1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập học kỳ Luật Hành chính

11 703 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 31,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong bộ máy Nhà nước. Hoạt động của các cơ quan này tác động tích cực và chi phối rất lớn hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, trong đó có cơ quan hành chính nhà nước. Thực hiện tốt công tác giám sát là đòi hỏi cấp thiết để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Để tìm hiểu thêm về vấn đề hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước, em xin lựa chọn đề bài: “Phân tích vai trò hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước.”

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

Hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong bộ máy Nhà nước Hoạt động của các cơ quan này tác động tích cực

và chi phối rất lớn hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, trong đó có cơ quan hành chính nhà nước Thực hiện tốt công tác giám sát là đòi hỏi cấp thiết để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Để tìm hiểu thêm về vấn

đề hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế

trong quản lý hành chính nhà nước, em xin lựa chọn đề bài: “Phân tích vai trò hoạt

động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước.”

NỘI DUNG

CHÍNH NHÀ NƯỚC

1. Khái niệm pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước:

Pháp chế là một hiện tượng pháp lý trong đời sống pháp luật, được hình thành, củng cố và phát triển cùng với sự ra đời, củng cố và phát triển của pháp luật Theo

PSG.TS Nguyễn Minh Đoan “ Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật

hoàn thiện và sự đòi hỏi phải tôn trọng, thực hiện pháp luật hiện hành một cách chính xác, thường xuyên, thống nhất bởi nhà nước và xã hội, nhằm xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, đảm bảo cho hoạt động của toàn xã hội thống nhất, đồng bộ

vì một xã hội công bằng, văn minh”( “Hướng dẫn môn học Lý luân nhà nước và pháp luật” , NXB Tư pháp, 2014) Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của

quản lý hành chính Nhà nước Trong quản lý hành chính Nhà nước, pháp chế được hiểu là trật tự pháp luật nhằm bảo vệ và phát triển quyền và lợi ích hợp pháp của công

Trang 3

dân, củng cố và duy trì địa vị pháp lý hành chính của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội Nếu thiếu nguyên tắc này thì hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước sẽ không có cơ sở pháp lý bền vững, sẽ rơi vào tình trạng thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ

2. Các yêu cầu đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước:

Đảm bảo pháp chế là tổng thể các biện pháp, cách thức có tính chất tổ chức - pháp

lý do các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và cá nhân thực hiện nhằm đảm bảo

sự tôn trọng và triệt để tuân theo pháp luật trong quá trình quản lý hành chính Đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính Nhà nước suy cho cùng là hoạt động thực thi pháp luật ngày càng có hiệu quả trong thực tế Những yêu cầu đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính Nhà nước là:

− Xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để Nhà nước pháp quyền Việt Nam hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình và nhân dân lao động được bảo vệ và có đủ điều kiện thực hiện các quyền tự do chân chính;

− Xây dựng bộ máy tổ chức điều hành tinh gọn, đủ năng lực;

− Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ năng lực và đáp ứng yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ và công vụ được giao;

− Có nguồn kinh phí đáp ứng đầy đủ nhu cầu của công cuộc đổi mới để thực hiện pháp luật, để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;

− Nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của công dân, coi đó là điều kiện tiên quyết để đưa pháp luật vào cuộc sống và người laođộng có đủ điều kiện để tự bảo vệ mình;

− Xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm pháp luật, bất kể họ là ai, ở cấp nào

để đảm bảo tính công bằng của pháp luật;

− Tiến hành nhiều hình thức, phương pháp, biện pháp khác nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp để việc thực hiện pháp luật là đồng bộ, thống nhất

Trang 4

II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN

QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC:

Theo Từ điển Luật học, “ Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính

chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực

để buộc và hướng các hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiểu quả từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” Giám sát là hoạt động có mục đích của một hay nhiều chủ

thể, luôn gắn liền với các đối tượng cụ thể, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành hoạt động giám sát và đối tượng chịu sự giám sát

Ở nước ta, khái niệm giám sát được dùng để chỉ quyền của nhân dân lao động thông qua hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước Điều 2 Luật hoạt động giám

sát của Quốc hội năm 2003 quy định: “Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thường

vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.” Đây là chức năng

xuất phát từ địa vị - chính trị pháp lý của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, đây là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu

ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân

Hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước có sự tác động chi phối tới các cơ quan nhà nước khác, trong đó có các cơ quan hành chính nhà nước Hoạt động giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước với các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp đã thể hiện rất lớn vai trò đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước:

• Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền lực nhà nước một cách thường xuyên và trực tiếp chỉ đạo

Trang 5

cũng như kiểm tra mọi mặt công tác của các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp

• Thông qua hoạt động giám sát, các cơ quan quyền lực nhà nước có thể phát hiện những yếu kém trong công tác tổ chức và hoạt động cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật và thực hiện nhiệm vụ mà pháp luật đã quy định đối với các cơ quan hành chính nhà nước Trên cơ sở đó, kịp thời đề ra những thời gian cụ thể và biện pháp thích hợp khắc phục những khó khăn và tồn tại

• Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có thể kiểm tra tính hợp lý và hợp pháp của các văn bản pháp luật do chính mình ban hành Nếu phát hiện thấy khiếm khuyết về hình thức hay nội dung thì các cơ quan quyền lực nhà nước phải đưa ra những biện pháp, giải pháp khắc phục hoặc đưa ra những yêu cầu và những biện pháp cải tiến chế độ, quy trình lập pháp, lập quy nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước

• Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp phát hiện ra những vi phạm pháp luật xâm phạm tới trật tự và lợi ích nhà nước,

xã hội và công dân của cán bộ nhà nước, từ đó kịp thời xử lý hoặc yêu cầu các cấp, các ngành xử lý nghiêm minh những vi phạm đó nhằm củng cố pháp chế

NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC ĐẢM BẢO PHÁP CHẾ TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC:

1. Hoạt động giám sát của Quốc hội:

Giám sát là một trong những chức năng cơ bản của Quốc hội Điều này được quy định

cụ thể tại Điều 69, Hiến pháp 2013 và tại Khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức Quốc hội năm

2001 “Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết

của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao”

Trang 6

a) Đối tượng chịu sự giám sát tối cao chỉ có thể là các cơ quan và cá nhân do

Quốc hội thành lập, bầu hoặc phê chuẩn

b) Nội dung của của quyền giám sát của Quốc hội bao gồm hoạt động theo dõi và

kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp đối với nội dung các văn bản QPPL do các cơ quan nhà nước ban hành chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội ban hành cũng như tính hợp pháp đối với hoạt động tổ chức và thực hiện pháp luật của các cơ quan đó trên thực tiễn

c) Hình thức giám sát:

• Thực hiện trên kỳ họp qua nghe báo cáo của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang

Bộ, thảo luận đánh giá các báo cáo đó

• Thông qua quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ; Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kì họp Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc trả lời bằng văn bản

• Các Uỷ ban, Hội đồng của Quốc hội giúp Quốc hội thực hiện quyền giám sát và trên các kì họp báo cáo trước Quốc hội về hoạt động của mình trong các bản báo cáo thẩm tra, thuyết trình… (thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh của Uỷ ban pháp luật, thẩm tra thực hiện ngân sách của Uỷ ban kinh tế và ngân sách…)

• Uỷ ban thường vụ Quốc hội vừa là cơ quan giúp Quốc hội vùa trực tiếp thực hiện giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH, giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, kiểm toán Nhà nước và các

cơ quan do Quốc hội thành lập, giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân; đồng thời có quyền đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định bãi

bỏ các văn bản đó, đối với những văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính

Trang 7

phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì bãi bỏ

• Các tổ đại biểu và từng đại biểu, một mặt, giúp Quốc hội giám sát hoạt động của Chính phủ; mặt khác, còn trực tiếp giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ quản lý, có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp và khắc phục việc làm vi phạm pháp luật, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm Người phụ trách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có nghĩa vụ trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định Ngoài ra, hoạt động giám sát của các tổ đại biểu và các đại biểu Quốc hội là thông qua việc tiếp xúc của họ với các cử tri, nghe đề nghị cũng như các yêu cầu và khiếu nại của cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước và các cán bộ có thẩm quyền ở những cơ quan ấy

• Tính quyền lực trong hoạt động giám sát của Quốc hội đối với bộ máy hành chính nhà nước không chỉ thể hiện về mặt tổ chức như quyết định thành lập, bãi

bỏ Bộ và cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể,nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật ( Điều 70, Hiến pháp 2013) mà còn thể hiện ở đối tượng, phạm vi giám sát mọi lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Quyền giám sát của Quốc hội đối với quản lý hành chính Nhà nước có phạm vi rất lớn, thể hiện rõ tính quyền lực Nhà nước thành lập, bãi bỏ các cơ quan, các chức danh của bộ máy hành chính Nhà nước và cả trong hoạt động cụ thể của bộ máy hành chính

Nhà nước Điều 70, Hiến pháp 2013 quy định Quốc hội có quyền: “Bầu, miễn

nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà

Trang 8

án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia.”

2. Hoạt động giám sát của HĐND:

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, cùng với Quốc hội hợp thành hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước, thay mặt nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cũng như các đơn vị trực thuộc Mặc dù HĐND là cơ quan đại diện ở địa phương nhưng phạm vi hoạt động của cơ quan này không chỉ bó hẹp trong phạm vi hoạt động của “ cơ quan quyền lực Nhà nước địa phương” mà mang tính chất toàn diện của cơ quan chính quyền địa phương

Giám sát là chức năng chủ yếu của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương được thực hiện thông qua hình thức:

• Thực hiện trên kì họp Hội đồng nhân dân bằng cách nghe báo cáo và thảo luận, đánh giá báo cáo của Uỷ ban nhân dân, của cơ quan chuyên môn bằng cách chất vấn trên kỳ họp đối với Chủ tịch và các thành viên Uỷ ban nhân dân, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban; bằng hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng; bằng hoạt động của các nhóm đại biểu và đại biểu trong khu vực bầu cử

• Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban

Trang 9

Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

• Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân (cử tri) Giải quyết khiếu nại, tố cáo của cử tri kịp thời, nhanh chóng, đúng pháp luật là nghĩa vụ của toàn đại biểu Hội đồng nhân dân chứ không phải của riêng bộ phận nào Làm tốt nhiệm vụ này là một biểu hiện thiết thực nhất xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân

QUAN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC ĐẢM BẢO PHÁP CHẾ TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC:

1. Đối với Quốc hội:

• Thứ nhất, cần tiếp tục xây dựng, ban hành và cụ thể hóa các quy định pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội để xác định rõ ràng, cụ thể, phạm

vi, thẩm quyền, đối tượng giám sát của các chủ thể thực hiện quyền này đồng thời từng cơ quan phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật Tránh tình trạng chồng chéo, lẫn lộn trong hoạt động của các cơ quan khi thực hiện việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật

• Thứ hai, hoạt động giám sát của Quốc hội hiện nay chủ yếu là thông qua các

kỳ họp của Quốc hội với thời gian không dài Vì vậy, hoạt động giám sát của Quốc hội cần được thực hiện với quỹ thời gian dài hơn Do đó, để tăng cường hiệu lực hoạt động giám sát, cần thông qua các cơ quan của Quốc hội

là chủ yếu Để cho các cơ quan của Quốc hội đảm nhiệm được chức năng hoạt động giám sát thì phải tăng cường các cơ quan này về mọi mặt, như nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất cho cán bộ công chức của Văn phòng Quốc hội, tăng cường cơ sở vật chất để các cơ quan Quốc hội hoạt động Đặc biệt là phải nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, phải đảm bảo cho mỗi đại biểu đủ điều kiện để hoàn thành được nhiệm vụ của mình, trước hết là trong việc thực hiện hoạt động giám sát

Trang 10

• Thứ ba, để tăng cường hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội, cần phải đổi mới hình thức, phương thức và phát triển giám sát của Quốc hội phù hợp với vị trí pháp lý và điều kiện hoạt động của Quốc hội Phải đổi mới việc xem xét báo cáo của các cơ quan nhà nước, việc tổ chức các đoàn đi kiểm tra cơ sở cho đến hoạt động chất vấn của các đại biểu

2. Đối với hội đồng nhân dân:

• Thứ nhất, các quy định của pháp luật về giám sát là cơ sở pháp lý cho hội đồng nhân dân thực hiện quyền năng của mình Nếu luật không quy định cụ thể về thủ tục, trách nhiệm, quyền hạn của các đối tượng liên quan đến hoạt động giám sát thì việc ghi nhận chức năng giám sát của hội đồng nhân dân trong Hiến pháp cũng chỉ là hình thức Để nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân thì đòi hỏi quan trọng nhất là phải ban hành đủ các văn bản pháp luật trong lĩnh vực giám sát cho hội đồng nhân dân nói riêng

và toàn bộ hoạt động của hội đồng nhân dân nói chung

• Thứ hai, để thực hiện tốt chức năng của mình, đặc biệt là chức năng giám sát, đòi hỏi Hội đồng nhân dân phải có một bộ máy làm việc đủ mạnh và năng động

• Thứ ba, năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm thực hiện vai trò hoạt động giám sát của Đại biểu hội đồng nhân dân Các đại biểu dân cử ngoài việc công nhận cái đúng còn phải chỉ rõ và đề ra các kiến nghị, những biện pháp hữu hiệu để loại bỏ cho được cái tiêu cực, trái pháp luật; để phát hiện cái sai của người khác, của các ngành chức năng

• Thứ tư, muốn nâng cao vai trò hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân, cần phải đầu tư chi phí và điều kiện vật chất cho hoạt động giám sát Trong đánh giá hiệu quả giám sát của hội đồng nhân dân, cần hiểu tính chất hai mặt của đầu tư chi phí cho hoạt động này

Ngày đăng: 22/11/2016, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w