Chính vì vậy đề tài “Phân tích hoạt động lựa chọn thuốc và danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình năm 2015” được thực hiện nhằm các mục tiêu sau đây: 1.
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN HƯNG
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN THUỐC VÀ DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC
CỔ TRUYỀN NINH BÌNH NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
Ơ
HÀ NỘI 2016
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN HƯNG
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN THUỐC VÀ DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC
CỔ TRUYỀN NINH BÌNH NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ:
Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thanh Bình
Nơi thực hiện: Trường Đại học Dược Hà Nội
Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình
Thời gian thực hiện: từ 01/01/2015-31/12/2015
HÀ NỘI 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thanh Bình- Phó hiệu trưởng trường Ðại học Dược Hà Nội, người thầy đã tận tình dẫn dắt và truyền đạt kinh nghiệm nghiên cứu cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, các Bộ môn và các thầy cô giáo trường Ðại học Dược Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ths.BS Phạm Thông Minh- Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình cùng các anh, chị Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt qua trình khảo sát, thu thập số liệu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với gia đình, bạn bè và những người thân của tôi trong suốt thời gian qua luôn ở bên cạnh khích lệ, động viên tôi thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày 16 tháng 01 năm 2016
Học viên: Nguyễn Xuân Hưng
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC 3
1.1.1 Tiêu chí lựa chọn thuốc 4
1.1.2 Mô hình bệnh tật 4
1.1.3 Danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu tại Bệnh viện 5
1.1.4 Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT và ĐT) 6
1.1.5 Xây dựng và thực hiện DMT bệnh viện 8
1.2 CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC SỬ DỤNG TRONG BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN 13
1.3 DANH MỤC THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN 14
1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN THUỐC VÀ DANH MỤC THUỐ SỬ DỤNG KHÁM CHỮA BỆNH BẰNG YHCT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 14
1.4.1 Trên thế giới 14
1.4.2 Tại Việt Nam 16
1.5 MỘT VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH VIỆN YHCT TỈNH NINH BÌNH 20
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2.2 Biến số nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2.3 Mẫu nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu Error! Bookmark not defined 2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu 24
2.2.6 Trình bày số liệu 26
2.3 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 26
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
Trang 53.1 XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN 27
3.1.1 Các bước xây dựng DMT năm 2015 của bệnh viện 27
3.1.2 Phân tích các hoạt động lựa chọn thuốc của Bệnh viện Y học cổ truyền Ninh Bình năm 2015 28
3.2 PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG NĂM 2015 33
3.2.1 Phân tích cơ cấu DMT đã được sử dụng tại BV năm 2015 33
3.2.2 Phân tích ABC theo danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình năm 2015 39
Chương 4 BÀN LUẬN 41
4.1 MÔ TẢ HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN THUỐC VÀ XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TỈNH NINH BÌNH NĂM 2015 41
4.2 TÍNH HỢP KÝ CỦA DANH MỤC THUỐC ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TỈNH NINH BÌNH NĂM 2015 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 KẾT LUẬN 49
5.1.1 Hoạt động lựa chọn thuốc tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình năm 2015 49
5.1.2 Tính hợp lý của danh mục thuốc đã được sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình năm 2015 49
5.2 KIẾN NGHỊ 50
5.2.1 Với Bộ Y tế 50
5.2.2 Với Sở Y tế Ninh Bình 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các bước xây dựng và thực hiện danh mục thuốc Bệnh viện 9
Bảng 3.1 Các chức danh trong HĐT và ĐT của BV năm 2015 28
Bảng 3.2 Các thông tin đánh giá lại DMT năm 2014 29
Bảng 3.3 Kết quả lựa chọn thuốc vào danh mục hoạt chất của HĐT và ĐT 30
Bảng 3.4 Cơ cấu thuốc và giá trị tiền thuốc trúng thầu của BV 31
Bảng 3.5 Nội dung DMT của BV năm 2015 32
Bảng 3.6 Tổng giá trị tiền thuốc năm 2015 của BV 33
Bảng 3.7 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc tân dược theo nhóm điều trị 33
Bảng 3.8 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc Chế phẩm y học cổ truyền 34
theo nhóm điều trị 34
Bảng 3.9 Cơ cấu và giá trị tiền nhóm thuốc Đông dược 35
chủ yếu theo nhóm điều trị 35
Bảng 3.10 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc tân dược theo nguồn gốc xuất xứ 36
Bảng 3.11 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc Chế phẩm y học cổ truyền 37
theo nguồn gốc xuất xứ 37
Bảng 3.12 Cơ cấu và giá trị tiền nhóm thuốc Đông dược chủ yếu 37
theo nguồn gốc xuất xứ 37
Bảng 3.13 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc Tân dược theo quy chế chuyên môn 38
Bảng 3.14 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc Tân dược theo dạng uống – dạng tiêm 38 Bảng 3.15 Kết quả phân tích ABC của DMT sử dụng tại Bệnh viện 39
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 MHBT của hệ thống Bệnh viện 5
Biểu đồ 1.2 Chu trình quản lý thuốc 8
Biểu đồ 1.3 Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình 21
Biểu đồ 3.1 Sơ đồ xây dựng DMT 27
Biều đồ 3.2 Tỷ lệ về trị giá của các nhóm thuốc 30
Biều đồ 3.3 Cơ cấu thuốc tân dược theo dạng uống – dạng tiêm 38
Biều đồ 3.4 Tỷ lệ trị giá các thuốc theo phân tích ABC tại Bệnh viện 39
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm sóc sức khỏe (CSSK) là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự phát triển của loài người từ thời
xa xưa, y dược cổ truyền (YDCT) đã ra đời và con người đã biết dùng các loại cây,
cỏ, bộ phận động vật, khoáng chất… để tăng cường và bảo vệ sức khỏe Trong xã hội ngày nay YDCT ngày càng phát triển do nhu cầu của người dân trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Việt Nam là một quốc gia có nền Y học cổ truyền (YHCT) lâu đời với bề dày kinh nghiệm hàng ngàn năm Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, YHCT đã luôn đồng hành và trở thành một bộ phận văn hóa không tách rời của lịch sử dân tộc
Nhận thức được giá trị của YHCT, Đảng và Nhà nước ta đã có chính sách nhất quán coi YHCT là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống khám chữa bệnh (KCB) chung của ngành Y tế Việt Nam Đồng thời có chủ trương kết hợp Y học hiện đại và Y dược cổ truyền để phục vụ sức khỏe cho nhân dân được tốt nhất Tuy nhiên trong những năm gần đây, hoạt động KCB của hệ thống YHCT tại các địa phương trong toàn quốc gặp nhiều khó khăn, nhiều chỉ tiêu chưa hoàn thành như mục tiêu đề ra Việc củng cố hoạt động của hệ thống YHCT là một nội dung quan trọng trong kế hoạch hành động của Chính phủ và Bộ Y tế nhằm thực hiện hiệu quả chính sách quốc gia về YHCT đến năm 2020 Trong kế hoạch hành động này, việc củng cố hoạt động của bệnh viện YHCT tuyến tỉnh được coi là một trong những nội dung quan trọng và ưu tiên nhằm tạo động lực thúc đẩy toàn bộ hoạt động của mạng lưới YHCT tại địa phương
Một trong những vấn đề xã hội quan tâm tới công tác y tế là chất lượng khám chữa bệnh Mà trong chữa bệnh thuốc đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đôi khi là yếu tố quyết định kết quả điều trị Danh mục thuốc hạn hẹp ảnh hưởng tới quyền lợi người tham gia bảo hiểm Danh mục thuốc không thể là tất cả các thuốc có trên thị trường một phần do ngân sách nhưng một phần do đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong điều trị đối với người bệnh Và để có được một danh mục thuốc an toàn hợp lý cũng cần có một cơ chế để xây dựng và cập nhập danh mục thuốc
Trang 10Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình là Bệnh viện hạng 3 được thành lập từ năm 2000 có trách nhiệm khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tỉnh cũng như các tỉnh lân cận
Việc nghiên cứu nâng cao chất lượng sử dụng thuốc là hết sức cần thiết, tuy nhiên công tác thuốc bệnh viện cũng không tránh khỏi những hạn chế Chính vì
vậy đề tài “Phân tích hoạt động lựa chọn thuốc và danh mục thuốc đã sử dụng
tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình năm 2015” được thực hiện nhằm
các mục tiêu sau đây:
1 Mô tả hoạt động lựa chọn thuốc tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình năm 2015
2 Phân tích tính hợp lý của danh mục thuốc đã được sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình năm 2015
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN Lựa chọn thuốc là hoạt động đầu tiên và quan trọng nhất trong chu trình quản
lý cung ứng thuốc Đánh giá và lựa chọn danh mục thuốc (DMT) bệnh viện là việc làm hết sức quan trọng Thuốc được lựa chọn phải dựa trên các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trì chuẩn đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hay cơ sở khám chữa bệnh Một DMT thuốc được xây dựng tốt có thể giúp loại bỏ được các loại thuốc không an toàn và không hiệu quả do đó có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ
lệ tử vong đồng thời giúp giảm số lượng thuốc được mua sắm dẫn đến giảm tổng
số tiền chi tiêu cho thuốc, giảm số ngày nằm viện Danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV) sẽ giúp cung cấp thông tin thuốc tập trung và có trọng tâm, giúp cho chương trình tập huấn giáo dục được diễn ra thường xuyên liên tục Một DMT được xây dựng tốt sẽ tiết kiệm chi phí và sử dụng hợp lý nguồn tài chính đồng thời cải thiện chất lượng chăm sóc y tế tại bệnh viện Chính vì vậy, có thể nói rằng việc lựa chọn xây dựng DMT là một bước then chốt và có vai trò quan trọng tiên quyết, ảnh hưởng tới hiệu quả của việc cung ứng thuốc trong bệnh viện chung và sử dụng thuốc hợp lý an toàn nói riêng [7]
1.1 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC
WHO đã xây dựng nguyên tắc lựa chọn thuốc xây dựng DMTBV: Chọn thuốc theo nhu cầu điều trị và theo tình trạng bệnh lý của người bệnh, tránh trùng lặp cả về mặt điều trị cũng như dược chất Đánh giá lựa chọn thuốc sử dụng các tiêu chí lựa chọn rõ ràng dựa trên các yếu tố về hiệu quả, độ an toàn, chất lượng và chi phí đã được chứng minh, các thông tin dựa trên bằng chứng DMTBV phải thống nhất với DMT chủ yếu dùng trong Bệnh viện và hướng điều trị Chỉ cân nhắc đề xuất bổ sung thuốc từ các nhân viên y tế chứ không phải công ty dược và yêu cầu với các đề xuất bổ sung thuốc mới là phải cung cấp đầy đủ bằng chứng đáng tin cậy về hiệu quả điều trị, độ an toàn, hiệu quả - chi phí và người đề xuất không được hưởng lợi ích từ việc sử dụng thuốc đó Hàng năm cần rà soát mang tính hệ thống đối với tất cả các phân nhóm điều trị tránh, trùng lặp [25]
Trang 121.1.1 Tiêu chí lựa chọn thuốc
Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình bệnh tật, trang thiết bị, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán bộ, các nguồn lực tài chính, các yếu tố môi trường, địa lý, di truyền WHO đã xây dựng một số tiêu chí lựa chọn như sau: [25]
- Chỉ chọn các thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, độ an toàn thông qua các thử nghiệm lâm sàng và trên thực tế sử dụng rộng rãi tại các cơ sở khám bệnh
- Thuốc được lựa chọn phải có sẵn ở dạng bào chế đảm bảo sinh khả dụng, cũng như sự ổn định về chất lượng trong điều kiện bảo quản và sử dụng nhất định
- Khi có hai hay nhiều hơn hai thuốc tương đương nhau về hai tiêu chí trên thì cần phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố như hiệu quả điều trị, độ
an toàn, giá cả và khả năng cung ứng
- Khi so sánh chi phí giữa các thuốc cần so sánh tổng chi phí cho toàn bộ quá trình chứ không phải tính chi phí theo đơn vị của từng thuốc Khi mà các thuốc không hoàn toàn giống nhau thì khi chọn cần tiến hành phân tích hiệu quả - chi phí
- Trong một số trường hợp, sự lựa chọn còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như đặc tính dược động học hoặc cân nhắc những đặc điểm tại địa phương như trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng
- Thuốc thiết yếu nên được bào chế ở dạng đơn chất Những thuốc ở dạng đa thành phần phải có đủ cơ sở chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng nhu cầu điều trị của nhóm đối tượng cụ thể và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, độ
an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất
1.1.2 Mô hình bệnh tật
Mô hình bệnh tật của một xã hội, của một cộng đồng, một quốc gia nào đó là tập hợp tất cả những tình trạng mất cân bằng về mặt thể xác, tinh thần dưới tác động của các yếu tố khác nhau, xuất hiện trong cộng đồng đó, xã hội đó trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 13Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong một thời gian nhất định Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của từng bệnh viện, đặc điểm dân cư, địa lý nơi bệnh viện phục vụ, đặc biệt là sự phân công nhiệm vụ của bệnh viện trong các tuyến y tế khác nhau mà mô hình bệnh tật của từng bệnh viện khác nhau [3]
a) Mô hình bệnh tật tại Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và là một nước nhiệt đới Vì thế, Việt Nam có một mô hình bệnh tật đặc trưng của một nước nhiệt đới đang phát triển Tuy nhiên hiện nay mô hình bệnh tật đã có nhiều thay đổi
b) Mô hình bệnh tật của bệnh viện [4]
Bệnh viện là nơi khám bệnh cho người mắc bệnh trong cộng đồng Mỗi bệnh
có tổ chức nhiệm vụ khác nhau, đặt trên địa bàn khác nhau, với đặc điểm dân cư, địa lý khác nhau, đặc biệt là sự phân công chức năng nhiệm vụ trong các tuyến y tế khác nhau Ở Việt Nam cũng như trên thế giới có 02 loại mô hình bệnh tật thể hiện
a) Danh mục thuốc thiết yếu
Danh mục thuốc thiết yếu (DMTTY) là danh mục những loại thuốc thỏa mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe đa số nhân dân, những loại thuốc này luôn có sẵn với
số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý
Mô hình bệnh tật của Bệnh viện
MHBT của BV Đa khoa
MHBT của BV chuyên khoa, viện có giường bệnh
Trang 14DMTTY Việt Nam lần thứ V được ban hành kèm theo Quyết định số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01/7/2005 của Bộ Y tế gồm 355 tên thuốc của 314 hoạt chất tân dược, 94 DMT chế phẩm YHCT, danh mục cây thuốc nam và 215 danh mục vị thuốc, kèm theo bán hướng dẫn sử dụng danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam lần thứ V DMTTY Việt Nam lần VI được Bộ Y tế ban hành kèm theo Thông
tư số 45/2013/TT-BYT ngày 26/12/2013 bao gồm 466 tên thuốc hoạt chất tân dược [5
DMTTY là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của nhà nước về: Đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng và chữa bệnh cho người nhằm tạo điều kiện cho đủ thuốc trong danh mục thuốc thiết yếu
DMTTY là cơ sở để xây dựng danh mục thuốc (DMT) chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh
b) Danh mục thuốc chủ yếu
DMT chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh là cơ sở để các cơ sở khám bệnh lựa chọn thuốc sử dụng phù hợp với MHBT, khả năng chuyên môn của đơn vị, làm cơ sở cho BHYT thanh toán chi phí điều trị cho bệnh nhân
DMT chủ yếu được xây dựng trên cơ sở danh mục thuốc chủ yếu (DMTCY) của Việt Nam và của WHO hiện hành
Thông tư số 31/2011/TT-BYT, Bộ Y tế còn đưa ra nguyên tắc về lựa chọn
sử dụng thuốc thành phần như sau: Ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước, thuốc của các doanh nghiệp được đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) [6]
1.1.4 Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT và ĐT)
Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 quy định
về tổ chức, hoạt động của HĐT và ĐT trong Bệnh viện Trong đó chỉ rõ HĐT và
ĐT Bệnh viện có chức năng tư vấn cho giám đốc Bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của Bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong Bệnh viện [1]
a) Mục đích và mục tiêu của HĐT và ĐT
Mục đích của HĐT và ĐT là nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế
độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá cả ra sao, sử dụng như thế nào
Trang 15Để đạt được mục đích nêu trên, HĐT và ĐT cần phải đạt được những mục tiêu sau đây:
- Xây dựng và thực hiện một hệ thống DMT có hiệu quả cả về mặt điều trị cũng như giá thành bao gồm: Một DMT và cẩm nang hướng dẫn DMT
- Đảm bảo chỉ sử dụng những thuốc đã thỏa mãn các tiêu chí về hiệu quả điều trị, độ an toàn, hiệu quả, kinh tế
- Đảm bảo an toàn thuốc thông qua công tác theo dõi, đánh giá và trên cơ sở
đó ngăn ngừa các phản ứng điều trị thuốc (ADR) và sai sót trong điều trị
- Xây dựng và thực hiện những can thiệp để nâng cao thực hành sử dụng thuốc của thầy thuốc kê đơn, dược sỹ cấp phát và người bệnh
b) Chức năng của HĐT và ĐT
Nâng cao chất lượng chăm sóc và tăng cường sử dụng thuốc hợp lý thông qua việc:
- Tư vấn cho bác sỹ, dược sỹ và nhà quản lý
- Xây dựng các quy trình và chính sách thuốc: Tiêu chí thuốc đưa vào trong DMT, hướng dẫn điều trị chuẩn (STG) làm cơ sở cho việc xây dựng DMT; quy trình sử dụng thuốc không nằm trong DMT, các thuốc đắt tiền hoặc nguy hiểm; các thuốc đang nằm trong danh mục nghi vấn về hiệu quả điều trị hoặc độ an toàn; thay thế thuốc gốc và thay thế điều trị; xây dựng các biểu mẫu; can thiệp tăng cường sử dụng thuốc hợp lý; tiếp cận quảng cáo thuốc
- Đánh giá và lựa chọn để xây dựng DMT bệnh viện
- Xây dựng STG
- Tiến hành các biện pháp can thiệp nhằm cải thiện chất lượng sử dụng thuốc
- Xử trí các phản ứng có hại (ADR) và sai sót trong điều trị
- Phổ biến thông tin
- Có thể nói rằng chức năng quan trọng nhất của một HĐT và ĐT là đánh giá lựa chọn thuốc để xây dựng DMT bệnh viện
c) Vai trò của HĐT và ĐT trong chu trình quản lý thuốc
Trong chu trình quản lý thuốc ở bệnh viện HĐT và ĐT là tổ chức đứng ra điều phối toàn bộ quá trình cung cấp thuốc Thông thường HĐT và ĐT sẽ phải
Trang 16phối hợp với bộ phận chịu trách nhiệm mua thuốc và phân phối thuốc.Tuy nhiên HĐT và ĐT thường không thực hiện chức năng mua sắm mà có vai trò đảm bảo xây dựng hệ thống DMT và chính sách thuốc, bộ phận mua thuốc thực hiện theo yêu cầu của HĐT và ĐT Vai trò của HĐT và ĐT trong chu trình quản lý thuốc được thể hiện ở hình dưới đây
Biểu đồ 1.2 Chu trình quản lý thuốc Ngày 08/8/2013, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 21/2013/TT-BYT quy định
về tổ chức và hoạt động của HĐT và ĐT trong Bệnh viện thay thế Thông tư số 08/1997/TT-BYT của Bộ Y tế về hướng dẫn việc tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐT và ĐT Bệnh viện Hiện nay, ở Việt Nam đa số các bệnh viện có gường bệnh đã có HĐT và ĐT Tuy nhiên sau nhiều năm được thành lập nhìn chung các hoạt động của HĐT và ĐT chưa được phát huy hết vai trò của mình.[7]
1.1.5 Xây dựng và thực hiện DMT bệnh viện
DMTBV là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của Bệnh viện, phù hợp với MHBT,
kỹ thuật điều trrị và bảo quản, khả năng tài chính của từng Bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh Những thuốc này trong một phạm vi thời gian, không gian trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả phải chăng [19]
hoạt động liên quan
Phân phối Lựa chọn
Trang 17Danh mục thuốc bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện
DMTBV phải thống nhất với DMT chủ yếu của Bộ Y tế Việc thống nhất một cách rõ ràng các tiêu chí chọn lựa khi xây dựng DMT là rất quan trọng và cần phải được thực hiện một cách bài bản nhằm tạo dựng giá trị của DMT cũng như sự tin tưởng của thầy thuốc kê đơn khi sử dụng DMT đó Tổ chức Y tế thế giới đã xây dựng một quy trình để xây dựng DMT trong Bệnh viện bao gồm 4 giai đoạn và từng bước cụ thể trong quy trình này [21]
Bảng 1.1 Các bước xây dựng và thực hiện danh mục thuốc Bệnh viện
Quản lý hành chính Bước 1: Giới thiệu các khái niệm cần thiết để có được
sự ủng hộ của Ban giám đốc Bệnh viện Bước 2: Thành lập Hội đồng HĐT và ĐT Bước 3: Xây dựng các chính sách và quy trình Xây dựng danh mục
thuốc
Bước 4: Xây dựng hoặc lựa chọn các phác đồ điều trị Bước 5: Thu thập các thông tin để đánh giá lại danh mục thuốc hiện tại
Bước 6: Phân tích mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc
Bước 7: Đánh giá các nhóm thuốc và xây dựng phác thảo DMTBV
Bước 8: Phê chuẩn danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện
Bước 9: Đào tạo cho nhân viên trong bệnh viện về DMTBV: Quy định và quá trình xây dựng, quy định bổ sung hoặc loại bỏ thuốc khỏi danh mục, quy định danh mục thuốc không có trong danh mục và kê đơn thuốc
Trang 18Các giai đoạn Các bước tiến hành
Bước 12: Xây dựng các chuyên luận trong cẩm nang danh mục thuốc
Bước 13: Xây dựng các chuyên luận đặc biệt trong cẩm nang
Bước 14: Xây dựng các hướng dẫn tra cứu cẩm nang Bước 15: In ấn và phát hành cẩm nang danh mục thuốc Duy trì danh mục
thuốc
Bước 16: Xây dựng các hướng dẫn điều trị chuẩn Bước 17: Thiết kế và tiến hành điều tra sử dụng thuốc Bước 18: Thiết kế và tiến hành theo dõi các phản ứng
có hại của thuốc Bước 19: Cập nhập các thuốc trong cẩm nang danh mục thuốc
Trong giai đoạn một, HĐT và ĐT thu thập một số thông tin để giúp Ban giám đốc bệnh viện thấy rõ hiệu quả của việc quản lý tốt DMT và thuyết phục các nhà quản lý bệnh viện đồng ý và ra quyết định về DMT và xem đây là quy định của bệnh viện [21]
Các thông tin HĐT và ĐT cần thu thập bao gồm: tổng giá trị và tỷ trọng tiền thuốc trong năm trước, số lượng các thuốc, các nhóm thuốc đang sử dụng, các phản ứng có hại của thuốc, số lượng các ca tử vong do thuốc, các thuốc bị cấm sử dụng, các thuốc giả, thuốc kém chất lượng
HĐT và ĐT chịu trách nhiệm xây dựng giám sát mọi quy định và quy trình liên quan đến thuốc tại bệnh viện [23] Một số quy định nên được HĐT và ĐT quy định rõ bằng văn bản: quy trình lựa chọn thuốc mới, các thuốc hạn chế sử dụng, sử dụng thuốc ngoài danh mục và kê đơn thuốc mang tên generic
Quy trình lựa chọn một số thuốc mới:
Chỉ có bác sỹ, dược sỹ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ thuốc, có xác nhận của trưởng khoa phòng lâm sàng Các đề xuất bổ sung thuốc được chuẩn
bị dựa trên các mẫu chính thức đã được xây dựng, sau đó gửi cho thư ký của HĐT
và ĐT, nếu đã được điền đầy đủ các thông tin yêu cầu, được chuyển tới đơn vị thông tin thuốc hoặc dược sỹ chịu trách nhiệm về thông tin thuốc Đơn vị thông tin
Trang 19thuốc tìm kiếm các thông tin để đánh giá thuốc mới được yêu cầu với các thuốc đã
có trong DMTBV có cùng chỉ định Mục tiêu so sánh là chi phí - hiệu quả, độ an toàn và giá
HĐT và ĐT đánh giá các đề nghị bổ sung thuốc dựa trên các tiêu chí có cơ sở bằng chứng rõ ràng, cụ thể và được tất cả các thành viên HĐT và ĐT thống nhất
[22]
Đối với các thuốc đề nghị chưa có trong DMTBV hiện tại, cần đánh giá hiệu quả điều trị, hiệu lực và độ an toàn của thuốc theo các tài liệu đáng tin cậy; chất lượng của thuốc thông qua việc cấp số đăng ký của Bộ Y tế và hệ thống cung cấp đảm bảo chất lượng về vận chuyển, bảo quản và sản xuất Các thuốc mới đánh giá dựa trên năng lực, kinh nghiệm lâm sàng cũng như điều kiện trang thiết bị cần cho việc sử dụng thuốc, vai trò của bác sỹ khi theo dõi điều trị và dự tính chi phí của bệnh viện khi thuốc được đưa vào sử dụng và khả năng cung ứng của thuốc
Đối với các thuốc đề nghị mà đã có thuốc có tác dụng tương tự trong danh mục, HĐT và ĐT cần xem xét các yếu tố: Thuốc mới có vượt trội hơn so với thuốc hiện có về mặt hiệu quả điều trị, độ an toàn, tiện dụng không và so sánh tổng chi phí cho một liệu trình điều trị bằng thuốc mới so với các thuốc hiện có Đối với những thuốc đề nghị để sử dụng cho một số trường hợp nhất định thì không nên đưa các thuốc này vào trong danh mục Những tình huống như vậy bao gồm: Bệnh nhân không đáp ứng hoặc có những chống chỉ định với các thuốc hiện có hoặc trước đó đã đáp ứng tốt với thuốc không có trong DMTBV và việc thay đổi thuốc
có thể gây nguy hại cho người bệnh HĐT và ĐT thảo luận và biểu quyết ý kiến đề xuất về thuốc mới Quyết định của HĐT và ĐT được phổ biến tới tất cả nhân viên trong bệnh viện
Việc lựa chọn thuốc thành phẩm theo nguyên tắc sau: ưu tiên lựa chọn thuốc mang tên generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước, thuốc của các doanh nghiệp dược đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc
Trong giai đoạn hai, HĐT và ĐT tiến hành lựa chọn các thuốc cho DMT Các quyết định về lựa chọn thuốc thuốc phải dựa trên các bằng chứng y học lâm sàng, đạo đức, luật pháp, quy tắc xã hội, chất lượng cuộc sống, các yếu tố kinh tế nhằm đạt được kết quả tối ưu trong chăm sóc bệnh nhân Đây là bước quan trọng nhất
Trang 20trong quá trình xây dựng DMT vì kết quả của các lựa chọn này ảnh hưởng đến hiệu quả - chi phí của việc điều trị Để đưa ra một quyết định lựa chọn thuốc tối ưu cần
có sẵn các dữ liệu về hiệu quả và chi phí điều trị Tuy nhiên, các nguồn dữ liệu này thường không đầy đủ, không có sẵn các dữ liệu cần thiết hoặc không phù hợp với các thành viên HĐT và ĐT
Sau khi đã thiết lập được các quy định và quy trình, bước tiếp theo của HĐT
và ĐT là xây dựng hoặc lựa chọn các nhóm thuốc cho DMTBV Trước khi xây dựng danh mục, cần thu thập những dữ liệu cần thiết để phân tích các mô hình sử dụng thuốc hiện có Các thông tin cần thu thập trước khi xây dựng DMTBV: Tổng giá trị tiền thuốc đã sử dụng trong năm trước, tỷ lệ giá trị tiền thuốc so với tổng chi phí của bệnh viện, số lượng các thuốc, các nhóm thuốc đang sử dụng tại bệnh viện, giá trị của thuốc bị huỷ trong năm, tên của 10 thuốc sử dụng nhiều nhất, các phản ứng có hại của thuốc đã được thu thập, số lượng các ca tử vong do thuốc, các thuốc
bị cấm sử dụng, thuốc giả, thuốc kém chất lượng đã được thông tin
Các thông tin trên được trình bày các nhà quản lý cho thấy thấy có thể giảm được các chi phí mua thuốc thông qua quản lý danh mục thuốc và nhấn mạnh về hiệu quả của việc quản lý tốt danh mục thuốc
Một số phương pháp phân tích đánh giá DMTBV mà HĐT và ĐT cần sử dụng để phân tích, đánh giá tình hình sử dụng thuốc trước khi xây dựng DMTBV
là phương pháp phân tích ABC/VEN, phân tích DDD
Phân tích ABC: Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Các thuốc loại A (chiếm 10-20% tổng số thuốc ứng với khoảng 70-80% ngân sách), các thuốc loại B (với tỷ lệ sử dụng trung bình)
và các thuốc loại C (đại đa số các thuốc có cách sử dụng riêng lẻ ở mức thấp, mà tổng của chúng chỉ chiếm ít hơn 25% tổng ngân sách) Phân tích ABC có thể được dùng để đưa ra sự ưu tiên đối với các thuốc thuộc loại A trong việc đưa ra các quyết định lựa chọn và mua sắm thuốc [24]
Phân tích VEN là một hệ thống xác lập sự ưu tiên trong việc chọn lựa và mua sắm các thuốc được phân loại theo tác động của chúng: các thuốc tối cần thiết,
Trang 21thuốc thiết yếu và không thiết yếu Thuốc tối cần thiết là các thuốc dùng để cứu sống người bệnh hoặc các thuốc thiết yếu cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản Thuốc thiết yếu là các thuốc dùng để điều trị cho những bệnh nặng nhưng không nhất thiết phải có cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản Thuốc không thiết yếu là các thuốc dùng để điều trị những bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong DMTBV và không cần thiết phải lưu trữ trong kho [24]
Cả hai phương pháp trên phân tích cung cấp cho HĐT và ĐT các dữ liệu quan trọng để quyết định thuốc nào nên loại khỏi DMT, thuốc nào cần thiết và thuốc nào
ít quan trọng hơn
Phân tích DDD: Phương pháp tính liều xác định trong ngày giúp chuyển đổi, chuẩn hóa các số liệu về số lượng sản phẩm thành ước lượng thô về thuốc được dùng trong điều trị, từ đó xác định sơ bộ số ngày điều trị của một thuốc đã tiêu thụ Sau khi thu thập các thông tin cần đánh giá lại các nhóm thuốc và xây dựng phác thảo DMTBV Đây là bước quan trọng nhất trong quá trình xây dựng DMTBV Các thuốc trong DMTBV đã được đánh giá và lựa chọn phù hợp với MHBT và tài chính của bệnh viện
Trong giai đoạn ba của quy trình xây dựng DMT, HĐT và ĐT cần xây dựng một cuốn Cẩm nang DMT Thông tin trong cuốn cẩm nang nhằm giúp cán Bộ Y tế trong bệnh viện, đặc biệt là bác sỹ hiểu được hệ thống DMT và chức năng của HĐT và ĐT [21]
Giai đoạn cuối cùng trong quá trình xây dựng DMT là duy trì DMT Việc sử dụng thuốc không hợp lý vẫn xảy ra ngay cả khi có một DMT lý tưởng Hướng dẫn điều trị chuẩn hay phác đồ điều trị là công cụ hiệu quả để tăng cường kê đơn hợp
lý Các điều tra sử dụng thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc cũng giúp HĐT và ĐT quản lý DMT và việc sử dụng thuốc trong bệnh viện hiệu quả hơn 1.2 CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC SỬ DỤNG TRONG BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN
- Thông tư số 40/2013/TT-BYT ngày 18/11/2013 của Bộ Y tế về việc ban hành Danh mục thuốc thiết yếu thuốc đông y và thuốc từ dược liệu lần VI [8]
Trang 22- Thông tư số 45/2013/TT-BYT ngày 26/12/2013 của Bộ Y tế về việc ban hành Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần VI [9]
- Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế quy định ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của Bảo hiểm Y tế [10]
- Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện [7]
1.3 DANH MỤC THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN
- Danh mục vị thuốc có 210 vị được phân thành 25 nhóm theo tác dụng dược
lý của thuốc Danh mục gồm 5 cột: I Số thứ tự; II Số thứ tự của vị thuốc trong danh mục; III Tên vị thuốc; IV Nguồn gốc (bắc, nam); V Tên khoa học của cây, con hoặc khoáng vật làm thuốc
- Danh mục này sẽ được sửa đổi, bổ sung nếu nhu cầu sử dụng thuốc thực tế
có thay đổi
1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN THUỐC VÀ DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG KHÁM CHỮA BỆNH BẰNG YHCT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Những nghiên cứu về thực trạng khám chữa bệnh bằng YHCT tại các cơ sở y
tế công lập còn không nhiều Phần lớn tập trung mô tả nguồn nhân lực YHCT và thực trạng sử dụng thuốc YHCT tại tuyến y tế cơ sở và cũng như hộ gia đình Có rất ít các nghiên cứu về đánh giá các giải pháp và mô hình can thiệp đối với khám chữa bệnh YHCT
1.4.1 Trên thế giới
Năm 2011, Huang và cộng sự đã nghiên cứu mối liên quan giữa thực hành cung cấp các dịch vụ KCB bằng YHCT và y học hiện đại (YHHĐ) của các thầy thuốc với vai trò của đào tạo chuyên ngành của họ [13] Kết quả nghiên cứu tỷ lệ cung cấp dịch vụ YHCT tại bệnh viện cao nhất là từ các bác sỹ được đào tạo YHCT hoặc YHCT kết hợp YHHĐ Các bác sỹ được đào tạo YHHĐ thuần túy có
tỷ lệ dùng YHCT ít nhất Trong cùng năm Namgay Lhamo và cộng sự cũng tiến hành nghiên cứu về nhận thức và thái độ của người Bhutan về sử dụng YHCT, kết
Trang 23quả nghiên cứu cho thấy phần lớn người dân có niềm tin vào YHCT và YHCT được sử dụng khá rộng rãi Việc sử dụng này phụ thuộc vào nhận thức của người dân [14]
- Nghiên cứu của Jay J Shen và cộng sự tại 97 bệnh viện YHCT và 103 BVĐK năm 2003-2004 cũng cho kết quả như sau:
+ Tại các bệnh viện YHCT năm 2003: tỷ lệ sử dụng YHHĐ trong điều trị là 44,3%, làm các test xét nghiệm là 3,64%, các thủ thuật ngoại khoa YHHĐ là 3,44% Đến năm 2004, các tỷ lệ đều tăng lần lượt là 47,4%; 5,06% và 7,2% + Tại các BVĐK: năm 2003 tỷ lệ sử dụng YHCT trong điều trị là 26,4%, sử dụng chế phẩm thuốc YHCT cho bệnh nhân ngoại trú là 5,26% Năm 2004, các tỷ
lệ này đều giảm lần lượt là 18,8% và 3,87%
- Kết quả nghiên cứu trên cho thấy khuynh hướng sử dụng YHHĐ ngày càng tăng trong các Bệnh viện YHCT Trung Quốc Kết quả này cũng tương tự như kết quả điều tra tổng thể tại Trung Quốc về tỷ lệ sử dụng YHCT và YHHĐ trong các Bệnh viện từ năm 1999-2008: tại các Bệnh viện YHCT, tỷ lệ sử dụng YHHĐ tăng
từ 59,6% (1999) lên 62,2% (2003) và 66,1% (2008) Còn ở các Bệnh viện YHHĐ,
tỷ lệ sử dụng YHCT có khuynh hướng giảm sút từ 18,0% (1999) xuống 15,4% (2003) và 13,7% (2008)
- Năm 2010, R Chirunthorn và cộng sự tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hài lòng của bệnh nhân đối với cung cấp dịch vụ YHCT tại Bệnh viện
đa khoa Songkhla Một số yếu tố tác động được xác định là tính phổ cập, dễ tiếp cận tới dịch vụ, chất lượng của chính dịch vụ
- Năm 2009, Vincent C.H Chung và cộng sự tiến hành một điều tra quốc gia
về tình hình sử dụng YHCT bổ trợ và thay thế vùng đồng bằng sông Châu Giang Kết quả cho thấy có 19,2% bệnh nhân ngoại trú được điều trị bằng YHCT tương đương 0,67 tỷ lượt bệnh nhân khám điều trị/năm Tuy nhiên phần lớn trong số này đến khám điều trị tại Bệnh viện, chỉ có một tỷ lệ nhỏ 5,1% trong số này đến khám điều trị tại Trạm Y tế xã Lý do đại đa số bệnh nhân (91%) không muốn đến Trạm
Y tế xã khám và điều trị YHCT vì họ không tin tưởng vào trình độ chuyên môn
Trang 24của bác sỹ tại Trạm Y tế xã và có tới 75% cho rằng chất lượng dịch vụ tại Trạm Y
tế xã không đảm bảo chất lượng
- Năm 2009-2010, Tổ chức Nippon Foudation đã triển khai một số dự án can thiệp nhằm tăng cường sử dụng YHCT tại một số nước Asean như dự án cung cấp túi thuốc thiết yếu YHCT cho cán bộ y tế sử dụng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Mongolia, đào tạo YHCT cho y tế thôn bản ở Campuchia và Myanmar Kết quả đánh giá cho thấy các hoạt động can thiệp này đã đạt kết quả tốt và góp phần cải thiện chất lượng Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại các cộng đồng nghèo ở các quốc gia này Kết quả cho thấy cả thầy thuốc và bệnh nhân đều cho rằng YHCT có nhiều ưu điểm đó là dễ tiếp cận, an toàn, chi phí thấp và chữa được nhiều triệu chứng bệnh
- Năm 2012, Narayan và cộng sự tiến hành nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của 96 bệnh nhân ngoại trú đối với cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh bằng YHCT tại Bệnh viện YHCT Kathmandu, Nepal [15] Kết quả cho thấy tỷ lệ chỉ có 25,3% bệnh nhân rất hài lòng, đa phần họ có thu nhập thấp, bên cạnh đó có tới 74,7% bệnh nhân chưa thực sự hài lòng Các lý do chính làm bệnh nhân không hài lòng là
do khoảng cách đến Bệnh viện xa, thời gian đợi khám lâu, giờ khám chưa phù hợp
- Năm 2012, Viện nghiên cứu YHCT Hàn Quốc đã kết hợp với Bệnh viện YHCT Trung ương của Việt Nam tiến hành một điều tra về YHCT bổ trợ và thay thế tại các bệnh viện YHCT Việt Nam Kết quả cho thấy: hầu hết các thầy thuốc tại các Bệnh viện YHCT (99,7%) cho biết họ đã kết hợp YHHĐ với YHCT trong thực hành KCB hàng ngày Tuy nhiên tỷ lệ kết hợp rất dao động từ 5% - 100%
1.4.2 Tại Việt Nam
Một số nghiên cứu mô tả thực trạng nguồn lực và sử dụng các phương pháp YHCT trong khám chữa bệnh và CSSK: Năm 1996, Đỗ Thị Phương nghiên cứu
“Hiện trạng sử dụng YHCT và tác dụng điều trị của tám chế phẩm thuốc nam ở một số cộng đồng nông thôn” [11] Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng YHCT tại các Trạm y tế xã giảm sút nghiêm trọng Trên 30% Trạm Y tế xã không còn hoạt động YHCT mà sử dụng hoàn toàn YHHĐ để KCB Kết quả này cũng
Trang 25tương tự như kết quả trong một điều tra toàn quốc “Đánh giá hiện trạng nhân lực
và sử dụng thuốc YHCT” do Bộ Y tế tiến hành năm 1998 [2] Khuynh hướng giảm sút sử dụng YHCT xảy ra ở cả 3 tuyến cơ sở y tế cùng với sự thiếu hụt về nguồn nhân lực YHCT
Đáp ứng chủ trương của Chính phủ về tăng cường khôi phục và phát triển YHCT trong thời kỳ đổi mới để đảm bảo chất lượng và sự công bằng trong CSSK nhân dân, một loạt các nghiên cứu về thực trạng sử dụng YHCT tại các địa phương được tiến hành nhằm hỗ trợ cho việc hoạch định kế hoạch và các giải pháp can thiệp nhằm tăng cường hoạt động YHCT của từng tỉnh, thành Các nghiên cứu về thực trạng YHCT được tiến hành từ sau năm 1998 tập trung mô tả tình hình sử dụng YHCT của các cán bộ y tế tại các cơ sở y tế và của người dân tại cộng đồng
Cụ thể có những nghiên cứu sau:
Năm 2001, Đoàn Hồng Ngân nghiên cứu “Đánh giá thực trạng mạng lưới YHCT tỉnh Cao Bằng”
Năm 2002, Đặng Thị Phúc tiến hành nghiên cứu về “Thực trạng sử dụng YHCT tại tỉnh Hưng Yên” Còn Phạm Nhật Uyển tiến hành nghiên cứu về thực trạng sử dụng YHCT tại tỉnh Thái Bình
Năm 2003, Nguyễn Thanh Bình "Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc YHCT
và tân dược ở khu vực Hà Nội” [16], nghiên cứu đã mô tả thực trạng sử dụng thuốc của nguời dân tại các cơ sở y tế YHCT tư nhân và bước đầu đánh giá chất lượng sử dụng thuốc của người cung cấp dịch vụ YHCT ở các phòng chẩn trị YHCT
Năm 2006, Hoàng Hoa Lý tiến hành nghiên cứu “Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng YHCT ở một số địa phương tỉnh Bắc Ninh [12] Cũng trong năm này, Nguyễn Thị Nga tiến hành nghiên cứu “Khảo sát thực trạng cung cấp dịch vụ YHCT tại các xã huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên”; Trần Thị Thu Trang tiến hành nghiên cứu “Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc cổ truyền ở một số
cơ sở khám chữa bệnh tại Hà Nội” Năm 2007, Lê Văn Dũng có tiến hành nghiên cứu “Thực trạng hành nghề YHCT tư nhân tại tỉnh Hải Dương Lê Xuân Đệ nghiên
Trang 26cứu thực trạng sử dụng YHCT tại các cơ sở phòng chẩn trị đông y tỉnh Hưng Yên Trong cùng năm, nhóm nghiên cứu của đơn vị nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và Hội đông y thành phố Hà Nội nghiên cứu “Thực trạng cung cấp và sử dụng YHCT tại các cơ sở hành nghề YDCT tư nhân trên địa bàn Hà Nội”
Năm 2008, Phạm Vũ Khánh nghiên cứu tình hình sử dụng YHCT tại tuyến y
tế cơ sở Hà Tây Năm 2011, Phạm Phú Vinh tiến hành nghiên cứu "Thực trạng YHCT Lạng Sơn và đề xuất một số giải pháp để phát triển YHCT Lạng Sơn".[17]ư Trước yêu cầu của việc tăng cường cung ứng thuốc YHCT, một số nghiên cứu về khảo sát thực trạng cung ứng, quản lý, chất lượng thuốc YHCT đã được tiến hành: Năm 2006, Nguyễn Viết Thân nghiên cứu đánh giá thực trạng chất lượng dược liệu trên thị trường Việt Nam Năm 2008, Nguyễn Thị Lan nghiên cứu
“Thực trạng hoạt động quản lý hành nghề y dược cổ truyền (YDCT) tư nhân trên địa bàn Hà Nội” Cùng năm, Nguyễn Vũ Úy nghiên cứu “Thực trạng cung cấp và
sử dụng đông dược tại các cơ sở hành nghề YDCT tư nhân trên địa bàn Hà Nội” Năm 2008, Nguyễn Thị Lan nghiên cứu “Thực trạng hoạt động quản lý hành nghề y dược cổ truyền tư nhân trên địa bàn Hà Nội” Cùng năm, Nguyễn Vũ Úy nghiên cứu “Thực trạng cung cấp và sử dụng đông dược tại các cơ sở hành nghề YDCT tư nhân trên địa bàn Hà Nội”
Năm 2009, Phạm Việt Hoàng và Hoàng Thị Hoa Lý đã tiến hành nghiên cứu
“Tình hình sử dụng thuốc YHCT tại các cơ sở y tế tỉnh Bắc Ninh”
Năm 2012, Trần Ngọc Phương tiến hành nghiên cứu “Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc YHCT dùng cho chăm sóc sức khoẻ tại viện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh” Năm 2012, Phạm Vũ Khánh, Hoàng Hoa Lý nghiên cứu “Thựctrạng yêu cầu của việc tăng cường cung ứng thuốc YHCT, một số nghiên cứu về khảo sát thực trạng cung ứng, quản lý, chất lượng thuốc YHCT” đã được tiến hành: Năm 2006, Nguyễn Viết Thân nghiên cứu “Đánh giá thực trạng chất lượng dược liệu trên thị trường Việt Nam”
Năm 2012, Phạm Vũ Khánh, Hoàng Hoa Lý nghiên cứu “Thực trạng sử dụng thuốc YHCT tại Trạm y tế xã ở tỉnh Hà Tĩnh, Bình Định và trạng sử dụng thuốc YHCT tại Trạm y tế xã ở tỉnh Hà Tĩnh, Bình Định và Đăklak” [17]
Trang 27Năm 2012, Phùng Văn Tân nghiên cứu “Thực trạng sử dụng thuốc YHCT tại
2 xã Minh Châu và Ba Vì huyện Ba Vì, Hà Nội” Bộ Y tế cũng tiến hành nhiều cuộc khảo sát và hội nghị về thuốc YHCT, đánh giá tình hình sử dụng thuốc YHCT trong cơ sở khám chữa bệnh Nhiều báo cáo về thực trạng thuốc YHCT trong các hội nghị do Bộ Y tế tổ chức cũng cho thấy nhiều bất cập về công tác quản lý cũng như chất lượng thuốc YHCT Bộ Y tế cũng đã đề ra những quy định tạm thời về nguyên tắc cơ bản để sản xuất thuốc từ dược liệu, và các biện pháp quản lý
Kết quả các nghiên cứu trên đều phản ánh tình trạng bất cập về cung ứng thuốc YHCT tại các cơ sở y tế công lập và cả tư nhân, chất lượng dược liệu, công tác quản lý thuốc YHCT
Một hướng khác mà các nghiên cứu về thực trạng YHCT trong giai đoạn này cũng tập trung tìm hiểu đó là nguồn nhân lực YHCT, kiến thức, kỹ năng thực hành, thái độ hành vi sử dụng YHCT và các yếu tố quan trọng liên quan đến thực hành
sử dụng YHCT tại cơ sở y tế và cộng đồng Các nghiên cứu đã tiến hành là: Năm
2003, Phan Thị Hoa nghiên cứu về “Đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng YHCT ở một số cộng đồng dân cư tỉnh Ninh Bình” Nội dung nghiên cứu đề cập tới mối liên quan của nhận thức, kiến thức YHCT của người dân với hành vi thực hành YHCT của họ trong việc tự sử dụng YHCT hoặc quyết định sử dụng dịch vụ YHCT ở cơ sở y tế
Năm 2005, Đỗ Thị Phương và cộng sự nghiên cứu về “Kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng YHCT của cán bộ y tế huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên” Năm 2006, Nguyễn Thị Nga tiến hành nghiên cứu “Khảo sát thực trạng cung cấp dịch vụ y học cổ truyền tại các xã huyện Phú Lương”
Năm 2007, Tôn Thị Tịnh tiến hành nghiên cứu “Đánh giá thực trạng kiến thức thực hành về YHCT của bác sỹ YHCT tỉnh Thái Nguyên” Trong nội dung nghiên cứu tập trung đánh giá kiến thức, kỹ năng thực hành YHCT của CBYT tham gia điều trị bằng YHCT tuyến tỉnh và huyện Trong cùng năm Nguyễn Thị Thư tiến hành “Thực trạng và các giải pháp phát triển nguồn nhân lực YDCT tại thành phố
Hồ Chí Minh”
Trang 28Năm 2011, Trần Thị Oanh nghiên cứu “Đánh giá kiến thức và thực hành về YHCT của CBYT tỉnh Hưng Yên” Trong nội dung nghiên cứu tập trung đánh giá kiến thức, kỹ năng thực hành YHCT của CBYT tham gia điều trị bằng YHCT tuyến tỉnh và huyện dựa trên các tiêu chí trong quy trình kỹ thuật YHCT do Bộ Y
tế ban hành
Năm 2012, Vũ Việt Phong “Nghiên cứu thực trạng nguồn lực trạm y tế xã và
sử dụng YHCT tại 3 huyện Hà Nội năm 2012" [20]
1.5 MỘT VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH VIỆN YHCT TỈNH NINH BÌNH
Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình được thành lập từ năm 2000 Ngay
từ những năm đầu thành lập Bệnh viện không ngừng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho người bệnh điều trị nội trú, ngoại trú Hằng năm Bệnh viện đã khám và điều trị cho hàng nghìn lượt người Đến nay Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình thật sự là điểm hẹn tin cậy của người bệnh và nhân dân trong tỉnh Với những kết quả đạt được Bệnh viện liên tục đạt bệnh viện xuất sắc, Chi bộ Đảng trong sạch vững mạnh Năm 2009 và năm 2013 Bệnh viện được Bảo hiểm xã hội Việt Nam tặng bằng khen với thành tích làm tốt công tác chính sách Bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế
* Chức năng, nhiệm vụ
Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình là Bệnh viện hạng III với quy mô
100 giường bệnh có chức năng thực hiện khám bệnh, chữa bệnh đa khoa và phục hồi chức năng bằng Y học cổ truyền, kết hợp Y học cổ truyền với Y học hiện đại; nghiên cứu khoa học, bảo tồn và phát triển y, dược cổ truyền; đào tạo, chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỹ thuật, là cơ sở thực hành về y, dược cổ truyền của các cơ
sở đào tạo y, dược và các đơn vị có nhu cầu
Với nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; Nghiên cứu khoa học, bảo tồn và phát triển y, dược cổ truyền; Đào tạo các đối tượng có nhu cầu; tham gia chỉ đạo tuyến, triển khai các kỹ thuật được tuyến trên chuyển giao; Phòng chống bệnh dịch…
Trang 29* Về việc đầu tư trang thiết bị
Bệnh viện đã đầu tư, mua sắm nhiều trang thiết bị máy móc hiện đại như: máy điều trị bằng sóng ngắn và sóng cực ngắn; Laser châm; điều trị bằng các dòng điện siêu âm điều trị; điều trị bằng điện từ trường; đo mật độ xương, tổng phân tích tế bào máu bằng máy đếm tự động; chụp X quang; siêu âm màu 4D; ZZ2D phẫu thuật trĩ; laser thấu nhiệt…
Trên cơ sở đó Bệnh viện đã triển khai được 07 kỹ thuật mới trong điều trị riêng trong năm 2013, đã triển khai 07 kỹ thuật lâm sàng, 01 kỹ thuật cận lâm sàng
đã và đang điều trị cho người bệnh đạt hiệu quả cao [26]
Biểu đồ 1.3 Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình
- Khoa châm cứu -PHCN
- Quầy thuốc
Trang 30CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Ninh Bình, trong đó tập trung vào:
1 Hoạt động xây dựng DMT của Hội đồng thuốc và Điều trị bệnh viện và các hội đồng chuyên môn có liên quan khác trong việc xây dựng danh mục thuốc BV
- Khoa dược của bệnh viện
2 Danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Ninh Bình
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng phương pháp mô tả hồi cứu
2.2.2 Biến số nghiên cứu
- Phân tích cơ cấu và giá trị tiền thuốc theo nhóm điều trị
- Cơ cấu và giá trị tiền thuốc chủ yếu
- Cơ cấu và giá trị tiền thuốc theo quy chế chuyên môn (thuốc gây nghiện, thuốc tâm thần và tiền chất)