TRÁI PHIẾU VIỆT NAM
Trang 1THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM
Trang 3CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 4Đặc điểm cơ bản:
Chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ có Công ty, mà còn
có Chính phủ Trung ương và Chính phủ địa phương.
Người mua trái phiếu chỉ là người cho chủ thể phát hành vay tiền và là chủ nợ của chủ thể phát hành trái phiếu
Khác với người mua cổ phiếu là người Chủ sở hữu Công ty.
Trang 6Mệnh giá trái phiếu: hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là giá trị ghi trên trái phiếu Giá trị này được coi là số vốn gốc Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà người phát
hành phải trả Mệnh giá cũng thể hiện số tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn.
Trang 7Lãi suất danh nghĩa: Lãi suất trái phiếu
thường được ghi trên trái phiếu hoặc người phát hành công bố được gọi là lãi suất danh nghĩa Lãi suất này được xác định theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá trái phiếu và cũng
là căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu.
Trang 8Thời hạn của trái phiếu: là khoảng thời gian
từ ngày phát hành đến ngày người phát hành hoàn trả vốn lần cuối Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái phiếu trung hạn có thời gian
từ 1 năm đến 5 năm Trái phiếu dài hạn, có
thời gian từ 5 năm trở lên.
Trang 9Kỳ trả lãi: Là khoảng thời gian người phát
hành trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu Lãi suất trái phiếu được xác định theo năm,
nhưng việc thanh toán lãi suất trái phiếu
thường được mỗi năm hai hoặc một lần.
Trang 10Giá phát hành: Là giá bán ra của trái phiếu
vào thời điểm phát hành Thông thường giá phát hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của mệnh giá Tùy theo tình hình của thị trường và của người phát hành để xác định giá phát hành một cách thích hợp
Trang 11PHÂN LOẠI TRÁI PHIẾU
Phân loại theo người phát hành:
Trái phiếu của Chính phủ
Trái phiếu của doanh nghiệp
Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính
Trang 12PHÂN LOẠI TRÁI PHIẾU
Phân loại lợi tức trái phiếu
Trái phiếu có lãi suất cố định
Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi)
Trái phiếu có lãi suất bằng không
Trang 13PHÂN LOẠI TRÁI PHIẾU
Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành Trái phiếu bảo đảm
Trái phiếu có tài sản cầm cố
Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ
Trái phiếu không bảo đảm
Trang 14PHÂN LOẠI TRÁI PHIẾU
Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu
Trái phiếu vô danh
Trái phiếu ghi danh
Trang 15PHÂN LOẠI TRÁI PHIẾU
Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu
Trái phiếu có thể chuyển đổi
Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu
Trái phiếu có thể mua lại
Trang 16Nguyên tắc phát hành trái phiếu
1 Danh mục phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn.
Trang 17Nguyên tắc phát hành trái phiếu
2 Các hoạt động phát hành trái phiếu phải đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư.
Trang 18Nguyên tắc phát hành trái phiếu
3 Việc phát hành trái phiếu để cơ cấu lại nợ
phải đảm bảo nguyên tắc không phát hành trái
phiếu ra thị trường quốc tế để cơ cấu lại nợ
bằng đồng Việt Nam.
Trang 19Nguyên tắc phát hành trái phiếu
4 Đối với phát hành trái phiếu để đầu tư cho các chương trình, dự án, doanh nghiệp phát hành phải đảm bảo duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu là hai mươi phần trăm (20%) trong tổng mức đầu tư của chương trình, dự án.
Trang 20Nguyên tắc phát hành trái phiếu
5 Đối với trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, ngoài việc tuân thủ quy định của Nghị định này còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về vay và trả nợ nước ngoài.
Trang 21CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG
Thị trường trái phiếu Việt Nam:
Cho đến năm 2000 Việt Nam hầu như chưa
có thị trường trái phiếu thứ cấp mặc dù trái phiếu chính phủ và trái phiếu của một số doanh nghiệp đã được phát hành trong thập
kỷ 1990
Trang 23Tuy nhiên cho đến năm 2003 qui mô của thị
trường trái phiếu vẫn rất nhỏ Tổng số trái phiếu được phát hành đến thời điểm này mới chỉ bằng 4.5% GDP và chưa đến 1/3 được niêm yết trên sàn giao dịch
Trang 24Trong giai đoạn 2004-2009 chính phủ đã thực hiện một số biện pháp thực hiện các đề xuất của bản chiến lược với mục đích gia tăng
thanh khoản cho thị trường trái phiếu thứ cấp
Trang 25Sau giai đoạn 2009, đối mặt với những khó khăn
về kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Việt Nam không còn
chính sách nào đáng kể để tiếp tục thúc đẩy thị trường trái phiếu Từ tháng 11/2006 một số ngân hàng và công ty chứng khoán đã tập hợp nhau lập ra Diễn đàn Thị trường Trái phiếu (VBMF) và đến đầu năm 2010 Diễn đàn đã chính thức trở
thành Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam
(VBMA) với 58 thành viên chính thức
Trang 26Cơ cấu thị trường trái phiếu Việt Nam cho đến nay có tỷ lệ trái phiếu chính phủ lớn hơn 90%
tổng lượng trái phiếu được phát hành Tỷ lệ này tương đương với những thị trường kém phát
triển trong khu vực như Indonesia và Philippines
Trang 27Kể từ quí một 2008 đến nay, tổng vốn hóa của thị trường trái phiếu chưa bao giờ quay lại được
đỉnh và đang trên đà sụt giảm dần trong ba quí
cuối năm 2011 sau một giai đoạn phục hồi ngắn ngủi cuối năm 2010
Trang 28Không chỉ khối lượng phát hành đã chựng lại và
có nguy cơ tụt giảm, thời gian đáo hạn trung
bình của phân khúc trái phiếu chính phủ (Đồ thị 2) đã ngắn lại liên tục sau khi đạt đỉnh năm
2004 Đến cuối năm 2011 chỉ số này tụt xuống
5.22 năm, chỉ cao hơn không đáng kể so với thời điểm 2002 khi Việt Nam gần như chỉ phát hành trái phiếu 5 năm
Trang 30Mức độ dao động (volatility) lợi suất trái phiếu
chính phủ 10 năm của Việt Nam lại cao nhất
trong khu vực, trung bình trong 5 năm qua cao
gấp hai lần Thailand và gấp bốn lần Malaysia Sự bất ổn của giá trái phiếu có thể vì lý do chính
sách tiền tệ của Việt Nam có nhiều biến động
hoặc thị trường quá yếu thanh khoản nên giá bị tác động mạnh bởi các lệnh mua bán lớn
Trang 34Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay mới chiếm khoảng 16-17% GDP, đây là
tỷ trọng rất khiêm tốn so với các nước trên thế giới với quy mô của họ từ 50-100%
GDP Điều này có thể khẳng định, tiềm năng phát triển thị trường trái phiếu ở Việt Nam còn rất lớn.
CHƯƠNG 3: Giải pháp
Trang 35Tái cấu trúc nâng cao chất lượng tăng
Cho phép thành lập cơ quan định giá tín nhiệm
chủ thể phát hành trái phiếu trong nước.
Trang 36KẾT LUẬN
Trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu Vì vậy, trái phiếu là loại chứng
khoán được các nhà đầu tư ưa chuộng.
Dù trái phiếu được bán với giá nào (ngang
giá, giá chiết khấu hay giá gia tăng), thì lợi
tức luôn được xác định theo mệnh giá của trái phiếu và khi đáo hạn, người có trái phiếu sẽ
được thanh toán theo mệnh giá của trái
phiếu.