1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Những vấn đề cần biết về môi trường

79 358 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị đã nêu cần xác đ

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm qua tình trạng môi trường đã ở mức báo động, chính là

do sự suy thoái môi trường sinh thái bởi những nguyên nhân: sự phát triển của công nghiệp ồ ạt, các ngành công nghiệp gây ô nhiễm, tệ nạn phá rừng ngày càng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu, do sự mất cân bằng tài nguyên và dân số Dân số tăng nhanh đòi hỏi phải khai thác các tài nguyên tự do nhiều, chất thải các loại tăng nhanh hơn dẫn tới phá vỡ cân bằng, vắt kiệt tài nguyên

và ô nhiễm môi trường…

Theo kế hoạch quốc gia về môi trường đánh giá “Việt Nam hiện nay phải đương đầu với những vấn đề môi trường nghiêm trọng như nạn phá rừng, xói mòn đất, việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên ven biển, đe dọa tới các hệ sinh thái và sự cạn kiệt nguồn gien…” Do vậy bảo vệ môi trường đã trở thành vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, của nhân loại Mọi quá trình phát triển sẽ trở nên không bền vững nếu như chúng ta không quan tâm đến bảo vệ môi trường

Thư viện tỉnh Ninh Thuận biên soạn Thông tin chuyên đề: “Những vấn

đề cần biết về môi trường”, nhằm phổ biến đến bạn đọc kiến thức, thực

trạng về môi trường, về biện pháp bảo vệ môi trường của thế giới và Việt Nam hiện nay Tập thông tin được sưu tầm thu thập nhiều nguồn từ các bài viết được đăng trên báo - tạp chí, trên mạng Internet… và trình bày dưới dạng toàn văn, bài trích, bài tóm tắt chi tiết được chia thành ba phần:

Phần 1: Những văn bản pháp luật về môi trường

Phần 2: Vấn đề ô nhiễm môi trường

Phần 3: Những biện pháp bảo vệ môi trường

Đây là vấn đề rộng lớn mang tính thời đại, kính mời quý bạn đọc cùng chúng tôi tham khảo và tìm hiểu để góp phần vào nhiệm vụ chung của mọi người là gìn giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và môi trường sống

Trong quá trình sưu tầm, biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong bạn đọc và các bạn đồng nghiệp chia sẻ, đóng góp ý kiến Chân thành cám ơn!

THƯ VIỆN TỈNH NINH THUẬN

Trang 2

Phần 1:

Những văn bản pháp luật

về môi trường

Trang 3

Chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường

và chính sách ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực

môi trường của Việt Nam hiện nay

Ts Nguyễn Trung Thắng

Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường

1 Chủ trương xã hội hoá công

tác bảo vệ môi trường

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi

mới, nền kinh tế đang chuyển đổi từ kế

hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị

trường Một vấn đề đặt ra là ngoài sự

đầu tư từ ngân sách Nhà nước cần phải

huy động được mọi nguồn lực của xã

hội cho phát triển Chính vì vậy, Nhà

nước đã đề ra chủ trương “xã hội hoá”,

bao gồm cả lĩnh vực bảo vệ môi trường

(BVMT) Một cách khái quát nhất, xã

hội hóa công tác BVMT là việc huy

động các nguồn lực từ các thành phần

kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức

xã hội và cộng đồng tham gia các hoạt

động BVMT

1.1 Các định hướng/quy định về

xã hội hóa

Chủ trương xã hội hóa trong

BVMT đã được cụ thể hóa thông qua

các định hướng/quy định trong một số

văn bản dưới đây

a) Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ

Chính trị về bảo vệ môi trường trong

thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa

Nghị quyết 41/NQ-TW (ngày

15/11/2004) của Bộ Chính trị đã nêu

cần xác định rõ trách nhiệm BVMT của

Nhà nước, cá nhân, tổ chức và cộng

đồng, đặc biệt đề cao trách nhiệm của

các cơ sở sản xuất dịch vụ Tạo cơ sở

pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến

khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng

tham gia công tác BVMT Hình thành

các loại hình tổ chức đánh giá, tư vấn,

giám định, công nhận, chứng nhận về BVMT Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia các dịch vụ thu gom, tái sử dụng, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác về BVMT Xây dựng các quy ước, hương ước, cam kết về BVMT, các mô hình tự quản về môi trường của cộng đồng dân cư Phát triển các phong trào quần chúng tham gia BVMT, khen thưởng các điển hình tiên tiến về BVMMT

b) Luật bảo vệ môi trường 2005

Luật số 52/2005/QH 11 căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm

2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ

10 quy định về bảo vệ môi trường gồm

có 15 Chuơng như sau: Những quy định chung; Tiêu chuẩn môi trường; Đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường; Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; Bảo vệ môi trường

đô thị, khu dân cư; Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư; Bảo vệ môi trường biển, nước sông và các nguồn nước khác; Quản lý chất thải; Phòng ngừa, ứng phó sự cơ môi trường, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường; Quan trắc và thông tin

về môi trường; Nguồn lực bảo vệ môi trường; Hợp tác quốc tác quốc tế về bảo

vệ môi trường; Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, mặt trận Tổ

Trang 4

quốc Việt Nam và các tổ chức thành

viên về bảo vệ môi trường; Thanh tra,

xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố

cáo và bồi thường thiệt hại về môi

trường; Điều khoản thi hành

Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã

khẳng định BVMT là sự nghiệp của

toàn xã hội, là quyền và trách nhiệm của

mọi tổ chức, cá nhân Nhà nước khuyến

khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ

chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá

nhân tham gia hoạt động BVMT

Khuyến khích tổ chức, cá nhân thành

lập doanh nghiệp dịch vụ bảo vệ môi

trường trong các lĩnh vực thu gom, tái

chế, xử lý chất thải; quan trắc, phân tích

môi trường, đánh giá tác động môi

trường; phát triển, chuyển giao công

nghệ sản xuất thân thiện với môi

trường, công nghệ môi trường; tư vấn,

đào tạo, cung cấp thông tin về môi

trường; giám định về môi trường đối

với máy móc, thiết bị, công nghệ; giám

định thiệt hại về môi trường và các dịch

vụ khác về bảo vệ môi trường

c) Chiến lược BVMT quốc gia

đến năm 2010, định hướng đến 2020

Tương tự, Chiến lược bảo vệ môi

trường quốc gia đến 2010 và định

hướng đến 2020 đã xác định xã hội hóa

BVMT là một trong 8 giải pháp trọng

tâm để đạt được các mục tiêu về môi

trường Chiến lược nhấn mạnh cần thiết

phải xác lập các cơ chế khuyến khích,

các chế tài hành chính, hình sự và thực

hiện một cách công bằng hợp lý đối với

cả các đối tác Nhà nước cũng như các

đối tác tư nhân khi tham gia hoạt động

BVMT Đề cao vai trò của Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân,

các tổ chức xã hội trong BVMT, giám

sát BVMT Đưa BVMT vào nội dung

các hoạt động của cộng đồng dân cư

Lựa chọn những tập thể, cá nhân có

thành tích xuất sắc, tiêu biểu để tôn vinh khen thưởng Hàng năm tổ chức tốt giải thưởng môi trường quốc gia

1.2 Thực hiện xã hội hóa trong BVMT thời gian qua

Nhìn lại công tác BVMT trong thời gian qua, hoạt động xã hội hóa đã

có những thành tích đáng ghi nhận Rõ nét nhất là trong lĩnh vực thu gom, xử lý chất thải rắn Tại TP Hồ Chí Minh tỷ lệ tham gia vào công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt giữa các thành phần tư nhân và nhà nước là 40%

và 60% Ở Hà Nội, hiện nay ngoài công

ty URENCO còn có các đơn vị ngoài quốc doanh tham gia thu gom chất thải rắn như công ty cổ phần Thăng Long, Công ty cổ phần Xanh, hợp tác xã Thành Công Nhiều địa phương khác cũng đã có các đơn vị tư nhân thực hiện như Công ty thị chính Kiến An và Công

ty công trình công cộng Đồ Sơn ở Hải Phòng, Công ty cổ phần công nghiệp Cẩm Phả và công ty TNHH An Lạc Viên ở Quảng Ninh, công ty TNHH Huy Hoàng ở Lạng Sơn… Trong lĩnh vực xử lý chất thải rắn cũng đã có sự tham gia của khối tư nhân như công ty SERAPHIN, Tâm Sinh Nghĩa, Thủy lực máy…

Trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế, xây dựng các công trình xử lý chất thải… cũng đã có nhiều công ty, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia Nhiều viện nghiên cứu, trung tâm tư vấn tư nhân, quy tụ những chuyên gia môi trường, đang là lực lượng chính trong việc tư vấn, thực hiện các báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các doanh nghiệp, đánh giá môi trường chiến lược cho các

dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của nhiều cơ quan quản lý

Thời gian qua, công tác phổ biến, thúc đẩy BVMT trong các tầng lớp

Trang 5

quần chúng nhân dân cũng đã được

hình thành và bước đầu thực hiện có

hiệu quả Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

và các tổ chức thành viên đã ký kết với

Bộ TNMT các Nghị quyết liên tịch về

thúc đẩy BVMT Giải thưởng môi

trường được công bố hàng năm, các

phòng trào BVMT ngày càng phát triển

mạnh mẽ

Tuy nhiên, xã hội hóa BVMT cũng

đang có nhiều bất cập Cụ thể là chưa

xây dựng được các quy định pháp lý để

khuyến khích khối tư nhân tham gia sâu

rộng hơn nữa vào BVMT, ví dụ như

trong lĩnh vực xử lý, phục hồi các điểm

ô nhiễm, lĩnh vực công nghiệp môi

trường; chưa có cơ chế cạnh tranh lành

mạnh và công bằng giữa doanh nghiệp

tư nhân và doanh nghiệp nhà nước tham

gia BVMT Vẫn còn những đối xử chưa

thực sự bình đẳng giữa các doanh

nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

khác nhau tham gia bảo vệ môi trường

2 Chính sách ưu đãi đầu tư

trong bảo vệ môi trường

Để đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút sự

tham gia rộng rãi hơn nữa của các thành

phần kinh tế ngòai quốc doanh vào

BVMT, Nhà nước ta cũng đã và đang

tích cực xây dựng và ban hành các

chính sách ưu đãi, hỗ trợ trong BVMT,

cụ thể được điểm qua trong một số văn

bản dưới đây

a) Điều 117 của Luật BVMT

2005

Điều 117 của Luật BVMT 2005

quy định các hoạt động: xây dựng hệ

thống xử lý nước thải sinh hoạt tập

trung; cơ sở tái chế, xử lý chất thải rắn

thông thường, chất thải nguy hại, khu

chôn lấp chất thải; trạm quan trắc môi

trường; di dời cơ sở gây ô nhiễm môi

trường nghiêm trọng; xây dựng cơ sở

công nghiệp môi trường và công trình

bảo vệ môi trường khác phục vụ lợi ích

công về BVMT được hỗ trợ ưu đãi về đất đai

Hoạt động tái chế, xử lý, chôn lấp chất thải; sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo được miễn hoặc giảm thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường Máy móc, thiết bị, phương tiện, dụng cụ nhập khẩu được sử dụng trực tiếp trong việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; quan trắc và phân tích môi trường; sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo được miễn thuế nhập khẩu Các sản phẩm tái chế từ chất thải, năng lượng thu được từ việc tiêu huỷ chất thải, các sản phẩm thay thế nguyên liệu tự nhiên có lợi cho môi trường được Nhà nước trợ giá

Ngoài ra, tổ chức, cá nhân đầu tư BVMT được ưu tiên vay vốn từ các quỹ bảo vệ môi trường; trường hợp vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác để đầu tư BVMT thì được xem xét hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hoặc bảo lãnh tín dụng đầu

tư theo điều lệ của quỹ bảo vệ môi trường Chương trình, dự án BVMT trọng điểm của Nhà nước cần sử dụng vốn lớn được ưu tiên xem xét cho sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức

hỗ trợ là các tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư mới; dự án đầu tư mở rộng quy

mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh, đổi mới công nghệ trong việc

Trang 6

thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường;

dự án đầu tư nghiên cứu khoa học,

chuyển giao và ứng dụng công nghệ xử

lý, tái chế chất thải, công nghệ thân

thiện với môi trường và cơ sở gây ô

nhiễm môi trường nghiêm trọng phải di

của Bộ Tài chính về hướng dẫn ưu

đãi thuế đối với hoạt động BVMT

quy định tại Nghị định

04/2009/NĐ-CP về ưu đãi, hỗ trợ

Thông tư quy định rõ doanh

nghiệp, hợp tác xã thực hiện dự án đầu

tư BVMT, đáp ứng các tiêu chí cơ sở

thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực môi

trường được áp dụng thuế suất 10%

trong suốt thời gian hoạt động đối với

phần thu nhập của doanh nghiệp có

được từ dự án BVMT Doanh nghiệp

thành lập mới từ dự án đầu tư hoạt động

trong lĩnh vực BVMT thực hiện tại địa

bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó

khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy

định tại Nghị định số 124/2008/NĐ-CP,

được miễn thuế 04 năm kể từ khi có thu

nhập chịu thuế và được giảm 50% số

thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo; các

doanh nghiệp thành lập mới khác được

miễn thuế 4 năm kể từ khi có thu nhập

chịu thuế và được giảm 50% số thuế

phải nộp trong 5 năm tiếp theo

d) Quyết định 1030/QĐ-TTg của

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Đề

án phát triển ngành công nghiệp môi

trường Việt Nam đến năm 2015, tầm

nhìn đến năm 2025"

Theo Quyết định này, Nhà nước sẽ

hỗ trợ qua tín dụng nhà nước để phát

triển ngành công nghiệp môi trường và

khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong

và ngoài nước đầu tư phát triển ngành công nghiệp này Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp môi trường được hưởng các chính sách ưu đãi cao nhất về đất đai, vốn, thuế theo quy định của pháp luật

e) Quyết định số 249/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển dịch

vụ môi trường (DVMT) đến năm

2020

Theo Quyết định này, Nhà nước cũng có nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển dịch vụ môi trường Theo đó, các tổ chức, cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ môi trường được hưởng các chính sách hỗ trợ về đất đai, vốn; ưu đãi

về tín dụng; trợ cấp; miễn giảm thuế, phí ở mức cao nhất theo quy định của pháp luật

g) Quyết định 130/2007/QĐ-TTg

về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (CDM)

Theo đó, dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch CDM được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu

để tạo tài sản cố định của dự án, hàng hoá nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để phục vụ sản xuất… Thông tư liên tịch số 58/2008/TTLT-BTC-TN&MT cũng đã hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định này trong việc thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền thu lệ phí bán chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính được chứng nhận

h) Các quỹ bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Các hoạt động đầu tư cho BVMT cũng có thể là đối tượng ưu đãi của các quỹ BVMT ở Việt Nam, bao gồm Quỹ BVMT Việt Nam, Quỹ BVMT các địa phương và Quỹ BVMT một số ngành kinh tế

Trang 7

Quỹ BVMT Việt Nam được thành

lập theo Quyết định số

82/2002/QĐ-TTg ngày 26/6/2002 của Thủ tướng

chính phủ Đây là một tổ chức đầu tiên

ở cấp độ quốc gia thực hiện chức năng

như một tổ chức tài chính hỗ trợ vốn

cho các dự án môi trường trên toàn

quốc Vốn điều lệ của Quỹ là 500 tỷ

đồng Hoạt động của Quỹ được thực

hiện theo các phương thức: cho vay lãi

suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, tài trợ và

đồng tài trợ, nhận uỷ thác và uỷ thác,

mua trái phiếu chính phủ Đối tượng

được hỗ trợ tài chính là các chương

trình, dự án, hoạt động và nhiệm vụ bảo

vệ môi trường mang tính chất quốc gia,

tài chính cho các chương trình, dự án

BVMT trên địa bàn địa phương Quỹ tái

chế chất thải thành phố Hồ Chí Minh

với mục đích cho vay vốn để thực hiện

các chương trình, đề án, dự án thử

nghiệm, nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh

vực quản lý, tái chế, tái sử dụng chất

thải

Quỹ môi trường ngành than

(Vinacoal) được hình thành trên cơ sở

trích 1% doanh thu của tất cả các doanh

nghiệp thuộc Tổng công ty than cho

hoạt động BVMT Các hoạt động chủ

yếu của quỹ bao gồm: đầu tư dưới hình

thức cho vay với lãi suất bằng không và

ưu đãi đối với các dự án mang tính chất

chiến lược và toàn vùng (Cẩm Phả, Hòn

Gai, Uông Bí, Thái Nguyên); hỗ trợ các

dự án nghiên cứu đầu tư đổi mới và

hiện đại hoá công nghệ khai thác và chế

biến than; hỗ trợ vốn cho các doanh

nghiệp thành viên của Tổng công ty

than thực hiện các dịch vụ môi trường như quản lý và xử lý chất thải, hoàn nguyên đất sau khai thác; đầu tư ứng cứu ban đầu khi xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng tại các mỏ; tham gia vào các dự án môi trường quốc gia

và khu vực có liên quan

3 Một số đề xuất đối với công tác xã hội hóa và khuyến khích đầu

tư cho BVMT

Mặc dù đã được quy định trong hệ thống chính sách pháp luật về BVMT một cách khá đầy đủ và toàn diện, song kết quả đạt được trong thời gian qua chưa thực sự mạnh mẽ như mong đợi Nhiều vấn đề môi trường vẫn còn bức xúc, trong khi nguồn lực của Nhà nước

có hạn, cần thúc đẩy xã hội hóa mạnh

mẽ hơn nữa để có thể đạt được những kết quả tốt hơn trong công tác BVMT thời gian tới Để đạt mục đích đó, cần thực hiện một số biện pháp sau đây:

Thứ nhất, tích cực thực hiện chủ

trương kinh tế hóa ngành tài nguyên môi trường theo Nghị quyết số 27/NQ-BCS của Ban cán sự đảng bộ Bộ TNMT, theo đó cần rà soát lại và chuyển đổi các cơ chế quản lý quan liêu bao cấp sang cơ chế quản lý thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Xác định

rõ những lĩnh vực Nhà nước cần thực hiện, những lĩnh vực cần kêu gọi các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thực hiện

Thứ hai, xây dựng và thực hiện các

mô hình hợp tác công tư (public-private partnership - PPP), nhà nước và nhân dân cùng làm trong BVMT, đặc biệt là trong việc khắc phục, cải tạo các điểm nóng về môi trường

Thứ ba, xây dựng và ban hành các

văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn

về các chính sách ưu đãi về đất đai, về vốn, về thuế, về tín dụng cho các hoạt động BVMT cụ thể

Trang 8

Thứ tư, tổ chức truyền thông rộng

rãi, nâng cao nhận thức, tổ chức các

diễn đàn kêu gọi đầu tư vào các công

trình, dự án, hoạt động BVMT Tăng

cường cơ chế trao đổi thông tin liên

quan đến lĩnh vực BVMT, tạo điều kiện

thuận lợi cho khối tư nhân có nhu

cầu tham gia công tác xã hội hóa

BVMT

Thứ năm, thực hiện cổ phần hóa

các doanh nghiệp nhà nước đang cung

ứng dịch vụ môi trường và thành lập

các công ty cổ phần mới, các tổng công

ty, các tập đoàn tham gia cạnh tranh cung cấp các dịch vụ môi trường

Cuối cùng, cần thúc đẩy mạnh mẽ

hơn các phong trào BVMT trong nhân dân, đặc biệt cần phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội, các

tổ chức phi chính phủ, của cộng đồng trong việc giám sát và thực thi các quy định pháp luật về BVMT

http://vea.gov.vn/VN/

Một số Thông tư của Bộ Tài Nguyên Môi trường

Thông tư liên tịch Số: 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD do Bộ xây dựng ban hành

Thông tư liên tịch Hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc lựa chọn địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn do Bộ khoa học, công nghệ và môi tường - Bộ xây dựng ban hành

Thông tư liên tịch 106/2007/TTLT-BTC-BTNMT của Bộ Tài chính và

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Thông tư liên tịch 106/2007/TTLT-BTC-BTNMT của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 của liên Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Thông tư liên tịch 70/2008/TTLT-BTC-BTNMT của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường

Thông tư liên tịch 70/2008/TTLT-BTC-BTNMT của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn kinh phí hoạt động của tổ chức, bộ phận chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường và kinh phí thực hiện hợp đồng lao động theo Nghị định số 81/2007/NĐ-CP ngày 23/5/2007 của Chính phủ quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước

Mẫu thông báo kế hoạch vận hành thử nghiệm các công trình xử lý và bảo vệ môi trường trước khi dự án đi vào vận hành chính thức

Tài liệu tham khảo mẫu thông báo kế hoạch vận hành thử nghiệm các công trình xử lý và bảo vệ môi trường trước khi dự án đi vào vận hành chính thức (Ban hành kèm theo Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2008 của

Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường)

Trang 9

Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT-BTNMT-BTC của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính

Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT-BTNMT-BTC của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính về việc hướng dẫn lập dự toán công tác bảo vệ môi trường thuộc nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường

Thông tư số 04-2008-TT-BTNMT

Thông tư của Bộ Tài nghuyên và Môi trường số 04/2008/TT-BTNMT ngày

18 tháng 9 năm 2008 hướng dẫn lập, phê duyệt hoặc xá nhận đề án bảo vệ môi

trường và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường

Thông tư liên tịch 08/2008/TTLT-BQP-BTNMT của Bộ Quốc phòng và

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Thông tư liên tịch 08/2008/TTLT-BQP-BTNMT của Bộ Quốc phòng và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định

số 148/2006/NĐ-CP ngày 04/12/2006 của Chính phủ về quy hoạch, xây dựng, quản lý và bảo vệ Vành đai an toàn các kho đạn dược, vật liệu nổ; nhà máy sản xuất đạn dược, vật liệu nổ do Bộ Quốc phòng quản lý

http://tailieu.vn

Thông tư số 39/2010/TT-BTNMT:

Ban hành QCKTQG về môi trường

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 39/2010/TT-BTNMT ngày 16/12/2010 về việc Quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường

Theo đó, tại Thông tư số 39 quy định rõ 04 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường bao gồm:

1 QCVN 26:2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn quy

định giới hạn tối đa các mức tiếng ồn tại các khu vực có con người sinh sống, hoạt động và làm việc

2 QCVN 27:2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về độ rung quy định giá trị tối đa cho phép mức gia tốc rung tại các khu vực có con người sinh sống, hoạt động và làm việc

3 QCVN 28:2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế quy định giá trị tối đa cho phép của các thông số và các chất ô gây nhiễm trong nước thải y tế của các cơ sở khám, chữa bệnh

4 QCVN 29:2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải của kho và cửa hàng xăng dầu qui định giá trị tối đa cho phép của các thông số ô nhiễm trong nước thải của kho và cửa hàng xăng dầu trên đất liền khi thải vào các nguồn tiếp nhận

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 02 năm 2011

http://enidc.com.vn/

Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải nguy hại của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trang 10

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 quy định về quản lý chất thải nguy hại

Thông tư này quy định về quản lý chất thải nguy hại bao gồm:

1 Phân định, phân loại chất thải nguy hại (sau đây viết tắt là CTNH)

2 Điều kiện hành nghề quản lý CTNH (sau đây viết tắt là QLCTNH); thủ tục lập hồ sơ, đăng ký chủ nguồn thải CTNH, cấp phép hành nghề, mã số QLCTNH; vận chuyển xuyên biên giới CTNH

3 Kiểm tra, xác nhận việc thực hiện nội dung báo cáo Đánh giá tác động môi trường (sau đây viết tắt là ĐTM) và các yêu cầu của Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM đối với dự án đầu tư cơ sở xử lý CTNH do Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2011 Thông tư này thay thế Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại và Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên

và Môi trường ban hành Danh mục chất thải nguy hại

TTTH - VPTCMT

http://vea.gov.vn/VN

Quy trình kỹ thuật về lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch

sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo

Ngày 10/6, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 19/2011/TT-BTNMT quy định kỹ thuật về lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo

Theo đó, Quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo là thiết lập phương án sử dụng hợp lý tài nguyên, giải quyết các mối tương tác giữa các phương thức sử dụng và mâu thuẫn giữa các quy hoạch chuyên ngành nhằm cân bằng giữa nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường biển, hải đảo

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/8/2011

Theo đó, Thông tư quy định sửa đổi một số định mức kinh tế - kỹ thuật trong: Định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường không khí xung quanh

và nước mặt lục địa; Định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường

Trang 11

đất, nước dưới đất và nước mưa axit; Định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường nước biển, khí thải công nghiệp và phóng xạ

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2011

http://vea.gov.vn/VN/

Nghị định 117 – công cụ quan trọng

xử lý các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường

áng 27/5 tại Hà Nội, Tổng cục

Môi trường tổ chức Hội thảo

“Đánh giá những ưu điểm và tồn tại của

Nghị định số 117/2009/NĐ-CP

(31/12/2009) của Chính phủ về xử lý ô

nhiễm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

bảo vệ môi trường, đề xuất các giải

pháp sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với

thực tiễn” Thứ trưởng Chu Phạm Ngọc

Hiển tới dự và khai mạc Hội thảo

Thứ trưởng Chu Phạm Ngọc Hiển

đánh giá, sự ra đời của Nghị định góp

phần hoàn thiện các cơ chế, chính sách

pháp luật về môi trường, đồng thời là

công cụ quan trọng để xử lý các hành vi

vi phạm pháp luật về môi trường có

hiệu quả Tuy nhiên, theo Thứ trưởng

bên cạnh những ưu điểm của Nghị định

vẫn còn một số tồn tại như quy định về

hành vi vi phạm còn chung chung, mức

phạt chưa hợp lý, mức phạt thấp đối với

những hành vi có tính nguy hại cao

Mặt khác, hiện nay, có một số văn

bản quy phạm pháp luật thay đổi như:

Luật Thanh tra năm 2010; Nghị định số

29/2011/NĐ-CP về ĐMC, ĐTM và cam

kết bảo vệ môi trường; Thông tư số

12/2011/TT-BTNMT quy định về Quản

lý chất thải nguy hại… do đó, việc sửa

đổi, bổ sung Nghị định và phổ biến các

văn bản mới là cần thiết

Theo Chánh thanh tra Tổng cục Môi trường Lương Duy Hanh, những điểm mới của Nghị định 117 tập trung tại một số nội dung cơ bản về phạm vi rộng, mức phạt tăng lên từ 70 triệu lên

500 triệu đồng/1 hành vi, chi tiết khung

và mức phạt cho từng hành vi vi phạm, thẩm quyền xử phạt rộng cho công an

và thanh tra, thời hạn khắc phục hậu quả theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bổ sung các hành vi vi phạm mới đối với cơ sở gây ô nhiễm môi trường; gây ô nhiễm nghiêm trọng; chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản…

Bên cạnh những điểm mới, Nghị định 117 còn một số tồn tại về mẫu Biên bản vi phạm hành chính, xác định các hành vi vi phạm, hướng dẫn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung, thẩm quyền xử phạt của các chức danh quy định, phối hợp xử lý vi phạm, chia sẻ thông tin về kết quả thanh, kiểm tra, đặc biệt giữa Cảnh sát môi trường và các cơ quan quản lý Nhà nước…

3 báo cáo tham luận của Sở TN&MT Hà Nội, Thừa Thiên – Huế, Long An được trình bày tại Hội thảo, cũng chỉ rõ được ưu điểm, tồn tại của Nghị định này trong việc áp dụng đối với từng địa phương

Xuân Hợp (Theo monre) http://vea.gov.vn/VN/vanbanphapquy

S

Trang 12

Nghị định mới về môi trường

gày 18/4/2011, Chính Phủ ban hành Nghị định số: 29/2011/NĐ-CP quy định về đánh giá môi trường chiến

lược, đánh giá tác động môi trường,

cam kết bảo vệ môi trường

Về cấu trúc, Nghị định có 5

Chương, 41 Điều: Chương I là những

quy định chung; Chương II quy định

về đánh giá môi trường chiến lược;

Chương III quy định đánh giá tác

động môi trường; Chương IV quy định

về cam kết bảo vệ môi trường và

Chương V là điều khoản thi hành

Về nội dung, Nghị định

29/2011/NĐ-CP có một số quy định

mới như sau:

- Quy định cụ thể đối tượng thực

hiện đánh giá môi trường chiến lược,

các hình thức thực hiện đánh giá môi

trường chiến lược; nội dung báo cáo

đánh giá môi trường chiến lược Điều

chỉnh, bổ sung danh mục các dự án

phải lập báo cáo đánh giá tác động

môi trường

- Khi dự án thay đổi địa điểm,

không triển khai thực hiện trong thời

gian 36 tháng (kể từ ngày có quyết

định phê duyệt báo cáo đánh giá tác

động môi trường), thay đổi quy mô,

công suất, công nghệ làm gia tăng

mức độ tác động xấu đến môi trường

thì phải lập lại báo cáo đánh giá tác

động môi trường

- Trong quá trình tham vấn ý kiến cộng đồng khi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường nếu cần thiết thì

Uỷ ban nhân dân cấp xã triệu tập chủ

dự án, đại diện tổ chức, cộng đồng dân

cư chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án

để đối thoại, lấy ý kiến

- Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã hoạt động mà không

có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung, giấy đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, quyết định phê duyệt hoặc giấy xác nhận đề án bảo vệ môi trường thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, thì trong thời hạn không quá hai năm phải lập đề án bảo

vệ môi trường hoặc đề án bảo vệ môi trường đơn giản (các cơ sở có quy mô, tính chất tương đương đối tượng lập cam kết bảo vệ môi trường) trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đăng

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/6/2011 và thay thế các Điều 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14,

15, 16 và 17 của Nghị định 80/2006/NĐ-CP và các khoản 3, 4, 5,

6, 7, 8, 9 và 10 Điều 1 của Nghị định 21/2008/NĐ-CP

MINH CƯỜNG

http://www.sotnmt- bentre.gov.vn

N

Trang 13

Sẽ bổ sung quy định về hỗ trợ khắc phục ô nhiễm

gày 5/7, Thủ tướng Chính

phủ đã ký Quyết định số

38/2011/QĐ-TTg về việc sửa đổi,

bổ sung một số điều của Quyết định

số 58/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008

của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ

trợ có mục tiêu kinh phí từ ngân

sách nhà nước nhằm xử lý triệt để,

khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu

suy thoái môi trường cho một số đối

tượng thuộc khu vực công ích

Theo quyết định, trong khoản 2

Điều 1 được bổ sung như sau: Công

trình xử lý chất thải rắn thực hiện việc

đóng cửa bãi rác cũ theo Quyết định 64;

Công trình xử lý chất thải tập trung của

làng nghề gây ô nhiễm môi trường

nghiêm trọng theo Quyết định 64

Cơ sở gây ô nhiễm môi trường

nghiêm trọng phải xử lý triệt theo Quyết

định của Thủ tướng Chính phủ, thuộc

các đối tượng công ích sau: cơ sở giam

giữ, cải tạo phạm nhân; Trường; Trung

tâm giáo dưỡng; Trung tâm huấn luyện

nghiệp vụ thuộc lực lượng công an nhân

dân; cơ sở bảo trợ xã hội, Trung tâm chữa bệnh- giáo dục-lao động xã hội;

các đơn vị huấn luyện quân sự từ cấp quân khu trở lên; các cơ sở xử lý vũ khí, khí tài, trang thiết bị quân sự

Quyết định cũng sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Điều 2 về Điều kiện và nội dung hỗ trợ, điều 6 về Cơ chế quản lý

Quyết định này có hiệu lực thi

trương xây dựng Chương

trình mục tiêu quốc gia về

khắc phục ô nhiễm và cải

thiện môi trường

Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, Bộ Tài chính đưa

Chương trình mục tiêu quốc

gia về khắc phụ ô nhiễm và

N

N

Trang 14

cải thiện môi trường vào tổng hợp các

danh mục Chương trình mục tiêu quốc

gia giai đoạn 2011-2015, trình Chính

phủ xem xét để trình Quốc hội

Theo đó, mục tiêu chiến lược của

Chương trình là khắc phục ô nhiễm, cải

thiện và phục hồi chất lượng môi trường

tại các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái và

ngăn chặn sự phát sinh của các khu vực

bị ô nhiễm, suy thoái mới thông qua

việc tăng cường năng lực và hiệu quả

của công tác quản lý nhà nước về bảo

vệ môi trường để đảm bảo sự phát triển

bền vững của đất nước

Giai đoạn đến năm 2015 là tập

trung xây dựng thể chế, chính sách pháp

luật về khắc phục ô nhiễm và cải thiện

môi trường; tăng cường năng lực hệ

thống cơ quản lý nhà nước về từ Trung

ương đến địa phương, đẩy mạnh công

tác truyền thông, nâng cao nhận thức, ý

thức trách nhiệm của cộng đồng đối với

công tác bảo vệ môi trường nhằm ngăn

chặn, đảm bảo không phát sinh các khu

vực ô nhiễm môi trường mới

Cùng trong giai đoạn này, sẽ hoàn thành việc điều tra, khảo sát, khoanh vùng và lập bản đồ các khu vực bị ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng; bước đầu tiến hành khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường đối với các khu vực bị ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng làm thí điểm để triển khai các hoạt động khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường các khu vực môi trường ô nhiễm trong giai đoạn sau

Năm 2020 là sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và hệ thống quản lý nhà nước về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường; xã hội hóa công tác khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường; triển khai khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường đối với các khu vực bị ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

http://vea.gov.vn/VN

Điều chỉnh chính sách quản lý, đầu tư thu gom,

vận chuyển, xử lý rác thải nông thôn

BND TP Hà Nội vừa ban

hành Quyết định số

18/2011/QĐ-UBND điều chỉnh Điều

7 Quy định "Cơ chế chính sách đầu

tư, hỗ trợ từ ngân sách thành phố thực

hiện thu gom, vận chuyển, xử lý chôn

lấp rác thải nông thôn trên địa bàn các

huyện ngoại thành" ban hành kèm

theo Quyết định số

50/2010/QĐ-UBND của 50/2010/QĐ-UBND TP

Sở Tài nguyên và Môi trường

chính thức là cơ quan quản lý nhà nước

về rác thải nông thôn và có trách nhiệm

kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực

hiện các dự án đầu tư xây dựng bãi

chôn lấp rác thải hợp vệ sinh có kiểm

soát; chủ trì, phối hợp với các sở, ngành

có liên quan hướng dẫn các huyện lựa chọn, xác định các điểm xử lý rác thải tập trung; theo dõi việc vận hành, duy trì ô, bãi chôn rác thải hợp vệ sinh, đồng thời kiểm tra, chấp thuận trước khi vận

U

Trang 15

hành, sử dụng các ô, bãi chôn lấp rác và

hướng dẫn các huyện quy trình xử lý

chôn lấp rác thải có kiểm soát, hợp vệ

sinh môi trường theo qui định Sở Xây

dựng chủ trì tổ chức việc đấu thầu, đặt

hàng các hoạt động thu gom, vận

chuyển, xử lý, chôn lấp rác thải; xây

dựng định mức kinh tế kỹ thuật, chi phí đầu tư, đơn giá để các huyện tổ chức đấu thầu, đặt hàng thực hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý, chôn lấp rác hợp vệ sinh

Thúy Nga (Theo HNM) http://vea.gov.vn/VN/vanbanphapquy

Các điều ước ở phạm vi thế giới và khu vực

về vấn đề bảo vệ môi trường biển

ến nay, Việt Nam tích cực

tham gia các điều ước ở phạm

vi thế giới và khu vực về vấn đề bảo vệ

môi trường biển Các điều ước quốc tế ở

lĩnh vực này mà Việt Nam đã tham gia

bao gồm:

Công ước năm 1982 của Liên Hiệp

Quốc về Luật biển (UNLOSC) là bộ

luật hoàn chỉnh nhất về biển, dành phần

XII qui định việc bảo vệ và gìn giữ môi

trường biển , gồm có 11 mục và 46 điều

khoản (từ điều 192 đến 237) Việc tham

gia vào Công ước này tạo cơ sở pháp lý

giúp chúng ta bảo vệ và gìn giữ môi

trường biển của mình đồng thời đẩy

mạnh hợp tác quốc tế để ngăn ngừa, hạn

chế và chế ngự ô nhiễm môi trường

biển chung Điểm nổi bật của Công ước

là xác định rõ ràng quyền hạn và nghĩa

vụ của quốc gia ven biển trong việc

BVMTB khỏi ô nhiễm;

Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô

nhiễm từ tàu (MARPOL 73/78): Ra đời

năm 1973, đây là bộ luật chuyên ngành

hàng hải của thế giới, đã được thông

qua tại Hội nghị quốc tế về ô nhiễm

biển Công ước đưa ra những qui định

nhằm ngăn chặn ô nhiễm gây ra do tai

nạn hoặc do vận chuyển hàng hóa là

dầu mỏ, hàng nguy hiểm, độc hại bằng

tàu, cũng như do nước, rác và khí thải ra

Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với các tổn thất do ô nhiễm dầu - CLC 1969 và 1992 với những quy định nhằm bảo đảm tài chính cho những bên bị thiệt hại do tầu dầu gây ra và giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu;

Công ước COLREG về các quy tắc quốc tế phòng, tránh đâm, va trên biển năm 1972;

Công ước BASEL về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới các chất độc hại và việc loại bỏ chúng năm 1989;

Công ước về đa dạng sinh học năm 1992;

Công ước RAMSA về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước năm 1971, sửa đổi theo Nghị định thư Paris năm 1982 v.v

Minh Quang

http//www.vfej.vn

Đ

Trang 16

UNCLOS là công cụ pháp lý

để bảo vệ môi trường biển

(TN&MT) - Hội nghị lần thứ 21 các bên tham gia Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) đã khai mạc tại Trụ sở LHQ ở New York (Mỹ)

Chủ tịch Hội nghị, Camillo Gonsalves, nhấn mạnh, cộng đồng quốc tế và các nước thành viên LHQ tham gia Công ước được hưởng lợi ích từ chế độ pháp lý quốc tế mạnh được thừa nhận và thực hiện trên toàn cầu này đối với các đại dương trên thế giới Đây là công cụ pháp lý quốc tế thiết yếu để duy trì hòa bình và an ninh cũng như sử dụng bền vững các đại dương, hàng hải và bảo vệ môi trường biển Hội nghị lần thứ 21 này sẽ tập trung vào các vấn đề hành chính và ngân sách liên quan đến Tòa án quốc tế về Luật Biển (ITLS), báo cáo của Tổng Thư ký Cơ quan đáy biển quốc tế (ISA) và Chủ tịch Ủy ban Giới hạn thềm lục địa (CLCS) Patricia O'Brien, Phó Tổng Thư ký LHQ về các vấn đề luật pháp và cố vấn luật pháp của LHQ, cho biết, số nước thành viên tham gia UNCLOS đã lên tới 162 sau khi Thái Lan và Malawi phê chuẩn Công ước

Về công việc của Tòa án quốc tế về Luật Biển, bà nêu bật ý kiến tư vấn được Phòng Tranh chấp đáy biển đệ trình về trách nhiệm và nghĩa vụ của các nước bảo trợ cho các cá nhân và thực thể hoạt động tại các khu vực đáy biển Chủ tịch Toà

án, José Luís Jesus, nhấn mạnh, trong 162 nước thành viên UNCLOS, 44 nước đã tuyên bố các thủ tục giải quyết tranh chấp về giải thích hoặc ứng dụng UNCLOS trong đó 30 nước chọn Tòa án quốc tế về Luật Biển để giải quyết tranh chấp UNCLOS được coi là " hiến pháp của các đại dương " được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 10/12/1982 và có hiệu lực quốc tế ngày 16/12/1994

Trang 17

- Thông tư số 91/2005/TT-BTC ngày 18 tháng 10 năm 2005 quy định chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức nhà nước đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí;

- Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 về ban hành quy chế quản

- Quyết định số 326 ngày 15/4/2011 của Tổng cục Môi trường Ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện các chương trình, dự án, hoạt động sử dụng nguồn tài trợ nước ngoài thuộc thẩm quyền quản lý của Tổng cục Môi trường./

http://vea.gov.vn/VN

Trang 18

Phần 2:

Vấn đề

ô nhiễm môi trường

Trang 19

Môi trường sinh thái vấn đề của mọi người

Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu

Sự rối loạn bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng Con người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên Thông qua quá trình lao động, con người khai thác bảo vệ bồi đắp cho thiên nhiên Cũng qua quá trình đó con người xã hội dần dần có sự đối lập với tự nhiên

Sự suy thoái về

môi trường sinh thái

toàn cầu hiện nay

tím của mặt trời chiếu xuống trái đất

Có thể nói nếu không có tầng ozon thì

sự sống trên trái đất không tồn tại (tầng

ozon đã hấp thụ 99% lượng bức xạ tia

cực tím của mặt trời chiếu xuống trái

đất) Tầng ozon bị suy thoái sẽ tác động

mạnh đến mọi sinh vật trên trái đất, làm

tăng thêm các bệnh tật, làm giảm khả

năng miễn dịch của con người Cuối

năm 1985 các nhà khoa học Anh đã

phát hiện lổ thủng tầng ozon ở Nam

Cực, đến năm 1988 người ta lại phát

hiện ra lổ thủng ozon ở Bắc Cực…

Nguyên nhân gây ra sự suy thoái tầng

ozon là do các hợp chất cacbon có chứa

flo hoặc brôm Ước tính hàng năm có

khoảng 788.000 tấn CFH3 (Clo-ro

Cac-bon) thải vào môi trường, chất này được

sử dụng rộng rãi trong công nghệ đông lạnh và chất dung môi Vấn đề suy giảm tầng ozon đã và đang đụng chạm đến một trong những vấn đề nhức nhối và bức xúc nhất của nhân loại - vấn đề bệnh tật trong điều kiện xã hội phát triển Chẳng hạn ung thư vẫn đang được thế giới coi là bệnh nan y Sự suy thoái tầng ozon đã làm cho nhiều quốc gia thức tỉnh và lo ngại Đầu năm 1987,27 các nước đã ký công ước Viên về việc bảo vệ tầng ozon Những nước công nghiệp phát triển nhất đã cam kết giảm dần và tiến đến chấm dứt việc sử dụng, sản xuất và thải bỏ các chất gây tác hại cho tầng ozon vào năm 2000 Đó thực

sự là một quyết định thông minh và nhân đạo Song cho đến nay sự giảm độ

Trang 20

dày của tầng ozon vẫn là vấn đề quan

tâm và lo lắng của nhân loại Hậu quả

tiêu cực của hiện tại vẫn chưa thể chấm

dứt ngay được

Thứ hai là hiện tượng “hiệu ứng

nhà kính” Trái đất và khí quyển được

xem như là một nhà kính khổng lồ,

trong đó trái đất có nguy cơ bị đốt nóng

lên Nhiệt độ của trái đất tăng lên được

gọi là hiện tượng “hiệu ứng nhà kính”

Nguyên nhân của hiện tượng này là do

sử dụng nhiều các nguyên liệu hoá

thạch, do sự giảm sút diện tích rừng

xanh …, lượng khí thải độc CO2, CH4,

CFC3 vào thiên nhiên ngày càng

nhiều

Trong thế kỷ này, nhiệt độ của trái

đất tăng lên từ 0,30C đến 0,70C so với

thế kỷ trước Các nhà khoa học dự đoán

rằng đến năm 2030 nếu lượng khí CO2

tăng lên hai lần thì nhiệt độ tăng từ

1,50C đến 4,50C Khi nồng độ khí CO2

trong khí quyển tăng lên, một phần

nhiệt độ của trái đất bốc lên gặp khí

CO2 sẽ phản chiếu trở lại đốt nóng trái

đất Nhiệt độ của trái đất tăng lên sẽ làm

tan khối lượng khổng lồ ở hai cực và

làm cho mực nước biển dâng lên Mực

nước biển dâng lên là nguy cơ đe dọa

rất nhiều quốc gia và đời sống của hàng

triệu dân trên thế giới

Hiện tượng “hiệu ứng nhà kính”

gắn liền với một hiện tượng ô nhiễm

môi trường khác không kém phần nguy

hiểm đó là mưa axít Trong các chất khí

thải vào khí quyển, đặc biệt có SO2 và

NO2 theo hơi nước bốc lên cao, chúng

bị oxy hoá và thuỷ phân tạo thành axít,

gặp lạnh mưa xuống đất Mưa axít có

tác hại rất lớn đến các thế hệ sinh thái

nông nghiệp, làm giảm năng suất mùa

màng, có nơi còn bị mất trắng, làm

giảm chất lượng cây trồng và vật nuôi, phá hoại nặng nề các cánh rừng ôn đới phía Bắc bán cầu Mưa axít còn làm ô nhiễm các đường ống nước uống và nước sinh hoạt của con người và sinh vật, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và tính mạng của con người

Ngoài ra sự suy thoái môi trường còn thể hiện ở sự ô nhiễm nguồn nước sạch Tổng lượng nước trên toàn cầu là 1.360 triệu km3, trong đó lượng nước ngọt chỉ chiếm trên dưới 3% và con người chỉ sử dụng được khoảng 1% để phục vụ nhu cầu của xã hội Thế nhưng 1% đó đang bị ô nhiễm bởi các chất thải trong sinh hoạt, trong sản xuất… Như các hoá chất dùng trong công nghiệp, thuốc trừ sâu, phân bón hoá học dùng trong nông nghiệp…

Nguyên nhân chính dẫn đến một loạt sự suy thoái môi trường sinh thái trên, trước hết phải kể đến sự phát triển của công nghiệp ồ ạt, đặc biệt là các ngành công nghiệp gây ô nhiễm Mỗi năm hoạt động sản xuất thải vào không khí 150 triệu tấn khí SO2, 200 triệu tấn CO2, 350.000 tấn CFC3… (Theo Phạm Thành Dung – Môi trường sinh thái, Tạp chí giáo dục lý luận số 3-99) Những chất mà những yếu tố khác trong

hệ thống, trong chỉnh thể môi trường sinh thái không thể hấp thụ được, nên

đã gây tác hại đến tầng ozon, đến nguồn nước sạch…

Nguyên nhân thứ hai là tệ nạn phá rừng ngày càng nghiêm trọng trên phạm

vi toàn cầu Có thể nói rừng là nước cho đời sống của thực vật và cho sản xuất của xã hội, là không khí trong lành, rừng là năng suất mùa màng… Rừng đóng vai trò quan trọng như thế, nhưng hiện nạy rừng trên thế giới đang kêu

Trang 21

cứu, cứ mỗi phút trôi qua có tới 21,5 ha

rừng nhiệt đới bị phá huỷ Sự mất mát

quá lớn của rừng tất yếu dẫn đến nghèo

kiệt của đất đai và sự biến mất dần

những sinh vật quý hiếm, sự tăng hàm

lượng CO2 trong khí quyển - một trong

những chất khí quan trọng nhất gây nên

“hiệu ứng nhà kính”, làm tăng nhiệt độ

trung bình của trái đất…

Một nguyên nhân nữa là do sự mất

cân bằng tài nguyên và dân số Dân số

tăng nhanh đòi hỏi phải khai thác các tài

nguyên tự do nhiều hơn nhịp điệu cao

hơn, chất thải các loại tăng nhanh hơn

dẫn tới phá vỡ cân bằng, vắt kiệt tài

nguyên và ô nhiễm môi trường

Tình trạng chạy đua vũ trang, sản

xuất các loại vũ khí hạt nhân, vũ khí

hoá học cũng là nguyên nhân vừa gây ô

nhiễm môi trường, vừa tạo khả năng

huỷ diệt thiên nhiên thông qua chiến

tranh xung đột

Đối với Việt Nam, tuy là một nước

nông nghiệp, hơn nữa sự phát triển của

xã hội ta hiện nay vẫn chưa vượt ra khỏi

trình độ của nền văn minh công nghiệp,

thế nhưng điều đó không có nghĩa là

không có hiểm hoạ sinh thái đe doạ

Ở các nước phát triển, hiểm hoạ sinh

thái là do sự phát triển của kỹ thuật

công nghệ, do sự phát triển tự phát của

nền văn minh công nghiệp, thì ở Việt

Nam, hiểm hoạ sinh thái là do sự kết

hợp giữa phát triển và lạc hậu, do ảnh

hưởng còn nặng nề của nếp suy nghĩ,

nếp làm của người sản xuất nhỏ và lối

sống công nghiệp còn chưa ổn định,

chưa hoàn thiện

Thiên nhiên nước ta trước đây bị

phá hoại bởi những cuộc chiến tranh

kéo dài, còn bây giờ bị phá hoại bởi

những hoạt động vô ý thức, bởi thái độ tuỳ tiện vô trách nhiệm, thiếu kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng các nguồn thiên nhiên Trước năm 1945, ở nước ta, rừng bao phủ 43,8% diện tích che phủ còn 28% (tức là dưới mức báo động 30%) Diện tích đất trồng đồi trọc đang bị xói mòn mạnh, lên khoảng 13,4 triệu ha Nguyên nhân chính là do du canh du cư, lấy gỗ, củi, mở mang giao thông, xây dựng thuỷ điện

Ô nhiễm môi trường cũng đang là vấn đề nan giải, chất thải công nghiệp, sinh hoạt, chất độc hại của quá trình sản xuất không được xử lý nghiêm túc mà đưa trực tiếp vào môi trường, gây bệnh tật và ô nhiễm môi trường sinh thái Khu công nghiệp Biên Hoà I hằng ngày

xả ra sông Đồng Nai khoảng 20.000m3 nước thải nhiễm bẩn và thải lượng chất rắn 260-300 tấn/ 1 tháng … Ấy là chưa

kể khu công nghiệp Biên Hoà II

Nồng độ bụi ở đô thị vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép Khí thải CO2 vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 – 2,5 lần

Ngoài ra vấn đề khai thác mỏ, vật liệu xây dựng, vàng, đá quý chính thức

và tự do cũng đã và đang làm huỷ hoại môi trường sinh thái Việc sử dụng mìn khai thác ở nhiều lĩnh vực đang làm phá

sự cân bằng về hệ sinh thái môi trường Mặc dù những hành động vô ý thức đó chưa có sự tham gia tích cực của yếu tố kỹ thuật, do vậy mà sức tàn phá đối với môi trường chưa đạt mức độ nghiêm trọng như các nước công nghiệp phát triển, nhưng cũng không phải là không đáng bàn Theo kế hoạch quốc gia về môi trường đánh giá “Việt Nam hiện nay phải đương đầu với những vấn

Trang 22

đề môi trường nghiêm trọng như nạn

phá rừng, với mòn đất, việc khai thác

quá mức nguồn tài nguyên ven biển, đe

doạ tới các hệ sinh thái và sự cạn kiệt

nguồn gien…” Thứ trưởng Bộ khoa học

– Công nghệ môi trường Phạm Khôi

Nguyên đã khẳng định tại Hội nghị môi

trường toàn quốc (10/1998) tại Hà Nội:

Bảo vệ môi trường đã trở thành vấn đề

sống còn của nhân loại Mọi quá trình

phát triển sẽ trở nên không bền vững

nếu như chúng ta không quan tâm đến

bảo vệ môi trường

Như vậy rõ ràng vấn đề bảo vệ môi

trường này không còn là vấn đề riêng

của một quốc gia mà là vấn đề của toàn

nhân loại Mặc dù vấn đề này đã được

cảnh tỉnh trước đó rất lâu, từ ngày

5-6-1972 tại Stockhom (Thuỵ Điển), các

nhà khoa học và đại diện chính phủ

nhiều nước đã họp Hội nghị môi trường

thế giới lần đầu tiên để nhắc nhở “Con

người hãy cứu lấy cái nôi của chúng ta”

và coi ngày 5-6 hàng năm là ngay môi

trường thế giới Sau đó 6-1992 tại

Braxin, Hội nghị thượng đỉnh về môi

trường thế giới diễn ra với tham dự của

hơn 100 quốc gia và tổ chức quốc tế,

một lần nữa khẳng định tình trạng suy

thoái môi trường nghiêm trọng, kêu gọi

mọi quốc gia hãy hợp tác hiệp lực có

trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi

trường Thế nhưng cho đến hôm nay,

tình trạng vẫn không được cải thiện

đáng kể là bao, và vấn đề ô nhiễm môi

trường vẫn là vấn đề nóng bỏng của mỗi

quốc gia

Rõ ràng đây là vấn đề rộng lớn

mang tính thời đại để giải quyết tốt

được nó, trong phạm vi chỉ vài trang

giấy không thể đưa ra được những biện

pháp cụ thể đầy đủ Ở đây tác giả chỉ

đưa ra những định hướng cơ bản bước đầu, góp phần vào nhiệm vụ chung của mọi người là gìn giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và môi trường sống

- Trước hết để làm tốt công tác bảo

vệ môi trường sống, chúng ta cần phải thay đổi nhận thức – xây dựng ý thức sinh thái

Tức là làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Con người cần phải nhận thức lại vị trí vai trò của mình và xã hội trong hệ thống tự nhiên – con người – xã hội

Thông qua quá trình phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ con người dân dần nắm bắt được các quy luật của tự nhiên và tìm cách vận dụng một cách hợp lý các quy luật đó vào hoạt động thực tiễn của xã hội, để tạo

cơ sở tự nhiên bền vững cho sự phát triển xã hội

- Thứ hai, cần phải kết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Ở Việt Nam, đã một thời do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, chúng ta chưa nhận thức đầu đủ ý nghĩa

vị trí tầm quan trọng của công tác bảo

vệ môi trường sinh thái Tình trạng tách rời công tác này với sự phát triển kinh

tế - xã hội xảy ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp Ý thức sinh thái học chủ yếu mới nằm trong đầu các nhà khoa học, các nhà quản lý … chứ chưa

có sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn

xã hội (Mặc dù gần đây đã có luật bảo

vệ môi trường) Đối với tình hình nước

ta muốn tăng trưởng kinh tế không có con đường nào khác là phải tiến hành

Trang 23

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nghị quyết Trung ương khoá VIII cũng

khẳng định: “Phát triển khoa học công

nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện

môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển

kinh tế - xã hội nhanh và bền vững”

Đối với nước ta hiện nay, để thực

hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá

trước hết phải đổi mới công nghệ để

tăng năng suất lao động và hiệu quả

kinh tế Đổi mới công nghệ bằng hai

con đường: chuyển giao công nghệ và

tự tiếp thu công nghiệp hiện đại – công

nghệ có hàm lượng chất xám cao và

công nghệ sạch, từ đó chúng ta mới có

thể thực hiện được công nghiệp hoá

hiện đại hoá rút ngắn, đồng thời đó

cũng chính là phương thức thực hiện

hữu hiệu nhất để kết hợp các mục tiêu

kinh tế và sinh thái Kiên quyết không

nhập công nghệ gây ô nhiễm môi

trường sinh thái với bất kỳ điều kiện

nào Phát triển kinh tế trên sự huỷ hoại

môi trường cũng đồng nghĩa với sự kết

án tương lai của mình Do vậy mục tiêu

chuyển giao công nghệ phải làm sao

vừa đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng

kinh tế, vừa đảm bảo vấn đề môi trường

sinh thái

- Thứ ba, nên sản xuất xã hội cần

phải thực hiện thêm chức năng tái sản

xuất các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trong một thời gian dài chúng ta

đã tiêu xài quá phung phí một nguồn

vốn - nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc

biệt là các nguồn tài nguyên thiên nhiên

không tái tạo được (các nguyên, nhiên

liệu hoá thạch) Các nguồn tài nguyên là

một loại vốn không thể thay thế được,

con người chỉ tìm ra chúng và sử dụng

chúng một cách ồ ạt, lãng phí, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường Nền sản xuất xã hội chưa quan tâm đúng mức đến hiệu quả của tài nguyên thiên nhiên, từ khâu khai thác chế biến, cũng như đến các chất thải bỏ, các quá trình sản xuất phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu sinh thái, đã thải ra quá nhiều chất độc hại cho môi trường

Để tránh tình trạng trên, nền sản xuất sản xuất cần phải thực hiện thêm chức năng tái sản xuất các nguồn tài nguyên thiên nhiên Cụ thể là phải thay thế phương thức sử dụng các nguồn tài nguồn thiên nhiên từ bề rộng sang bề sâu, cố gắng sử dụng tối đa các tính năng vốn có của nó để sao cho khi thảI

ra khỏi quá trình sản xuất, những chất thải đó, các sinh vật khác có thể sử dụng được, môi trường có thể tiếp nhận được và xử lý được như những chất thải của các sinh vật tự nhiên khác Nói cách khác là thực hiện phương pháp chu trình công nghệ khép kín, nghĩa là đưa các chất thải của sản xuất vào lĩnh vực tiêu dùng của sản xuất, tăng cường cái gọi là

“công nghệ khô”, khử các chất độc hại bằng sinh học

Tóm lại, các nhân tố kinh tế, con người, môi trường, công nghệ gắn bó chặt chẽ với nhau Chỉ có sự thực hiện đồng bộ các nhân tố đó mới tạo ra được

sự tiến bộ thật sự của xã hội Ở đây, con người với tư cách là chủ thể của lao động và trí tuệ là nhân tố giữ vai trò quyết định cho sự phát triển lâu bền

Thanh Tâm

http://www.moitruong.com.vn/Home/

Trang 24

Biến đổi khí hậu sẽ tác động nguy hiểm đến nguồn nước

Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO) vừa cảnh báo, biến đổi khí hậu sẽ tác động nguy hiểm đến nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp trong thập kỷ tới

Nghiên cứu của FAO khẳng định, biến đổi khí hậu, nước và an ninh lương thực ngày càng liên quan chặt chẽ với nhau Nghiên cứu này là nghiên cứu toàn diện về các nguồn tri thức khoa học đương đại liên quan đến hậu quả có thể thấy trước của biến đổi khí hậu đối với nguồn nước cho nông nghiệp Nguồn nước ở các sông và nguồn nước ngầm đang giảm nhanh ở khu vực Địa Trung Hải và ở châu Á lâu nay vẫn phụ thuộc vào nguồn nước tan từ băng và tuyết trên núi các khu vực nửa khô hạn ở châu Mỹ, châu Đại dương và miền Nam châu Phi Biến đổi khí hậu cũng đã tác động đến nhiều khu vực đất nông nghiệp rộng lớn trong khi đó các đồng bằng đông dân cư ở các lưu vực sông cũng đứng trước nguy cơ các nguồn nước giảm, mặn hóa tăng và nước biển dâng cao Việc mất các dòng sông băng vốn cung cấp tới 40% lượng nước cho sản xuất nông nghiệp thế giới sẽ tác động đến nguồn nước mặt cung cấp cho sản xuất nông nghiệp ở các khu vực sản xuất nông nghiệp chủ chốt

Nhiệt độ trái đất tăng do biến đổi khí hậu sẽ kéo dài các vụ gieo trồng ở các vùng ôn đới nhưng rút ngắn các vụ gieo trồng ở các khu vực khác Cùng với quá trình bốc hơi nước bị đẩy nhanh do nhiệt độ tăng, biến đổi mùa vụ này sẽ giảm sản lượng lương thực cũng như giảm lượng nước cung cấp cho cây trồng Đời sống của cộng đồng dân cư ở nông thôn cũng như an ninh lương thực của dân cư đô thị

Quân Phú http://www.monre.gov.vn

Biến đổi khí hậu tác động đến nước nông nghiệp

Trong báo cáo "Biến đổi khí hậu, Nước và An ninh lương thực," công bố ngày 9/6, Tổ chức Lương Nông Liên hợp quốc (FAO) đã cảnh báo biến đổi khí hậu sẽ tác động nguy hiểm đến nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp trong những thập kỷ tới

Trang 25

Báo cáo của FAO khẳng định biến đổi khí hậu, nước và an ninh lương thực ngày càng liên quan chặt chẽ với nhau Đây là nghiên cứu toàn diện về các nguồn tri thức khoa học đương đại liên quan đến hậu quả có thể thấy trước của biến đổi khí hậu đối với nguồn nước cho nông nghiệp

Nguồn nước ở các sông và nguồn nước ngầm đang giảm nhanh ở khu vực Địa Trung Hải và các khu vực bán khô hạn ở châu Mỹ, châu Đại dương và miền Nam châu Phi Biến đổi khí hậu cũng đã tác động đến nhiều khu vực đất nông nghiệp rộng lớn ở châu Á lâu nay vẫn phụ thuộc vào nguồn nước tan từ băng và tuyết trên núi; trong khi đó các vùng đồng bằng đông dân cư ở các lưu vực sông cũng đứng trước nguy cơ giảm các nguồn nước, quá trình mặn hóa gia tăng và nước biển dâng cao Việc mất các dòng sông băng, vốn cung cấp tới 40% lượng nước cho sản xuất nông nghiệp thế giới, sẽ tác động đến nguồn nước mặt cung cấp cho sản xuất nông nghiệp ở các khu vực sản xuất nông nghiệp chủ chốt

Theo báo cáo của FAO, nhiệt độ Trái Đất tăng do biến đổi khí hậu sẽ khiến các vụ gieo trồng ở các vùng ôn đới bị kéo dài, nhưng lại làm cho các vụ gieo trồng ở những khu vực khác bị rút ngắn Cùng với quá trình bốc hơi nước bị đẩy nhanh do nhiệt độ tăng, sự biến đổi mùa vụ này sẽ làm giảm sản lượng lương thực cũng như lượng nước cung cấp cho cây trồng Đời sống của cộng đồng dân cư ở nông thôn cũng như an ninh lương thực của dân cư đô thị bị đe dọa

Báo cáo của FAO cũng đưa ra kiến nghị các hành động để các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý nguồn nước khu vực và địa phương cũng như nông dân có thể thực hiện nhằm đối phó với những thách thức bắt nguồn từ biến đổi khí hậu

Trước hết là cần tăng cường năng lực của các nước thực hiện chế độ hiệu quả

“tài khoản nước,” biện pháp quản lý nguồn cung cấp nước, chuyển nhượng và các giao dịch về nước để thông tin các quyết định về quản lý và sử dụng nguồn nước; nông dân nghiên cứu thay đổi mô hình nông nghiệp để gieo trồng muộn hơn, giảm lượng nước sử dụng và tối ưu hóa thủy lợi./

NN_Theo TTXVN/Vietnam

http://www.moitruong.com.vn

Môi trường Việt Nam đang có diễn biến phức tạp

heo Báo cáo môi trường Quốc gia 2010 - Tổng quan môi trường Việt Nam, được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố ngày 10/6, tại Hà Nội, ô nhiễm môi trường hiện tiếp tục gia tăng, đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng

Cũng theo báo cáo trên, trong giai đoạn 2006-2010, môi trường Việt Nam có những diễn biến phức tạp, tập trung ở 5 vấn đề bức xúc chính: ô nhiễm môi trường

T

Trang 26

tiếp tục gia tăng; đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng; an ninh môi trường bị

đe dọa; quản lý môi trường còn nhiều bất cập; vai trò của cộng đồng chưa được huy động đúng mức

Hậu quả của ô nhiễm môi trường là những tác động tổng hợp tới sức khỏe cộng đồng, sản xuất nông nghiệp, gây ra những thiệt hại không nhỏ về kinh tế và ảnh hưởng xấu tới các hệ sinh thái tự nhiên Ô nhiễm môi trường cũng là nguyên nhân gây ra hàng loạt những xung đột trong khai thác sử dụng tài nguyên, giữa những nhóm gây ô nhiễm và cộng đồng bị ô nhiễm

Theo Luật bảo vệ môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao xây dựng Báo cáo môi trường quốc gia để trình Quốc hội và cung cấp thông tin về môi trường tới mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội Từ năm 2005-2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng Báo cáo môi trường quốc gia hàng năm theo các chuyên đề: Đa dạng sinh học (2005); Môi trường nước 3 lưu vực sông Cầu, Nhuệ - Đáy, hệ thống sông Đồng Nai (2006); Môi trường không khí đô thị (2007); Môi trường làng nghề (2008); Môi trường khu công nghiệp (2009)

Để đánh giá tổng thể và toàn diện về hiện trạng môi trường Việt Nam trong thời gian qua, dự báo xu thế, diễn biến môi trường trong thời gian tới và những thách thức, tồn tại trong công tác quản lý môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng Báo cáo môi trường quốc gia 2010 - Tổng quan môi trường Việt Nam

Báo cáo nhằm mục đích đánh giá tổng quan nguyên nhân và diễn biến hiện trạng môi trường Việt Nam trong giai đoạn 5 năm qua, cung cấp cơ sở thực tiễn để xem xét các tác động qua lại của phát triển kinh tế-xã hội và môi trường, kịp thời điều chỉnh kế hoạch phát triển, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước

Thực tiễn cho thấy, những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế-xã hội quan trọng Tuy nhiên, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề suy thoái môi trường gay gắt và nhiều hậu quả của biến đổi khí hậu khôn lường Ô nhiễm môi trường ở các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, các lưu vực sông trên cả nước và nhiều vấn đề môi trường bức xúc khác

đã trở thành những vấn đề nóng và là mối quan tâm của toàn xã hội Chính vì vậy, việc đánh giá, phân tích nguyên nhân, hiện trạng, tác động và xu hướng các vấn đề

có liên quan đến môi trường Việt Nam sẽ trợ giúp cho việc điều chỉnh, bổ sung các chính sách, kế hoạch và giải pháp nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sống của cộng đồng dân cư Nội dung báo cáo đã được xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường và các khó khăn, thách thức giai đoạn hiện nay

Từ định hướng trên, Báo cáo môi trường 2010 tập trung nghiên cứu các nội dung chính: đánh giá hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội và những tác động đối với môi trường; vấn đề biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ, sự cố môi trường và nguy cơ gây sức ép đối với môi trường; phân tích, đánh giá và đưa ra những minh chứng điển hình của tác hại do ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe cộng đồng, với phát

Trang 27

triển kinh tế-xã hội; đánh giá hiện trạng, diễn biến môi trường đất, nước, không

khí, chất thải rắn, đa dạng sinh học

Trên cơ sở Báo cáo môi trường Quốc gia 2010 và Tổng quan về môi trường

Việt Nam hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có một số kiến nghị với Quốc

hội, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương các nội dung cần thực hiện trong thời

gian tới như ban hành, sửa đổi, bổ sung các luật liên quan về môi trường, trước mắt

là luật bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội bền vững

và hội nhập quốc tế Giám sát, kiểm tra việc thi hành các luật liên quan trong công

tác bảo vệ môi trường Ngăn chặn việc gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa

dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo an ninh môi trường Tiếp tục

kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ trung ương

đến địa phương, đặc biệt là ở cấp xã, phường, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và

quyền hạn giữa các bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương

Phát triển các tổ chức sự nghiệp môi trường và doanh nghiệp hoạt động trong

lĩnh vực bảo vệ môi trường Đẩy mạnh đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật

về bảo vệ môi trường phục vụ công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, có

các biện pháp hữu hiệu phát triển ngành công nghiệp môi trường Xây dựng các cơ

chế chính sách và các giải pháp cần thiết để đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ

môi trường, huy động sức mạnh tổng hợp của cộng đồng và các tổ chức xã hội

trong sự nghiệp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững /

NN_Theo TTXVN/Vietnam+

http://www.moitruong.com.vn

Các dạng ô nhiễm chính

ưới đây

là các hình thức ô

mônôxít, điôxít lưu huỳnh, các chất

cloroflorocacbon (CFCs), và ôxít nitơ là

chất thải của công nghiệp và xe cộ

Ôzôn quang hóa và khói lẫn sương

(smog) được tạo ra khi các ôxít nitơ

phản ứng với nước trong không khí (

Nước thải từ các trạm xăng gas đổ thẳng ra vịnh San Francisco

D

Trang 28

chính là sương ) xúc tác là ánh sáng mặt

trời

 Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề

mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước

rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên

mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm

 Ô nhiễm đất xảy ra khi đất bị

nhiễm các chất hóa học độc hại (hàm

lượng vượt quá giới hạn thông

thường)do các hoạt động chủ động của

con người như khai thác khoáng sản,

sản xuất công nghiệp, sử dụng phân bón

hóa học hoặc thuốc trừ sâu quá nhiều,

hoặc do bị rò rỉ từ các thùng chứa ngầm

Phổ biến nhất trong các loại chất ô

nhiễm đất là hydrocacbon, kim loại

nặng, MTBE, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ

sâu, và các hydrocacbon clo hóa

 Ô nhiễm phóng xạ

 Ô nhiễm tiếng ồn, bao gồm tiếng

ồn do xe cộ, máy bay, tiếng ồn công

nghiệp

 Ô nhiễm sóng, do các loại sóng

như sóng điện thoại, truyền hình tồn

tại với mật độ lớn

 Ô nhiễm ánh sáng,hiện nay con

người đã sử dụng các thiết bị chiếu sáng

một cách lãng phí ảnh hưởng lớn tới

môi trường như ảnh hưởng tới quá trình

phát triển của động thực vật

Ô nhiễm môi trường đất

Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả

các hoạt động của con người làm thay

đổi các nhân tố sinh thái vượt qua

những giới hạn sinh thái của các quần

xã sống trong đất

Môi trường đất là nơi trú ngụ của

con người và hầu hết các sinh vật cạn,

là nền móng cho các công trình xây

dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa

của con người Đất là một nguồn tài

nguyên quý giá, con người sử dụng tài

nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông

nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp

lương thực thực phẩm cho con người

Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất đáng lo ngại

và nghiêm trọng

Ô nhiễm môi trường nước

Nước có thể bị phú dưỡng do ô nhiễm

Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn

ô nhiễm đất

Nước bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín Do lượng muối khoáng

và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được Kết quả làm cho hàm lượng ôxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực Ở các đại dương là nguyên nhân chính gây ô nhiễm đó là các sự cố tràn dầu ô nhiễm nước có nguyên nhân

từ các loại chất thải và nước thải công nghiệp được thải ra lưu vực các con

Trang 29

sông mà chưa qua xử lí đúng mức; các

loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu

ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao

hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ

các khu dân cư ven sông

Ô nhiễm môi trường không khí

Ô nhiễm môi trường không khí là

sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến

đổi quan trọng trong thành phần không

khí, làm cho không khí không sạch hoặc

gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu,

giảm tầm nhìn xa do bụi

Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là

vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế

giới chứ không phải riêng của một quốc

gia nào Môi trường khí quyển đang có

nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng

xấu đến con người và các sinh vật

Hàng năm con người khai thác và sử

dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí

đốt Đồng thời cũng thải vào môi

trường một khối lượng lớn các chất thải

khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất

thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm

cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng

lên nhanh chóng

Ô nhiễm môi trường khí quyển tạo

nên sự ngột ngạt và "sương mù", gây

nhiều bệnh cho con người Nó còn tạo

ra các cơn mưa axít làm huỷ diệt các

khu rừng và các cánh đồng

Điều đáng lo ngại nhất là con

người thải vào không khí các loại khí

độc như: CO2, đã gây hiệu ứng nhà

kính Theo nghiên cứu thì chất khí quan

trọng gây hiệu ứng nhà kính là CO2, nó

đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng

nhà kính, CH4 là 13%,, nitơ 5%, CFC là

22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3%

Nếu như chúng ta không ngăn chặn

được hiện tượng hiệu ứng nhà kính thì

trong vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ

dâng lên từ 1,5 – 3,5 m (Stepplan

Keckes) Có nhiều khả năng lượng CO2

sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷ sau

Điều này sẽ thúc đẩy quá trình nóng lên của Trái Đất diễn ra nhanh chóng Nhiệt

độ trung bình của Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,60 °C (G.I.Plass), và mỗi thập

kỷ sẽ tăng 0,30 °C

Theo các tài liệu khí hậu quốc tế, trong vòng hơn 130 năm qua nhiệt độ Trái Đất tăng 0,40 °C Tại hội nghị khí hậu tại Châu Âu được tổ chức gần đây, các nhà khí hậu học trên thế giới đã đưa

ra dự báo rằng đến năm 2050 nhiệt độ của Trái Đất sẽ tăng thêm 1,5 – 4,50 °C nếu như con người không có biện pháp hữu hiệu để khắc phục hiện tượng hiệu ứng nhà kính

Một hậu quả nữa của ô nhiễm khí quyển là hiện tượng lỗ thủng tầng ôzôn CFC là "kẻ phá hoại" chính của tầng ôzôn Sau khi chịu tác động của khí CFC và một số loại chất độc hại khác thì tầng ôzôn sẽ bị mỏng dần rồi thủng

Ảnh hưởng đối với sức khỏe con người

Không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm họng, đau ngực, tức thở Ô nhiễm nước gây ra xấp xỉ 14.000 cái chết mỗi ngày, chủ yếu do ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lý Các chất hóa học và kim loại nặng nhiễm trong thức ăn nước uống có thể gây ung thư Dầu lan có thể gây ngứa rộp da Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc, cao huyết áp, trầm cảm và bệnh mất ngủ, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng

Đối với hệ sinh thái

Lưu huỳnh điôxít và các nitơ ôxít

có thể gây mưa axít làm giảm độ pH của đất

Đất bị ô nhiễm có thể trở nên cằn cỗi, không thích hợp cho cây trồng Điều này sẽ ảnh hưởng đến các cơ thể sống khác trong lưới thức ăn

Trang 30

Khói lẫn sương làm giảm ánh sáng

mặt trời mà thực vật nhận được để thực

hiện quá trình quang hợp

Các loài xâm lấn có thể cạnh tranh

chiếm môi trường sống và làm nguy hại

cho các loài địa phương, từ đó làm giảm

đa dạng sinh học

Khí CO2 sinh ra từ các nhà máy và các phương tiện qua lại còn làm tăng hiệu ứng nhà kính, làm Trái Đất ngày một nóng dần lên, các khu sinh thái sẵn

có dần bị phá hủy

http://vi.wikipedia.org

Nguyên nhân của phá rừng

1 Do nhận thức của con người, khai

thác không đúng quy hoạch

2 Do quy hoạch một số vụ việc , kế

hoạch không đúng đối với quá trình

điều chế rừng, sắp xếp ngành nghề

3 Hoạt động quản lý nhà nước về

rừng yếu kém

4 Do tập tục du canh du cư, đốt

nương làm rẫy của một số cộng đồng

thiểu số bà con dân tộc vùng cao

5 Do quá trình chuyển hóa đất từ

sản xuất lâm nghiệp sang sản xuất nông

nghiệp

6 Do xây dựng cơ bản: xây dựng

đường giao thông, công trình

thủy điện,

7 Do hoạt động phá rừng của bọn

lâm tặc nhằm để lấy lâm sản

Ngày nay, có lẽ nhiều người cảm

nhận ra rằng hình như khí hậu bây giờ

có phần nóng hơn đồng thời cũng có vẻ

ngột ngạt hơn hồi trước; hoặc bây giờ

sông ngòi hay tạo ra lụt lội hơn; hay,

như ở Việt Nam ta, báo chí thỉnh thoảng

lại đăng tin, ở chỗ này, chỗ khác voi

kéo từng đàn về phá hoại hoa màu, giết

hại dân làng; và hiện tượng voi phá

phách như vậy cũng nhiều hơn trước

đây Tại sao lại có hiện tượng "nhiều

hơn trước đây" như vậy Nguyên nhân

của những hiện tượng thoạt nhìn có vẻ

riêng rẽ, không dính líu gì với nhau như

nạn voi phá phách nhiều hơn, sông ngòi tạo ra lụt lội hơn, không khí có vẻ ngột ngạt hơn, cùng nhiều sự việc khác do đâu mà ra Kính mời quý vị cùng chúng tôi thử tìm hiểu trong bài Tác Hại Của Nạn Phá Rừng sau đây: Thưa quý thính giả, phá rừng là một trong những nguyên nhân gây ra nạn ô nhiễm môi sinh, nạn trái đất ấm dần lên, nạn đói kém, lụt lội, nạn voi bỏ rừng về buôn làng giết hại con người, phá hoại tài sản v.v Người ta ước tính, nạn phá rừng khiến mỗi năm thế giới thiệt mất một số tiền lên tới 45 tỷ Mỹ Kim Tuy số tiền vừa đề cập là một số tiền vô cùng lớn lao; thế nhưng những chính sách hay hành động có tính thiển cận, tạo ra vô vàn thiệt hại khác mà thiệt hại có tầm mức nghiêm trọng nhất lại là thiệt hại

về tính đa dạng sinh thái Hẳn quý thính giả đã biết, rừng nhiệt đới giữ một vai trò đặc biệt trong việc bảo tồn tính đa dạng sinh thái Đây là nơi ở của tới 70% chủng loại cây cối và muông thú của trái đất; đồng thời cũng là nơi chứa tới hơn 13 triệu chủng loại khác nhau Rừng nhiệt đới chứa tới 70% loại cây có ống mạch, 30% tất cả các loài chim và 90% loài động vật không xương sống Đặc biệt rừng nhiệt đới còn là nơi sinh sống của những loài động vật độc đáo nổi tiếng như các loài linh trưởng như đười ươi, vượn; các giống thuộc họ miêu, tức mèo như sư tử, cọp, beo, v.v

Trang 31

Riêng trong lĩnh vực chủng loại thảo

mộc mà thôi, rừng nhiệt đới cũng cực

kỳ đa dạng và mỗi mẫu rừng chứa tới

hơn 200 chủng loại khác nhau Việc phá

hoại rừng khiến hàng nghìn chủng loại

cây cối và thú vật bị tuyệt chủng Số

lượng chính xác bị tuyệt chủng là bao

nhiêu thì người ta quả không rõ; thế

nhưng có người đoán mỗi năm khoảng

50.000 chủng loại khác nhau bị tuyệt

chủng Rừng ảnh hưởng đến khí hậu địa

phương và có lẽ khí hậu toàn địa cầu

nữa Rừng trung hòa và làm dịu bớt

nhiệt độ của luồng khí nóng ban ngày

đồng thời duy trì được độ ẩm Rừng hấp

thụ lượng carbon trong khí quyển và

nhả ra khí oxy, tức dưỡng khí cho

chúng ta thở Về phương diện này, rừng

có thể được coi là máy lọc, hút thán khí

và nhả dưỡng khí cho con người dùng

Một tác động trực tiếp khác của việc

tình trạng môi sinh bị đảo lộn là chuyện

khí hậu trái đất đang ấm dần lên Ấm

lên ở mức nào là điều mà người ta chưa

hoàn toàn đồng ý được với nhau Tuy

vậy, nguời ta tiên đoán là trong thế kỷ

21 này, cứ mỗi một thập niên, trái đất

trái đất ấm dần lên độ 0,3 độ C Lý do là

vì số lượng carbon dioxide hiện diện

trong bầu khí quyển gia tăng; và kể từ

150 năm qua, số này đã tăng tới 25%;

và mặc dù chỉ chiếm có 1/20 của một

phần trăm khí quyển địa cầu, carbon

dioxide có khả năng hấp thụ năng lượng

bức xạ rất cao Những hậu qủa tiêu cực

của nạn trái đất ấm dần lên thật kinh

khủng: càng lúc nạn hạn hán càng xảy

ra nhiều hơn; đồng thời nạn sa mạc hóa

cũng gia tăng đưa tới chuyện thất bát

mùa màng Đã thế những khu vực

quanh năm băng giá thì nay những khối

băng đó lại đang tan nhanh hơn, đưa tới

nạn lũ lụt ở các vùng bờ biển, khiến mặt

nước biển dâng cao và có nguy cơ nhận

chìm nhiều vùng đảo, hay vùng duyên

hải Người ta ước lượng số lượng carbon hiện nay trong bầu khí quyển vào khoảng 800.000 triệu tấn; và theo mức gia tăng hiện thời thì cứ mỗi năm,

số lượng này tăng khoảng 1 phần trăm Việc khai hoang rừng là một yếu tố quan trọng góp phần vào vào chuyện làm cho khí hậu địa cầu ấm dần lên Tuy nhiên, nguyên nhân chính khiến khí hậu trái đất ấm dần lên, là việc các quốc gia đã kỹ nghệ hóa, thải ra một số lượng thán khí gây hiệu ứng nhà kính; hầu hết

số khí thải này phát xuất từ việc đốt cháy các nhiên liệu như xăng, dầu các loại,v.v Người ta ước lượng, lượng khí thải hàng năm do việc đốt những loại nhiên liệu vừa đề cập lên tới khoảng 6.000 triệu tấn carbon, chủ yếu dưới dạng carbon dioxide Người ta còn cho rằng một lượng phụ trội 2.000 triệu tấn, tức khoảng 25% tổng số khí carbone dioxide thải ra là hậu quả của nạn phá rừng, hoặc do các vụ cháy rừng gây ra

Ở tầm mức khu vực, nạn phá rừng gây rối loạn cho thời tiết, đồng thời tạo ra hiện tượng đặc biệt khiến khí hậu nóng hơn hoặc khô hơn Điều chẳng may là cho tới lúc này, những nỗ lực nhằm tìm

ra giải pháp hầu giải quyết nạn phá rừng, không thành công như người ta đã phần nào thành công trong việc cải thiện hệ thống khí thải phát xuất từ xe

cộ Xét về lâu về dài, tác hại của nạn phá rừng đối với đất đai rất nghiêm trọng Một trong những nguyên nhân khiến người ta phá rừng là để có đủ đất làm rẫy, làm ruộng Việc đốt rừng làm rẫy khiến đất bị phô ra trần trụi dưới sức nóng của mặt trời nhiệt đới và dưới những cơn mưa lũ liên tu bất tận Việc này làm cho đất bị chai hơn, độ màu mỡ

và phì nhiêu của đất bị giảm đi, trong khi lượng độc chất aliminium lại gia tăng; tất cả những yếu tố này làm đất trở nên khô cằn hơn và khó trồng trọt

Trang 32

hơn Thêm vào đó, tiến trình đất đai bị

suy thoái lại gia tăng vì những vụ trồng

trọt và lạm dụng đất đai quá đáng, cùng

với việc trồng trọt quá thường xuyên,

không để đất có giờ nghỉ ngơi để lấy lại

số màu đã mất đi Ngoài ra, đất lại còn

mau chóng bị suy thoái hơn nữa khi gia

súc được nuôi thả tràn lan, ăn quá mức

số đồng cỏ dự trữ Trong những vùng

rừng khô, hiện tượng đất đai bị suy

thoái đang ngày càng trở thành một vấn

đề nghiêm trọng, tạo ra hiện tượng sa

mạc hóa Hiện tượng sa mạc hóa ảnh

hưởng tới khoảng từ 3.000 tới 3.500

triệu mẫu đất, tức khoảng 1/41/41/4 số

đất đai của thế giới; đồng thời đe dọa

đời sống của 900 triệu người tại 100

quốc gia trong thế giới đang phát triển

Tại Việt Nam, người ta cũng thấy hiện

tượng này tại một số vùng ở miền

Trung, nơi được mệnh danh vùng đất

cày lên sỏi đá, khi cát phủ dần dần một

số đất đai trồng trọt và nhà cửa Hiện

tượng sa mạc hóa là hậu quả của sự thay

đổi khí hậu và việc sử dụng đất đai

thiếu khoa học, trong đó có việc phá

rừng Trong khi các hiện tượng này diễn

ra thì dân số thế giới lại vẫn tiếp tục gia

tăng, tạo ra mức cầu lớn lao nhất mà từ

trước tới giờ con người chưa bao giờ

gặp phải Mức cầu đó đòi hỏi con người

phải "vắt" đất, bắt nó phải sản xuất

nhiều hơn nữa; đưa tới chuyện gia tăng

sử dụng đất vượt quá khả năng của nó

Ngoài ra, người ta ước tính, tới năm

2050, có tới hai tỷ người, tức 20 phần

trăm dân số thế giới sẽ bị thiếu nước

Hầu hết số người chịu cảnh thiếu nước

này sống tại các quốc gia đang phát

triển Việc thiếu nước là một mối nguy lớn lao cho sức khỏe con người; và sẽ kéo theo nhiều vấn đề khác như thiếu hệ thống cống rãnh thích hợp, điều kiện vệ sinh cá nhân suy giảm và về việc không

có nước uống thích hợp Ngoài ra nguồn thực phẩm cũng có nguy cơ bị đe dọa vì nước dùng để tưới tiêu cũng trở nên khan hiếm Lượng nước ngọt và những vùng đánh cá ven biển hiện bị tác động nghiêm trọng vì lượng trầm tích trong sông, suôí rất cao Tương tự như vậy, những vùng đất ngập nước cũng bị ảnh hưởng Lượng trầm tích từ những nguồn nước bị thoái hóa cũng là một trong những nguyên nhân chính yếu gây nên nạn hủy hoại các vùng đá san hô ngầm ở ven biển hay ngoài đại dương Trong đất liền, lượng trầm tích cao trong các sông ngòi, suối nước khiến lòng sông, lòng suối bị nâng cao lên và do đó đưa tới nạn lũ lụt tràn bờ nhiều hơn Thưa quý thính giả, qua những điều vừa trình bày, hẳn quý vị đã

có một khái niệm về những hiểm họa do nạn phá rừng gây ra

Tuy nhiên, may mắn thay, ngày nay con người đã có phần nào ý thức được vấn đề này hơn so với trước đây Thế nhưng, từ chuyện "ý thức" được hiểm họa cho tới lúc thực sự bắt tay làm một cái gì đó thì ra vẻ vẫn còn một khoảng cách khá xa; và không hiểu đến bao giờ thì con người mới chịu thu hẹp khoảng cách này lại, để có thể duy trì được cuộc sống cho chính mình và cho con cháu sau nàỵ

http://vi.wikipedia.org

Trang 33

Ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam

ngày càng nghiêm trọng

iệt Nam đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường biển

và ngày càng trở nên nghiêm trọng do hậu quả của sức ép dân số, sức ép kinh tế, khả năng quản lý và sử dụng kém hiệu quả các tài nguyên biển

Ô nhiễm biển bắt nguồn từ đất

liền

Ô nhiễm dẫn đến sự cạn kiệt các tài

nguyên cá, nhất là các loài cá ven bờ;

tính đa dạng sinh học ngày càng bị đe

doạ do phá huỷ môi trường sống như

rừng ngập mặn, rạn san hô; axit hoá đất

do phát quang rừng ven biển trên các

vùng đất phèn để làm nông nghiệp và

nuôi trồng thuỷ sản; ô nhiễm biển do

dầu bởi vận tải biển, các hoạt động khai

thác dầu ngoài khơi và các sự cố tràn

dầu; ô nhiễm do nước cống đô thị

không được xử lý; sử dụng hoá chất

trong nông nghiệp và công nghiệp

không quản lý chặt chẽ

Thêm vào đó, các loại thiên tai như

bão, lũ và xâm nhập mặn tác động lớn

tới môi trường biển và có xu hướng

trầm trọng thêm bởi các hoạt động của

con người

Theo số liệu thống kê cho thấy,

khoảng 70% ô nhiễm biển và đại dương

có nguồn gốc từ đất liền, xuất phát từ

các chất xả thải của các thành phố, thị

xã, thị trấn, từ các ngành công nghiệp,

xây dựng, hoá chất trong đó đáng kể

nhất và nguy hại nhất là các chất thải từ

các nhà máy thông qua hệ thống cống

rãnh, xả thải ra biển và đại dương một

lượng lớn các chất bồi lắng, hoá chất,

kim loại, nhựa, cặn dầu và thậm chí cả

các chất phóng xạ

Hàng năm, trên 100 con sông ở nước ta thải ra biển 880km3 nước, 270 -

300 triệu tấn phù sa, kéo theo nhiều chất

có thể gây ô nhiễm biển, như các chất hữu cơ, dinh dưỡng, kim loại nặng và nhiều chất độc hại khác từ các khu dân

cư tập trung; từ các khu công nghiệp và

đô thị; từ các khu nuôi trồng thuỷ sản ven biển và từ các vùng sản xuất nông nghiệp

Đến năm 2010, dự tính lượng chất thải sẽ tăng rất lớn ở vùng nước ven bờ, trong đó dầu khoảng 35.160 tấn/ 1 ngày, nitơ tổng số 26 - 52 tấn/ngày và tổng amonia 15 - 30 tấn/ ngày

Ô nhiễm biển do dầu gia tăng

Đáng chú ý là tình trạng ô nhiễm biển do dầu có xu hướng gia tăng, phức tạp hơn, số lượng tàu thuyền gắn máy loại nhỏ, công suất thấp, cũ kỹ và lạc hậu tăng nhanh, nên khả năng thải dầu vào môi trường biển nhiều hơn

Các tàu nhỏ chạy bằng xăng dầu đã thải ra khoảng 70% lượng dầu thải vào biển Ngoài ra, hoạt động của tàu thương mại qua tuyến hàng hải quốc tế cắt qua Biển Đông cũng thải vào biển Việt Nam một lượng lớn dầu rò rỉ, dầu thải và chất thải sinh hoạt mà đến nay chưa thể thống kê đầy đủ

Hiện nay, hàm lượng dầu trong nước biển của Việt Nam nhìn chung đều vượt giới hạn tiêu chuẩn Việt Nam

và vượt rất xa tiêu chuẩn Hiệp hội các

V

Trang 34

Nước Đông Nam Á (ASEAN) Đặc

biệt, có những thời điểm vùng nước khu

vực cảng Cái Lân có hàm lượng dầu đạt

mức 1,75 mg/l, gấp 6 lần giới hạn cho

phép; vịnh Hạ Long có 1/3 diện tích

biển hàm lượng dầu thường xuyên từ 1

đến 1,73 mg/l

Các vụ tai nạn tàu dầu và tai nạn

hàng hải là một trong những nguồn

chính gây nên tình trạng ô nhiễm biển

do dầu tại Việt Nam (chiếm khoảng

43% tổng lượng dầu được đưa vào Việt

Nam) Năm năm qua, chỉ tính các vụ tai

nạn gây sự cố tràn dầu trên 50 tấn đã có

hơn 50 vụ

Đáng chú ý là các vụ tràn dầu

nghiêm trọng những năm gần đây có xu

hướng tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng

cho môi trường nhất là các vùng nuôi

trồng thuỷ sản

Theo thống kê 1992 - 2006, có 35

vụ sự cố tràn dầu xảy ra tại Việt Nam,

trong đó, điển hình là vụ tàu Neptune

Aries đâm vào cầu cảng Cát Lái - TP

Hồ Chí Minh (tràn 1.864 tấn dầu DO),

được đền bù 4,2 triệu USD/19 triệu

USD theo đánh giá; tàu Kasco

Monrovia tại Cát Lái - Thành phố HCM

(tràn 518 tấn dầu DO)

Gần đây, do thời tiết xấu, tàu Ðức

Trí chở 1.700 tấn dầu FO đã bị chìm tại

vùng biển Bình Thuận trong khi vào

khu vực Mũi Né (Phan Thiết) để tránh

gió Đa phần các sự cố tràn dầu là do

đâm va của tàu dầu, trong đó: 56% số

vụ < 700 tấn và 100% số vụ > 700 tấn

Bên cạnh đó, vùng biển nước ta có

khoảng 340 giếng khoan thăm dò và

khai thác dầu khí, ngoài việc thải nước

lẫn dầu với khối lượng lớn, trung bình

mỗi năm hoạt động này còn phát sinh

khoảng 5.600 tấn rác thải dầu khí, trong

đó có 20 - 30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa và nơi xử lý

Chất lượng môi trường biển đi xuống

Báo cáo hiện trạng môi trường đã chỉ ra rằng chất lượng môi trường biển

và vùng ven biển tiếp tục bị suy giảm Trầm tích biển ven bờ là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật đáy đặc sản, nhưng chất lượng cũng thay đổi

Một số vùng ven bờ bị đục hoá, lượng phù sa lơ lửng tăng đã ảnh hưởng đến du lịch, giảm khả năng quang hợp của một số sinh vật biển và làm suy giảm nguồn giống hải sản tự nhiên Nước biển của một số khu vực có biểu hiện bị axit hoá do độ pH trong nước biển tầng mặt biến đổi trong khoảng 6,3 - 8,2 Nước biển ven bờ có biểu hiện bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ, kẽm (Zn), một số chủng thuốc bảo vệ thực vật

Hiện tượng thuỷ triều đỏ xuất hiện tại vùng biển Nam Trung Bộ, đặc biệt là tại Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận làm chết các loại tôm cá đang nuôi trồng ở các vùng này

Chất lượng môi trường biển thay đổi dẫn đến nơi cư trú tự nhiên của loài

bị phá huỷ gây tổn thất lớn về đa dạng sinh học vùng bờ Có khoảng 85 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau

và trên 70 loài đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam

Hiệu suất khai thác hải sản giảm Thêm vào đó, tình trạng dùng các ngư

cụ đánh bắt cá có tính chất huỷ diệt diễn

ra khá phổ biến như xung điện, chất nổ, đèn cao áp quá công suất cho phép…làm cạn kiệt các nguồn lợi hải sản ven bờ Nguồn lợi hải sản có xu

Trang 35

hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng

và kích thước cá đánh bắt

Chưa quan tâm đến công tác

nghiên cứu về biển

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô

nhiễm môi trường biển trên là do chúng

ta chưa có sự quan tâm và hành động

đúng mức đối với công tác nghiên cứu

về biển Chúng ta quá chú trọng vào

phát triển kinh tế biển mà ít chú trọng

tới hệ thống thiên nhiên và bảo vệ môi

trường (BVMT) nên dẫn đến hiện tượng

khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí

tài nguyên thiên nhiên, gây nên suy

thoái môi trường và làm mất cân đối các

hệ sinh thái, ảnh hưởng xấu đến sức

khoẻ con người và chất lượng cuộc

sống

Hơn nữa, cơ sở hạ tầng vùng ven

biển và hải đảo còn thiếu thốn và lạc

hậu; sự phát triển kinh tế biển còn yếu

kém, phiến diện, sản xuất nhỏ, lạc hậu;

tài nguyên biển chưa được khai thác đầy

đủ so với tiềm năng, còn bị phá hoại và

khai thác quá mức, thường xuyên bị tàu

nước ngoài xâm phạm, tranh giành; vấn

đề phòng, chống và khắc phục hậu quả

của bão lụt, thiên tai từ hướng biển còn

nhiều hạn chế; sự thiếu hiểu biết pháp luật về biển nhất là pháp luật bảo vệ môi trường biển của những người tham gia hoạt động khai thác sử dụng, quản

lý biển cũng góp phần làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường biển

Bên cạnh đó, các chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường biển của Việt Nam còn chung chung, chưa cụ thể

và thiếu thực tế, gây khó khăn cho việc

tổ chức thực hiện Cho đến nay, quản lý môi trường biển, ven biển và hải đảo vẫn được rập khuôn theo cách tiếp cận của ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm, chưa tính đến đặc điểm về tính chất xuyên biên giới, đa ngành, đa mục đích

sử dụng cho nên hiệu quả quản lý yếu kém và bộc lộ nhiều thiếu sót và bất cập

Một nguyên nhân cũng cần phải kể đến là việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BVMT cũng như việc tham gia ký kết và thực thi các Điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển của chúng ta còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa thực sự được quan tâm, chú trọng

Minh Quang

http//www.vfej.vn

Trang 36

Tổn thất do ô nhiễm môi trường Việt Nam

có thể lên tới 5,5% GDP/năm.

ộ Tài nguyên

trường (TN&MT) đã công bố báo

cáo môi trường quốc gia

2010 Theo báo cáo này,

tốc độ suy thoái môi trường

ở nước ta tiếp tục gia tăng,

Việt Nam xếp vào nhóm 15

nước hàng đầu thế giới về

suy giảm số loài thú, nhóm

20 nước hàng đầu về suy

giảm số loài chim Ngân hàng Thế giới

đánh giá, chúng ta có thể phải chịu tổn

thất do ô nhiễm môi trường lên tới 5,5%

GDP mỗi năm

Chưa có đô thị nào được công

nhận xanh - sạch

Môi trường nước mặt ở hầu hết các

đô thị và ở nhiều lưu vực sông đều bị ô

nhiễm chất hữu cơ Ở hầu hết các sông,

hồ, kênh, rạch trong nội thành, nội thị,

trị số hàm lượng các chất ô nhiễm của

các thông số đặc trưng ô nhiễm hữu cơ

đều vượt trị số giới hạn tối đa cho phép

đối với nguồn nước loại B từ 2-6 lần

Đây là thông tin do TS Hoàng Dương

Tùng, phó tổng cục trưởng tổng cục

Môi trường cho biết tại hội nghị

Tại TP.Hà Nội và TP.HCM, ô

nhiễm chất hữu cơ trong môi trường

nước mặt và ô nhiễm bụi trong môi

trường không khí vào loại nhất nhì thế

giới Hầu hết chưa có đô thị nào được

công nhận là đô thị sạch/đô thị xanh

xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý, gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt trên diện rộng Ô nhiễm môi trường làng nghề, ô nhiễm nông nghiệp

do sử dụng không hợp lý phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật

Bệnh tật kéo theo ô nhiễm

Báo cáo cho hay, các đô thị bị ô nhiễm không khí có tỷ lệ người nhiễm khuẩn hô hấp cao gấp nhiều lần so với các đô thị khác TP.HCM, Đồng Nai, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh thuận tỷ

lệ bệnh nhân lao phát hiện năm 2008 tại các địa phương này cao gấp 4-5 lần so với các địa phương ít có phát triển hoạt động công nghiệp như Bắc Kạn, Điện Biên

Một nghiên cứu về ảnh hưởng của

ô nhiễm không khí đến sức khỏe cảnh sát giao thông làm việc tại một số nút giao lộ ở TP.HCM cũng cho thấy, dù tỷ

lệ cảnh sát giao thông đạt sứ khỏe loại

Nhiều kênh rạch bị ô nhiễm nặng ( ảnh: Internet)

B

Trang 37

tốt là 74,4% nhưng nhiều người mắc

đồng thời nhiều bệnh, thậm chí hơn 3

bệnh Nổi bật trong cơ cấu bệnh của

cảnh sát giao thông là bệnh về tai mũi

họng Kết quả nghiên cứu đến tháng

12.2010 của cục Y tế bộ Giao thông vận

tải cho thấy tỷ lệ người bị bệnh đường

hô hấp ở Hà Nội cao hơn TP.HCM Một

trong những nguyên nhân chính được

xác định là do môi trường không khí ở

Hà Nội ô nhiễm hơn

Một nghiên cứu nữa khi các nhà

khoa học thực hiện nghiên cứu đối

chứng giữa 2 xã chịu ảnh hưởng của bãi

rác thải là Quảng Lạc và Hoàng Đồng

(nhóm nghiên cứu) và 2 xã không có

bãi rác là Hợp Thịnh và Mai Pha (nhóm

đối chứng) ở Lạng Sơn Kết quả nhóm

nghiên cứu có tỷ lệ người ốm trong 2

tuần cao hơn nhóm đối chứng (10,2%

và 6,7%) Triệu chứng các bệnh như da

liễu, viêm phế quản, đau xương khớp

của nhóm nghiên cứu có tỷ lệ cao hơn

hẳn so với nhóm đối chứng

Kết quả điều tra tại Phú Thọ và

Nam Định, ước tính thiệt hại kinh tế do

ô nhiễm không khí tác động đến sức

khỏe trung bình trên đầu người mỗi

năm là 295.000 đồng Đánh giá của

Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể

phải chịu tổn thất do ô nhiễm môi

trường lên tới 5,5% GDP hàng năm

Ô nhiễm xuyên biên giới chưa

được kiểm soát

Theo báo cáo môi trường quốc gia

năm 2010, ô nhiễm xuyên biên giới

chưa được kiểm soát cũng là một mối

đáng lo Việc nhập khẩu phế liệu lẫn rác

thải công nghiệp nguy hại về các cảng

diễn ra từ nhiều năm nhưng vẫn chưa có

giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, và xử

lý hiệu quả đã gây ra những hệ lụy xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh môi trường quốc gia Tình trạng sinh vật ngoại lai xâm hại và sinh vật biến đổi gen xâm lấn, tình trạng khai thác khoáng sản phá hoại môi trường cũng gây ra những hệ lụy xấu

PGS TS Nguyễn Đình Hòe, khoa Môi trường, đại học KHTN (ĐHQG Hà Nội) cho biết, theo số liệu thống kê, tổng trữ lượng nước mặt của Việt Nam đạt khoảng hơn 830-840 tỷm3/năm, trong đó hơn 60% lượng nước được sản sinh từ nước ngoài Hiện nay, mỗi năm chúng ta đang sử dụng 400 tỷ m3 nước Điều này cho thấy nước ta đang phụ thuộc vào nguồn nước chảy từ nước ngoài đến Ngoài ra việc dùng nước lãng phí và làm ô nhiễm tất cả hệ thống sông ngòi nội địa, khiến cho mối de dọa

an ninh nước ở Việt Nam rất đáng báo động

PGS TS Trương Mạnh Tiến, nguyên giám đốc quỹ Bảo vệ môi trường cho rằng, cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bởi nhân lực chính là cái cốt lõi trong việc bảo vệ môi trường Hệ thống quan trắc của Việt Nam quá kém và cần phải được hiện đại hóa trong tương lai, cũng là ý kiến được nhiều chuyên gia nhắc tới Bởi khi hệ thống quan trắc được hoàn thiện, sẽ có những số liệu trung thực nhất, nâng cao chất lượng nhân lực, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường, tăng cường sự tham gia của cộng đồng sẽ giúp Việt Nam giảm thiểu được tình trạng ô nhiễm môi trường luôn trong tình trạng chạy phi mã

TT_ Theo SGTT

http://www.moitruong.com.vn

Trang 38

Phần 3:

Những biện pháp bảo vệ

môi trường

Trang 39

MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010

và định hướng đến năm 2020

CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 256/2003/QĐ-TTg Hà Nội, ngày 02 tháng 12 năm 2003

QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Về việt phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và

định hướng đến năm 2020 THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 27 tháng 12 năm 1993;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1 Phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và

định hướng đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau đây:

1 Quan điểm:

- Chiến lược Bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững đất nước Phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hài hoà với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững

- Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi người dân

- Bảo vệ môi trường phải trên cơ sở tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và pháp luật đi đôi với việc nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân, của toàn xã hội về bảo vệ môi trường

- Bảo vệ môi trường là việc làm thường xuyên, lâu dài Coi phòng ngừa là chính, kết hợp với xử lý và kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện chất lượng môi trường; tiến hành có trọng tâm, trọng điểm; coi khoa học và công nghệ là công

cụ hữu hiệu trong bảo vệ môi trường

- Bảo vệ môi trường mang tính quốc gia, khu vực và toàn cầu cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường

và phát triển bền vững

2 Những định hướng lớn đến năm 2020:

a Ngăn chặn về cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm, phục hồi suy thoái và nâng cao chất lượng môi trường, bảo đảm phát triển bền vững đất nước; bảo đảm cho

Ngày đăng: 30/09/2016, 21:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w