăng mạnh mẽ, làm cạn kiệt sinh vật trong các hệ sinh thái ven bờ và nguồn thủy sinh vật giai đoạn con non cư trú ở đây Các kết quả thống kê trong 10 năm trở lại đây, năng xuất mẻ lưới khai thác tôm chỉ bằng 45% - 78% so với năng suất thời kì 1975 – 1985.

Nguồn thủy sản nước ngọt tự nhiên nhiều nơi bị giảm sút nghiêm trọng Vùng đồng bằng sông Cửu Long, năm 1970 có sản lượng 85.000 tấn/năm, chỉ còn 66.000 tấn trong năm 1990 Sản lượng cá đánh bắt ở sông Hồng năm 1960 là 4.685 tấn, năm 1970 còn 2.645 tấn và năm 1990 ước tính khoảng 500 tấn ( Nguyễn Văn Hảo 1970,1995) Như vậy sản lượng khai thác tự nhiên đã giảm 9.5 lần Số lượng các loài cá có tập tính di cư đẻ trứng ở thượng nguồn các sông Hồng như cá mòi ,

cá cháy hoặc cá tra sông Mê Koong đã giảm hẳn

3.Số lượng cá thể giảm:

Các nghiên cứu, thống kê cho thấy số lượng một số loài quý hiếm đang bị giảm rõ rệt:

Bảng: Tình trạng diễn biến số lượng một số loài động vật, thực vật quý hiếm, có

giá trị kinh tế ở Việt Nam.

Trang 9

6 Bò rừng 2000 - 3000 150 - 200

7 Hươu xạ 2500 - 3000 150 - 170

8 Hươu cà toong 700 - 1000 60-80

9 Hươu vàng 300 - 800 rất hiếm gặp

10 Sao la loài mới phát hiện số lượng không nhiều

11 Mang lớn loài mới phát hiện 300-500

12 Mang Trường Sơn loài mới phát hiện số lượng không nhiều

13 Cheo cheo Napu 200 - 300 Rất hiếm gặp

14 Vượn đen tuyền - 350 - 400

15 Vượn Hải nam 100

Trang 10

27 Vỏ cây bời lời

Chỉ riêng vùng núi Ngọc linh có thể khai thác 20 tấn/

năm

Khoảng 7 -8 tấn/ năm

Tây Nguyên là nơi có truyền thống thuần dưỡng voi rừng Các số liệu thống

kê ở tỉnh Đắc Lắc cho thấy : năm 1980 có 500 con voi được thuần dưỡng, năm

1996 - 299 con, năm 1997 chỉ còn 169 con Từ năm 1991 đến 1997 số lượng voi thuần dưỡng giảm 56,8%

Loài Sao la P nghetinhensis từ khi phát hiện năm 1994 đến nay đã có 16 con

bị bắt để nuôi thử nghiệm nhưng đã chết hết, chưa kể số lượng cá thể loài này đã bị mắc bẫy và bị dân địa phương bắt làm thịt Loài này phân bố dọc dãy Trường Sơn nhưng chưa rõ số lượng cá thể hiện nay là bao nhiêu Gần đây (27/7/2004), WWF

đã tổ chức hội thảo về Sao la ở vườn quốc gia Pù Mát để cảnh báo nguy cơ giảm số lượng của loài mới phát hiện này

Nguồn thuỷ sản nước ngọt tự nhiên nhiều nơi bị giảm sút nghiêm trọng Vùng đồng bằng sông Cửu Long, năm 1970 có sản lượng 85.000 tấn/năm, chỉ còn 66.000 tấn trong năm 1990 Sản lượng cá đánh bắt ở sông Hồng năm 1960 là 4.685 tấn, năm 1970 : 2.645 tấn, và năm 1990 ước tính khoảng 500 tấn (Nguyễn Văn Hảo, 1970,1995) Như vậy, sản lượng khai thác các tự nhiên đã giảm 9,5 lần Số lượng các loài cá có tập tính di cư đẻ trứng ở thượng nguồn các sông Hồng như các mòi, cá cháy hoặc cá tra ở sông Mê Kông đã giảm hẳn

Tại vùng ven biển, tình trạng khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên sinh vật vùng nước ven bờ cũng đang gia tăng mạnh mẽ, làm cạn kiệt sinh vật trong các HST ven bờ và nguồn thuỷ sinh vật giai đoạn con non cư trú ở đây Các kết quả thống kê trong 10 năm trở lại đây, năng xuất mẻ lưới khai thác tôm chỉ bằng 45% -78% so với năng xuất thời kỳ 1975-1985

Trang 11

4.Số lượng các loài trong Sách Đỏ tăng:

Sau một quá trình điều tra nghiên cứu lâu dài, các nhà sinh học đã công bố 2 tập “Sách đỏ Việt Nam” : Phần Động vật (1992, 2000) và phần Thực vật (1995) Những tài liệu này đã nêu 365 loài động vật và 356 loài thực vật quý hiếm có nguy

cơ bị tiêu diệt ở các mức độ khác nhau, đồng thời mô tả chi tiết về vùng phân bố, tập tính sinh thái, hiện trạng cùng với các biện pháp bảo vệ được công bố (bảng 6.8) Năm 2002-2003, theo tiêu chuẩn mới của IUCN, Sách Đỏ Việt Nam đã được các nhà khoa học soạn thảo lại Trong đó, số lượng các loài động, thực vật được đưa vào Sách đỏ lần này cao hơn số lượng đã công bố ở trên (417 loài động vật,

450 loài thực vật) Điều đó cho thấy tình trạng suy giảm số lượng cá thể các loài quý hiếm, có giá trị khai thác ngày càng tăng

Bảng Phân hạng các loài bị đe doạ được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam

Phân hạng

Lớp

Nguy cơ tuyệt chủng

Dễ tổn thương

Bị đe doạ Hiếm Chưa xác

Trang 12

II NGUYÊN NHÂN SUY GIẢM ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM

Nhìn chung, sự mất mát và sự suy giảm đa dạng sinh vật ở Việt Nam có thể phân biệt bởi 4 nhóm nguyên nhân cơ bản sau:

-Sự suy giảm và sự mất đi nơi sinh cư Sự suy giảm và sự mất đi nơi sinh cư

có thể do các hoạt động của con người như sự chặt phá rừng (kể cả rừng ngập mặn), đốt rừng làm rẫy, chuyển đổi đất sử dụng, khai thác huỷ diệt thuỷ sản , các yếu tố tự nhiên như động đất, cháy rừng tự nhiên, bão, lốc, dịch bệnh, sâu bệnh

-Sự khai thác quá mức Do áp lực tăng dân số, sự nghèo khổ đã thúc đẩy sự khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và làm giảm ĐDSH Đáng kể là tài nguyên thuỷ sản ven bờ bị suy kiệt nhanh chóng Mặt khác, một số phương thức khai thác

có tính huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản như nổ mìn, hoá chất đang được sử dụng, đặc biệt các vùng ven biển

-Ô nhiễm môi trường Một số HST đất nông nghiệp bị ô nhiễm bởi các chất thải công nghiệp, chất thải từ khai khoáng, phân bón trong nông nghiệp, thậm chí chất thải đô thị Trong đó đáng lưu ý là tình trạng ô nhiễm dầu đang diễn ra tại các vùng nước cửa sông ven bờ, nơi có hoạt động tầu thuyền lớn

- Ô nhiễm sinh học Sự nhập các loài ngoại lai không kiểm soát được, có thể gây ảnh hưởng trực tiếp qua sự cạnh tranh, sự ăn mồi hoặc gián tiếp qua ký sinh trùng, xói mòn nguồn gen bản địa và thay đổi nơi sinh cư với các loài bản địa

A Nguyên nhân trực tiếp

1 Khai thác, sử dụng không bền vững tài nguyên sinh vật:

- Khai thác gỗ: Trong giai đoạn từ 1986-1991, các lâm trường quốc doanh đã khai thác trung bình 3,5 triệu mét khối gỗ mỗi năm Thêm vào đó, khoảng 1-2 triệu m3 gỗ được khai thác ngoài kế hoạch Số gỗ này nếu quy ra diện tích thì mỗi năm

Trang 13

bị mất đi khoảng 80.000 ha rừng Ngoài ra,, nạn chặt gỗ trái phép thường xảy ra ở khắp nơi, kể cả ở các trong các khu rừng bảo vệ Hậu quả là rừng có chất lượng bị cạn kiệt nhanh chóng

Như vậy, có thể thấy sự khai thác gỗ, củi mà không có kế hoạch trồng mới

bù đắp cả về số lượng diện tích cũng như chất lượng rừng với tính chất rừng nhiệt đới nhiều tầng thì diện tích rừng bị suy giảm không chỉ về diện tích mà còn bị suy thoái về chất lượng Đây là nguyên nhân cơ bản tác động tới đa dạng sinh học, đặc biệt với quần xã động vật có xương sống hoang dã ở các sinh cảnh rừng

Hình: Khai thác gỗ, củi quá mức là nguyên nhân trực tiếp gây suy thoái tài nguyên rừng

- Khai thác động vật hoang dại: đồng thời với nạn phá rừng, nạn săn bắn cũng gây nên tình trạng suy giảm đa dạng sinh học Theo điều tra, năm 1995 toàn quốc có tới 39.671 khẩu súng các loại hiện đang sử dụng để săn bắn chim thú, bình quân mỗi thôn bản có 12 khẩu (Đỗ Tước, 1997) Với số lượng người đi săn với

Trang 14

những thứ vũ khí kể trên chưa kể đến các loại bẫy thường dùng như: bẫy treo, bẫy kẹp, bẫy thòng lọng, nên số lượng cá thể động vật rừng bị săn bắt khá cao Chỉ kể

18 loài động vật thuộc diện quí hiếm đã ghi trong sách đỏ Việt Nam, từ năm

1991-1995, đã có tới 8.964 cá thể bị săn bắt, bình quân hàng năm có tới 1.743 cá thể động vật quí hiếm bị săn bắt (Đỗ Tước, 1997)

Hình: Săn bắt động vật hoang phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu

Với sinh vật biển, tình trạng khai thác HST ven bờ-nơi cư trú của nhiều loài thuỷ sinh vật có giá trị khoa học và kinh tế đang trở nên khó kiểm soát Rừng ngập mặn, vùng cửa sông, vùng nước ven bờ, các đảo với nhiều rạn san hô đang là nơi

bị khai thác với cường độ cao nhất, thậm chí có tính huỷ diệt (sử dụng mìn, điện, hoá chất cyanua, các loại lưới mắt nhỏ khai thác thuỷ sản)

Trang 15

- Khai thác các sản phẩm khác: Trong số khoảng 3.300 loài thực vật cho các sản phẩm ngoài gỗ như song mây, tre nứa lá, cây thuốc, cây tinh dầu… đã được khai thác nhiều để dùng và bán trên các thị trường trong nước cũng như xuất khẩu Trầm, một loại thuốc đặc biệt qúy hiếm, một loại hương liệu cao cấp đã bị săn lùng khai thác để xuất khẩu Chỉ trong một số năm, có tới trên 300 tấn trầm đã bị bán ra nước ngoài

2 Cháy rừng

Hình: Cháy 50 ha rừng tràm tái sinh ở U Minh Hạ

Do điều kiện khí hậu của Việt Nam, khả năng cháy rừng vào mùa khô hàng năm là rất lớn Trung bình mỗi năm có 25.000-100.000 ha rừng bị cháy ở Việt Nam, nhất là ở vùng cao nguyên Trung Bộ Theo các thống kê, kể từ năm 1995 trở lại đây, cháy rừng đã được giảm nhiều so với thời gian trước dó nhưng mức độ trầm trọng của cháy rừng lại cao hơn như vụ cháy rừng tràm U Minh trong các năm 2002,2003 Sự kiện cháy rừng vào tháng 3, 4 năm 2002 tại vườn Quốc gia U

Trang 16

Minh Thượng là một tai hoạ đối với tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học Tại U Minh Thượng, trước khi bị cháy rừng đã thống kê được 32 loài thú Sau khi bị cháy, ít nhất có 25 loài thú (78,2%) bị ảnh hưởng với các mức độ khác nhau

Các loài chim vì có khả năng di chuyển nhanh nên ảnh hưởng ngay lập tức không lớn Tuy nhiên, về lâu dài, cấu trúc thành phần loài chim thay đổi do mất nơi

cư trú hoặc nguồn thức ăn từ quả, hạt Các loài bò sát cũng bị ảnh hưởng sau vụ cháy rừng: Tắc kè; Kỳ đà vằn; Trăn đất; Rùa rảo thường; Rắn ráo trâu

Bên cạnh các diễn biến bất lợi của yếu tố thời tiết, khí hậu Việt Nam cũng như toàn cầu thì các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên rừng của người dân địa phương như đốt rừng làm rãy, đốt than, hun khói lấy mật ong, khai thác gỗ chọn để lại cây bụi là những nguyên nhân gây cháy rừng

3 Chuyển đổi phương thức sử dụng đất

Hình 5: Ồ ạt phá rừng trồng cao su

Trong thời gian gần đây, do nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, các HST rừng

tự nhiên tự nhiên với tính ĐDSH cao bị thu hẹp diện tích hoặc chuyển sang các HST thứ sinh khác Chỉ riêng hình thức du canh, du cư của một số dân tộc vùng

Trang 17

núi đã biến 13 triệu ha rừng thành đất trống, đồi núi trọc ở Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ, đã có lúc rừng bị phá ồ ạt và chuyển sang trồng các cây công

nghiệp như cà phê, tiêu, cao su, điều Sau đó, do đầu ra khó khăn nên cao su, cà phê lại bị chặt bỏ để trồng cây khác Ở huyện Ea Súp (Đắc Lắc) đã có chủ trương thay 23.000 ha đất rừng cây họ dầu để trồng điều Việc làm này đã làm mất nơi cư trú của một số loài thú đặc trưng cho rừng khộp như Bò tót, Bò rừng, Nai Nhiều diện tích rừng ở phía Bắc bị phá để trồng các cây lương thực năng xuất thấp, sau

đó để hoang hoá thành đồi núi trọc

Việc chuyển đổi đất hoang hóa, đất ngập nước thành ruộng lúa nước đã được thực hiện từ nhiều đời nay Việc hình thành đồng lúa nước ở vùng đất bồi ven biển

từ Thái Bình đến Ninh Bình đã được ghi nhận từ thời Nguyễn Công Trứ Việc làm này đã thể hiện tác động của con người gia tăng tốc độ diễn thế sinh thái của vùng triều cửa sông có sự bồi tụ trầm tích từ lục địa

Vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười với diện tích khoảng 697.000 ha cách đây khoảng 300 năm còn là vùng đầm lầy hoang hóa mênh mông với quàn xã lau, sậy, lăn, sen, súng và tràm Cho đến nay, vùng Đồng Tháp Mười đã có 625.000 ha ruộng lúa với sản lượng hàng năm trên 2,7 triệu tấn Như vậy, có thể thấy vùng Đồng Tháp Mười, nguyên là vùng đất trũng, ngập nước điển hình đã có xu hướng thành vùng đất trồng lúa

Tuy vậy, vùng Đồng Tháp Mười với bản chất tự nhiên trước đây là HST đầm lầy nhiễm phèn có quần xã thực vật cổ xưa thích nghi là cây Tràm, Súng, Sen, Đưng…chiếm ưu thế và hệ động vật hoang dã trong đó với chức năng cơ bản là bồn trữ nước, nạp nước ngầm, giảm thiểu tác động của lũ và với thuộc tính đa dạng dạng sinh học cao nhưng nay diện tích HST này bị thu hẹp để chuyển thành HST ruộng lúa với chức năng chủ yếu là cung cấp lương thực nhưng thuộc tính ĐDSH không còn cao nữa Việc tăng diện tích trồng lúa đồng thời với việc sản xuất tăng

vụ (3 vụ lúa) đã thực hiện tháo cạn nước sớm cuối mùa lũ, bao đê chắn lũ sớm đầu

Trang 18

mùa lũ Điều đó đã thu hẹp vùng sinh sống của nhiều loài thủy sinh vật tự nhiên, đặc biệt là các loài trong nhóm “cá đen” (họ cá lóc, cá rô đồng, họ cá trê, họ lươn,

Chuyển đổi đất trồng lúa thành đầm nuôi thủy sản: ở một số vùng ven biển Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Bộ, nhiều diện tích đất trồng lúa ở ven biển năng xuất thấp đã được cải tạo để chuyển sang đầm nuôi hải sản Các kết quả khảo sát năm 2003 riêng tại huyện Tiền Hải, Thái Bình đã cho thấy từ năm 2002, khoảng

350 ha đồng muối và ruộng lúa đã được cải tạo thành đầm nuôi tôm sú và cua biển riêng xã Nam Cường đã cải tạo 93 ha ruộng lúa sang đầm nuôi tôm, cua

Chuyển vùng cát thành đầm nuôi tôm công nghiệp: vùng cát ven biển là kiểu HST đặc thù của vùng Trung Bộ Theo thống kê, tổng diện tích vùng cát từ Hà Tĩnh đến Ninh Thuận là 85.100 ha Đến năm 2001, 571,4 ha vùng cát đã được cải tạo thành đầm nuôi tôm công nghiệp

Ở vùng Đồng Tháp Mười, việc cải tạo thủy lợi làm thay đổi chế độ thủy văn làm cho lượng phèn tăng cao dẫn tới gia tăng các hợp chất độc hại như hàm lượng lưu huỳnh, các ion kim loại Phát triển hệ thống kênh mương cũng là điều kiện để xâm nhập mặn lớn hơn

Ngày đăng: 25/11/2016, 23:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ (ĐV: triệu ha) - SỰ SUY GIẢM đa DẠNG SINH học ở VIỆT NAM
ng Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ (ĐV: triệu ha) (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w