1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

PHAN TICH CO BAN LUA CHON CO PHIEU

30 875 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 246,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung: 5.1. Phân tích cơ bản 5.1.1. Phân tích một vài chỉ số cơ bản 5.1.2. Một vài kỹ xảo trong báo cáo tài chính 5.1.3. Một số chiến lược đầu tư của những người đầu tư thành công trên thị trường chứng khoán

Trang 1

CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH VÀ LỰA

CHỌN CỔ PHIẾU

Nội dung:

5.1 Phân tích cơ bản

5.2 Phân tích kỹ thuật

Trang 2

CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH VÀ LỰA

CHỌN CỔ PHIẾU

Phân tích cơ

Trang 3

CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH VÀ LỰA

CHỌN CỔ PHIẾU

Phân tích cơ bản là gì?

Phân tích cơ bản là việc phân tích tình hình tài chính cũng như tình hình kinh doanh

của công ty định đầu tư dựa vào các báo cáo

tài chính của công ty… để ra quyết định đầu tư

Lưu ý:

Giá trị là mục tiêu chính trong phân tích cơ bản

Trang 4

CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH VÀ LỰA

CHỌN CỔ PHIẾU

Nội dung:

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

5.1.2 Một vài kỹ xảo trong báo cáo tài chính 5.1.3 Một số chiến lược đầu tư của những người đầu tư thành công

Trang 6

* Chỉ số EPS: Earnings Per Share

EPS (Thu nhập trên một CP).

Tổng thu nhập sau thuế - Tổng số cổ tức của CP ưu đãi EPS =

Tổng số CP đang lưu hành Nhận xét:

- EPS là chỉ số cho biết khả năng sinh lợi của Cty trên mỗi cổ phần của

cổ đông đóng góp là bao nhiêu.

- Nếu chỉ số EPS càng cao thì nó càng cho thấy khả năng sinh lời của Cty càng lớn và ngược lại.

- So sánh chỉ số EPS qua các thời kỳ sẽ giúp chúng ta biết được tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp đang phân tích.

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 7

* Chỉ số P/E: Thị giá/ Thu nhập cổ phiếu

Thị giá hiện tại của CP

P/E =

Thu nhập của CP (EPS) Nhận xét:

- PE cho biết NĐT sẵn sàng trả giá cho mỗi CP cao hơn mức thu nhập hiện tại bao nhiêu lần

- PE là chỉ số cho biết giá CP đang ở mức được đánh giá cao hay thấp trên thị trường.

- Nếu chỉ số PE càng cao thì nó cho thấy CP được thị trường đánh giá cao và ngược lại.

- So sánh chỉ số PE giữa các Cty cùng ngành để đánh giá giá trị của CP mình quan tâm.

- Theo quan điểm "bảo thủ", P/E dưới 10 thì nên mua Nếu đang nắm giữ CP có mức P/E từ 10 - 12 lần thì không nên bán và có thể mua tiếp P/E 12 - 18 có thể mua được khi thị trường đang trong giai đoạn ổn định theo hướng tốt P/E từ 18 trở lên xem xét bán CP Tuy nhiên, với NĐT theo trường phái "tăng trưởng", P/E có thể được chấp nhận cao hơn nếu tốc độ tăng LN (E) cao

- Đây là chỉ số mà các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư lớn như HSBC, ML đã lợi dụng tâm lý yếu của NĐT VN khi tung ra các báo cáo xoay quanh chỉ số này nhằm đánh

đổ thị trường cho các NĐT của mình mua vào.

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 8

- Giả sử rằng Cty có giá trị tài sản ghi nhận trên bảng cân đối kế toán

là 100 tỷ, tổng nợ là 75 tỷ, như vậy giá trị ghi sổ của Cty là 25 tỷ Nếu hiện tại Cty có 10 triệu CP đang lưu hành, mỗi CP sẽ đại diện cho 2.5k giá trị ghi sổ của Cty Nếu mỗi CP này có giá thị trường là 50k, như vậy tỉ lệ P/B là 2=5/2.5.

- P/B là công cụ giúp có thể tìm kiếm được các CP có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua Nếu một Cty đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỉ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi

đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của Cty đã bị thổi phồng quá mức hoặc là thu nhập trên tài sản của Cty là quá thấp.

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 9

- Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi xem xét các Cty có mức độ tập trung vốn cao hoặc các Cty tài chính bởi giá trị tài sản của các Cty này tương đối lớn Vì công tác kế toán phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn ngặt nghèo, giá trị ghi sổ của TS hoàn toàn không tính tới các TSVH như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do Cty tạo ra Giá trị ghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các Cty dịch

vụ vì họ giá trị tài sản hữu hình của họ không lớn

- Ví dụ: Microsoft là Cty mà phần lớn tài sản của Cty này là tài sản trí tuệ, các bản quyền phần mềm chứ không phải là các tài sản hữu hình khác Cổ phần của Cty này chẳng mấy khi được bán với giá thấp hơn 10 lần giá trị ghi sổ của chúng.

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 10

* Chỉ số D/E (Nợ/vốn chủ sở hữu)

Nợ phải trảD/E =

Nguồn vốn chủ sở hữu

- D/E là chỉ số cho biết tài sản của Cty được hình thành chủ yếu là do nguồn nào, nợ phải trả hay vốn chủ sở hữu

- Chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu được dùng để phân tích tỷ lệ

nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu Tuy nhiên có một số điều cần lưu ý khi sử dụng chỉ số này:

- Giá trị của nợ phải trả trên báo cáo gần với giá trị thực tế hơn

so với vốn chủ sở hữu

- Tùy thuộc vào quan điểm về nợ phải trả có bao gồm thuế thu nhập hoãn lại phải trả hay LN phải chuyển về cho Cty mẹ hay không mà chỉ số này mang lại những kết quả khác nhau

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 11

* Chỉ số ROE (Return On Equity – Lợi nhuận trên vốn CSH)

LN sau thuế ROE =

Nguồn vốn chủ sở hữu

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 12

* Chỉ số ROE (Return On Equity - Lợi nhuận trên vốn CSH)

Nhận xét:

- ROE được dùng để đo lường xem Cty tận dụng vốn của NĐT tốt đến mức nào Hay hiểu một cách đơn giản ROE phản ánh mức độ sinh lời của một Cty, tính hiệu quả trong việc sử dụng tài sản được NĐT trang bị.

- Thông thường thì một Cty tốt thì cần phải có ROE cao hơn mức trung bình của các Cty cùng ngành vì điều này cũng đồng nghĩa với việc Cty kiếm được nhiều tiền hơn trên đồng vốn bỏ ra đầu tư

- Trung bình toàn thị trường là 20,55%

- Chỉ số này tăng cao hàng năm phản ánh tiềm năng tăng LN và quản lý hiệu quả của cty.

- Nói chung, nên tránh những Cty có chỉ số này nhỏ hơn 15% Hầu hết mọi ngành, chỉ số này của những Cty hàng đầu thường đạt trong khoảng 20% đến 30%, cá biệt có những Cty đạt trên 40% Chỉ số này có xu hướng cao lên theo thời gian do việc áp dụng những công nghệ mới làm giảm chi phí và nâng cao năng suất

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 13

* Chỉ số ROA (Return On Assets - Lợi nhuận trên tài sản)

LN sau thuế và trả lãi ROA =

Tổng tài sản Nhận xét:

- Thể hiện Cty có được quản lý tốt hay không? Có hai chỉ số

phản ánh tính hiệu quả của bộ máy vận hành Cty: tỷ suất LN trên tổng tài

sản (ROA) và doanh sổ bán hàng trên một nhân viên

- ROA cho ta biết Cty thu lợi bao nhiêu từ tổng số tài sản Cty sử dụng (gồm vốn CSH (vốn góp của tất cả cổ đông) và các khoản vay - nợ)

- Nên tìm Cty có ROA cao hơn các Cty cùng ngành Trung bình toàn thị trường 11,69%

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 14

* Chỉ số ROI (Return On Investment - Lợi nhuận trên vốn đầu tư) Xem lại

ROI (Hệ số thu nhập trên đầu tư) - được Cty Du Pont phát triển cho mục

đích sử dụng riêng, nhưng ngày nay nó được rất nhiều Cty lớn sử dụng như là một cách thức tiện lợi để xác định tổng thể các ảnh hưởng của các biên lợi nhuận doanh thu tổng tài sản

Cách tính

Thu nhập ròng Doanh số bán Thu nhập ròng

ROI = X =

Doanh số bán Tổng tài sản Tổng tài sản

Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một Cty, và cách thức Cty sử dụng tài sản để tạo doanh thu Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập (và ROI) sẽ cao, và nếu ngược lại, thu nhập và ROI sẽ thấp.

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 15

* Chỉ số LN thuần/doanh thu

Cty hoạt động có lãi nhiều không? Mức LN của

Cty phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược phát triển thị trường, khả năng tiết kiệm chi phí và sức mạnh cạnh tranh của cty Nhìn chung thì một cty tốt thường làm ăn có lãi nhiều hơn các cty cùng ngành Tuy nhiên, cũng có khá nhiều ngoại lệ, một

số doanh nghiệp phải hy sinh LN trong ngắn hạn để nhắm tới

nguồn LN lâu dài Trung bình toàn thị trường 9,95%

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 16

* Lãi cổ tức (Yield)

Tỷ lệ cổ tức của Cty ra sao? Cổ tức là khoản

tiền mà cổ đông được chia khi Cty làm ăn có lãi, cổ tức

cao cũng có nghĩa là cổ đông bỏ túi đều đặn nhiều tiền

Tuy nhiên bạn phải hết sức thận trọng với chính sách cổ

tức của các Cty, nhiều Cty đang cần vốn để phat triển

sản xuất, thậm chí phải vay ngân hàng, nhưng sợ giá CP sẽ xuống thấp nếu trả cổ tức thấp nên vẫn cố “rút ruột” mình ra, thậm chí lấy “tạm” tiền vay nợ để trả cho cổ đông Trong trường hợp này cổ đông giống chủ nợ của Cty hơn là chủ

sở hữu

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 17

* Hệ số thu hồi nợ trung bình cho bạn biết Cty đó phải mất bao lâu để chuyển

các khoản phải thu thành tiền mặt Lưu ý rằng doanh số bán thu tiền ngay được loại khỏi tổng doanh thu.

Cách tính

Các khoản phải thu

Hệ số thu hồi nợ trung bình =

Doanh số bán chịu hàng năm /360 ngày

Ví dụ: Nếu bảng cân đối kế toán của một Cty cho biết số liệu của các khoản phải thu là 700tr và báo cáo thu nhập của nó cho biết doanh số bán chịu là 5tỷ5 thì

Trang 18

Hệ số thu hồi nợ trung bình Nếu chính sách của Cty là bán chịu cho khách

hàng trong vòng 38 ngày thì thời hạn 45.8 ngày cho thấy là Cty gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ đúng hạn và cần xem xét lại chính sách bán chịu của mình Ngược lại, nếu chính sách thông thường của Cty là ấn định thời hạn thu hồi nợ là 55 ngày, thì thời hạn trung bình 45.8 ngày cho thấy chính sách thu hồi

nợ của Cty là có hiệu quả Cần chú ý là hệ số thu hồi nợ trung bình chỉ là một

số trung bình và có thể dẫn đến sự hiểu nhầm Ví dụ, xem xét Cty A và b, có cùng giá trị các khoản phải thu nhưng có thời biểu thu hồi nợ khác nhau.

% nợ thu hồi được trong 10 ngày % nợ thu hồi được trong 30 ngày % nợ thu hồi được trong 60 ngày

Giả sử Cty A và Cty B có chung một số lượng khách hàng, khoản phải thu thì thời hạn thu hồi nợ trung bình của hai Cty này sẽ giống nhau Nhưng việc phần bổ các kỳ thu hồi nợ lại là yếu tố không được đề cập đến trong hệ số, rõ ràng Cty B có lợi thế hơn nếu chỉ nhìn trên bảng hệ số thu hồi nợ trung bình

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.1 Phân tích một vài chỉ số cơ bản

Trang 19

(1) Kỹ xảo thông qua các ước tính kế toán

Trong quá trình lập báo cáo tài chính, các Cty thường sử dụng rất nhiều các ước tính kế toán (Accrual earnings management) có ảnh hưởng trực tiếp tới LN trong kỳ của Cty Vì không có một tiêu chuẩn chính xác về giá trị các ước tính này, nên nó được xem là một công cụ đắc lực để phù phép LN Một số thủ thuật làm tăng mức LN thường gặp như giảm mức khấu hao, giảm mức dự phòng, giảm giá hàng tồn kho, giảm dự phòng nơ khó đói, không ghi nhận chi phí khi tài sản bị giảm giá xuấng dưới giá trị thuần, vốn hoá các khoản chi phí không đủ điều kiện.

Thủ thuật phù phép LN dựa trên các ước tính kế toán thực chất không làm tăng LN mà chỉ đơn thuần chuyển LN của kỳ sau

sang kỳ hiện tại Hậu quả tất yếu là LN các năm sau sẽ bị giảm Để tiếp tục đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của thị trường, báo cáo tài chính các năm tiếp theo cũng phải được phù phép Tuy nhiên, càng về sau, mức LN cần phù phép càng lớn khiến cho việc sử dụng các ước tính kế toán trở lên vô hiệu Đến khi “giấy không thể gói được lửa”, khủng hoảng

là điều khó tránh khỏi

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.2 Một vài kỹ xảo trong báo cáo tài chính

Trang 20

(2) Kỹ xảo thông qua các giao dịch thực: phù phép LN thông qua

việc giàn xếp một số giao dịch thực (Real earnings management) nhằm tăng LN trong năm hiện tại, mặc dù các giao dịch đó có thể không có lợi cho Cty về lâu dài

* Tăng doanh thu (DT) thông qua các chính sách giá và tín dụng

Một biện pháp các doanh nghiệp thường sủ dụng để tăng LN khi thấy có nguy cơ không đạt kế hoạch đặt ra là giảm giá bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng nhằm tăng lượng hàng bán ra trong những tháng cuối năm tài chính Biện pháp thứ hai là công bố kế hoạch tăng giá bán đầu năm sau Ví dụ, để tăng LN Quí IV/2007, một Cty sản xuất ôtô có thể công bố kế hoạch tăng giá bán từ Quí I/2008, lập tức DT Quí IV/2007 sẽ tưng vọt Hai biện pháp này cho phép Cty tăng LN trong năm hiện tại, nhưng sẽ bị giảm vào các năm sau, vì thực chất Cty đã chuyển LN của năm sau sang năm hiện tại Mặt khác, tăng giá bán năm sau còn làm giảm khả năng cạnh tranh của Cty trên

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.2 Một vài kỹ xảo trong báo cáo tài chính

Trang 21

(2) Kỹ xảo thông qua các giao dịch thực

* Cắt giảm chi phí hữu ích

Cắt giảm chi phí hữu ích như chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí quảng cáo, chi phí duy tu, bảo

dưỡng thiết bị cũng là cũng là một cách có thể làm tăng

LN Tuy nhiên, vì các chi phí này có vai trò cực kỳ quan

trọng đối với sự phát triển của Cty về lâu dài, nên sử dụng giải pháp này cũng đồng nghĩa với việc hy sinh các khoản LN tiềm năng trong tương lai

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.2 Một vài kỹ xảo trong báo cáo tài chính

Trang 22

(2) Kỹ xảo thông qua các giao dịch thực

* Trì hoãn thanh lý tài sản không có nhu cầu sử dụng hoặc các khoản đầu tư không hiệu quả

Đối với các tài sản doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng hoặc các khoản đầu tư không mang lại hiệu quả, giải pháp tối ưu là thanh lý càng sớm càng tốt Tuy nhiên, thanh lý tài sản thường đem lại một khoản lỗ cho Cty trong năm hiện tại

Do đó, nếu LN trong năm hiện tại có nguy cơ không đạt được mức kỳ vọng của thị trường, lãnh đạo Cty có thể không muốn thanh lý, mặc dù trì hoãn sẽ gây nhiều thiệt hại cho Cty như làm phát sinh chi phí bảo quản, cản trở không gian sản xuất Với các tài sản và các khoản đầu tư không hiệu quả thì càng nắm giữ lâu, doanh nghiệp càng lỗ

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.2 Một vài kỹ xảo trong báo cáo tài chính

Trang 23

(2) Kỹ xảo thông qua các giao dịch thực

* Bán các khoản đầu tư hiệu quả

Ngoài trì hoãn thanh lý các khoản đầu tư không hiệu quả, Cty có thể bán các khoản đầu tư sinh lời nhằm tăng thêm LN cho năm hiện tại Động thái này được ví như “gặt lúa non” Vì thế, áp dụng biện pháp trên có nghĩa là Cty tự nguyện bỏ qua tiềm năng sinh lời lớn từ

các khoản đầu tư này trong những năm tiếp theo

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.2 Một vài kỹ xảo trong báo cáo tài chính

Trang 24

(2) Kỹ xảo thông qua các giao dịch thực

* Sản xuất vượt mức công suất tối ưu

Trong điều kiện thông thường, mỗi doanh nghiệp thường xác định một mức công suất tối ưu, tuỳ thuộc vào năng lực nội tại cũng như điều kiện thị trường Tuy nhiên, trong trường hợp cần tăng LN, Cty có thể quyết định sản xuất vượt mức công suất tối ưu Điều này cho phép Cty giảm giá thành đơn vị sản phẩm nhờ tận dụng chi phí cố định Mặt trái của biện pháp này

là máy mó, thiết bị phải làm việc quá mức ảnh hưởng tiêu cự tới năng suất và độ bền Ngoài ra, sản phẩm làm ra nhiều, nếu không bán được, sẽ phát sinh chi phí bảo quản và hàng tồn kho lâu ngày sẽ bị giảm giá trị

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.2 Một vài kỹ xảo trong báo cáo tài chính

Trang 25

Cả hai biện pháp phù phép báo cáo tài chính (dựa trên các ước tính kế toán hay các giao dịch thực), về bản chất, chỉ là chuyển LN của các năm sau sang năm hiện tại Điểm khác biệt là

ở chỗ: trong khi sử dụng các ước tính kế toán không làm thay đổi khả năng sinh lời đích thực của doanh nghiệp, thì việc sử dụng các giao dịch thực để phù phép LN sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời của Cty trong dài hạn Xét về mặt này, làm tăng LN thông qua các ước tính kế toán được ưa

5.1 Phân tích cơ bản

5.1.2 Một vài kỹ xảo trong báo cáo tài chính

Ngày đăng: 18/11/2016, 12:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w