1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ngữ cảnh thời đại của CNTT

33 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 218,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử phát triển của ngành CNTTThời đại CNTT chính là thời đại của khoa học - kĩ thuật hiện đại, điện tử,truyền thông, tin học và các ứng dụng của công nghệ thông tin vào các lĩnh vực

Trang 1

MỤC LỤC

Phần mở đầu 2

I Lịch sử của máy tính … ……….……… ………3

II Ứng dụng của CNTT và các lĩnh vực nghề nghiệp CNTT: … 4

1, Về mặt chính trị, an ninh - quốc phòng:…… … …4

2, Về mặt kinh tế: …… … …5

a, Đối với doanh nghiệp:…… … …6

b, Đối với công nghiệp:…… … …8

c, Đối với nông nghiệp:…… … …9

d, Lĩnh vực tài chính - ngân hàng:…… ….…10

e, Lĩnh vực hàng không:…… … 11

3, Về mặt văn hóa - giáo dục: …… … 12

a, Về mặt Giáo dục:…… … 12

b, Về mặt văn hóa:…… … …13

4, Về lĩnh vực y tế: …… … …14

5, Về lĩnh vực tài nguyên - môi trường: …… … …15

III Liên hệ việc ứng dụng CNTT ở địa phương…… … …… …16

1 Xây dựng thành công nền hành chính điện tử ở địa phương

2 Ứng dụng thông tin trong giáo dục

IV Chỉ thị ứng dụng CNTT trong giáo dục……… …….……… ….24

V Mặt trái của ứng dụng CNTT……… ……….….… …25

VI Vai trò của Tin học và máy tính trong xã hội hiện tại …… …… 27

VII Xu hướng phát triển CNTT ……… ………… ………30

Trang 2

Lời mở đầu

CNTT được Chính phủ chọn là một trong bốn ngành kinh tế mũi nhọn của đấtnước Mặc dù, lĩnh vực CNTT đã có những thành tựu đáng kể trong những năm gầnđây, nhưng chúng ta chỉ mới ở giai đoạn ban đầu xây dựng ngành kinh tế công nghiệpnày

Bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế thế giới tiếp tục phát triển cả về chiều rộng vàchiều sâu Việt Nam sẽ tiếp tục tham gia sâu vào các chương trình của ASEAN, hướngtới việc thiết lập một cộng đồng ASEAN vững mạnh tiếp tục phát triển quan hệ đối tácchặt chẽ với các nền kinh tế thành viên của APEC Tất cả đều là những vận hội mớicho phát triển kinh tế và mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, là cơ hội lớn cho ngànhCNTT-TT Việt Nam

CNTT-TT, mạng Internet đã làm cho khoảng cách trên thế giới ngày càng trởnên nhỏ bé Tri thức và thông tin không biên giới sẽ đưa hoạt động kinh tế vượt rakhỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu Sự hội tụ công nghệviễn thông - tin học - truyền thông quảng bá đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàncầu và dẫn đến sự hình thành những loại hình dịch vụ mới, tạo ra khả năng mới vàcách tiếp cận mới đối với phát triển kinh tế xã hội

Cuộc cách mạng thông tin cùng với quá trình toàn cầu hóa đang ảnh hưởng sâusắc đến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, đưa xã hội loài ngườichuyển mạnh từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin, từ kinh tế công nghiệp sangkinh tế tri thức, ở đó năng lực cạnh tranh phụ thuộc chủ yếu vào năng lực sáng tạo, thuthập, lưu trữ, xử lý và trao đổi thông tin

Xu thế biến đổi to lớn đó đang đặt ra cho mọi quốc gia những cơ hội và tháchthức hết sức to lớn Nắm bắt cơ hội, với ý chí và quyết tâm cao, có sự chỉ đạo trực tiếpcủa Đảng và Chính phủ chúng ta có thể tận dụng tiềm năng CNTT-TT để chuyển dịchnhanh cơ cấu nhân lực và cơ cấu kinh tế xã hội theo hướng xây dựng một xã hội thôngtin, kinh tế dựa trên tri thức, góp phần quan trọng rút ngắn quá trình CNH, HĐH đấtnước

CNTT-TT phải được hiểu như một cơ sở hạ tầng của tất cả các công nghệ trongthế kỷ 2l cũng như máy móc có vai trò như vậy trong thế kỷ 20 Trong thế kỷ 21, điềutất yếu là tất cả các ngành phải chấp nhận CNTT-TT như là phương tiện chính để đảmbảo hiệu quả, năng suất và tính cạnh tranh Do đó, ứng dụng CNTT vào các ngành làđiều cốt yếu và là vấn đề cấp bách phải làm càng sớm càng tốt

CNTT phải trở thành nhân tố chủ chốt góp phần giải phóng tiềm năng của mỗi

cá nhân, mỗi tổ chức tạo ra năng suất và hiệu quả trong các doanh nghiệp, làm giầunhững ý tưởng mới và phát triển ngày càng nhiều các giá trị mới

Trang 3

I Lịch sử phát triển của ngành CNTT

Thời đại CNTT chính là thời đại của khoa học - kĩ thuật hiện đại, điện tử,truyền thông, tin học và các ứng dụng của công nghệ thông tin vào các lĩnh vực củađời sống-xã hội

Ngày nay, CNTT có những bước phát triển như vũ bão và đã đem lại nhữngthay đổi lớn lao cho cuộc sống, đưa nhân loại vào một thời đại mới - thời đại côngnghệ thông tin Điển hình và đặc biệt quan trọng của thời đại CNTT là sự xuất hiệncủa máy tính – một lĩnh vực CNTT không thể thiếu của thời đại

Chúng ta cùng tìm hiểu về lịch sử hình thành mạng máy tính:

Máy tính của thập niên 40 là các thiết bị cơ-điện tử lớn và rất dễ hỏng Sự phátminh ra transitor bán dẫn vào năm 1947 tạo ra cơ hội để làm ra chiếc máy tính nhỏ vàđáng tin cậy hơn

Năm 1950, các máy tính mainframe chạy bởi các chương trình phiếu đục lỗ bắt

đầu được dùng trong các học viện lớn Điều này tuy tạo nhiều thuận lợi với máy tính

có khả năng được lập trình nhưng cũng có rất nhiều khó khăn trong việc tạo ra cácchương trình dựa trên phiếu đục lỗ này

Vào cuối thập niên 50, mạch tích hợp (IC) chứa nhiều transitor trên một mẫubán dẫn nhỏ được phát minh, tạo ra một bước nhảy vọt trong việc tạo ra các máy tínhmạnh hơn, nhanh hơn và nhỏ hơn Đến nay, IC có thể chứa hàng triệu transistor trênmột mạch

Vào cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, các máy tính nhỏ được gọi là

minicomputer bắt đầu xuất hiện.

Năm 1977, công ty máy tính Apple Computer giới thiệu máy vi tính cũng được

gọi là máy tính cá nhân (personal computer - PC).

Năm 1981, IBM đưa ra máy tính cá nhân đầu tiên Sự thu nhỏ ngày càng tinh vihơn của các IC đưa đến việc sử dụng rộng rãi máy tính cá nhân tại nhà và trong kinhdoanh

Vào giữa thập niên 80, người sử dụng dùng các máy tính độc lập bắt đầu chia sẻcác tập tin bằng cách dùng modem kết nối với các máy tính khác Cách thức này đượcgọi là điểm nối điểm, hay truyền theo kiểu quay số Khái niệm này được mở rộng bằngcách dùng các máy tinh là trung tâm truyền tin trong một kết nối quay số Các máy

tính này được gọi là sàn thông báo (bulletin board) Các người dùng kết nối đến sàn

thông báo này, để lại đó hay lấy đi các thông điệp, cũng như gửi lên hay tải về các tậptin Hạn chế của hệ thống là có rất ít hướng truyền tin, và chỉ với những ai biết về sànthông báo đó Ngoài ra, các máy tính tại sàn thông báo cần một modem cho mỗi kếtnối, khi số lượng kết nối tăng lên, hệ thống không thề đáp ứng được nhu cầu

Trang 4

Qua các thập niên 1950, 1970, 1980 và 1990, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã pháttriển các mạng diện rộng WAN tin cậy nhằm mục đích quân sự và khoa học Côngnghệ này khác truyền tin điểm nối điểm Nó cho phép nhiều máy tính kết nối lại vớinhau bằng các đường dẫn khác nhau Bản thân mạng sẽ xách định dữ liệu di chuyển từmáy tính này đến máy tính khác như thế nào Thay vì chỉ có thể thông tin với một máytính tại một thời điểm, nó có thể thông tin với nhiều máy tính cùng lúc bằng cùng mộtkết nối WAN của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ về sau trở thành Internet.

Sự phát triển và tiến bộ của CNTT đã ảnh hưởng sâu rộng đến từng gia đình,từng người dân, và đặc biệt là trong từng hành động, cử chỉ việc làm của mọi ngườitrên toàn thế giới

II Ứng dụng của CNTT và các lĩnh vực nghề nghiệp CNTT trong cuộc sống:

CNTT có vai trò rất lớn đối với cuộc sống Ứng dụng rộng rãi công nghệ thôngtin (CNTT) trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế Hình thành, xâydựng và phát triển Việt Nam điện tử với công dân điện tử, CPĐT, DN điện tử, giaodịch và TMĐT để Việt Nam đạt trình độ trung bình trong ASEAN Để đẩy mạnh ứngdụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa CNTT cóảnh hưởng rất lớn đối với các ngành nghề trong nước ta hiện nay như:

1, Về mặt chính trị, an ninh - quốc phòng:

CNTT ra đời trong bối cảnh toàn xã hội đang diễn ra quá trình hội nhập, toàncầu hoá mạnh mẽ như một quá trình phát triển tất yếu của lịch sử CNTT ảnh hưởngmạnh đến tất cả các lĩnh vực của đời sống, chính trị cũng không nằm ngoài sự ảnhhưởng đó Đó chính là sự ra đời của chính phủ điện tử, các diễn đàn chính trị online,ứng dụng CNTT trong lĩnh vực quản lý nhà nước, ứng dụng của CNTT trong các cơquan Đảng và Nhà Nước… có bước thay đổi lớn Hệ thống tổ chức chỉ đạo và quản lýNhà nước đối với CNTT được tăng cường Trước năm 2000, số bộ, ngành có trang tinđiện tử rất ít Hiện nay có 22/26 bộ, 56/64 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã

có website chính thức, góp phần hiện đại hoá nền hành chính và tạo tiền đề cho việcphát triển chính phủ điện tử Theo thông tin từ Bộ Thông tin_truyền thông cho biết:Việt Nam đã đạt được bước tiến vượt bậc trong việc ứng dụng CNTT tại các cơ quanchính phủ để quan hệ và cung cấp các dịch vụ của Chính phủ cho công dân, khi từ vịtrí thứ 126 năm 2006 lên vị trí 90 trong năm 2007 Trong 10 nước Asean Việt Namđứng thứ 5 Tại Việt Nam, 89% website được công khai và 100% website đã cung cấp

cơ sở dữ liệu Việt Nam cũng là quốc gia có 22% website của cơ quan chính phủ đãcung cấp dịch vụ trực tuyến cho người dân 56% website cơ quan chính phủ có mục ýkiến phản hồi của người dân và 11% website cho phép người dùng cập nhật thông tin

và 100% website cung cấp giao diện tiếng nước ngoài Điểm yếu nhất đối với cácwebsite của Chính phủ Việt Nam là chưa có chính sách bảo mật và an ninh, trong khi

Trang 5

trên thế giới có 23% website có chính sách bảo mật, 21% website có chính sách anninh.

Đề án 112 tin học hoá quản lý hành chính nhà nước được Thủ tướng chính phủban hành ngày 5.2.2002 nhằm cải cách nền hành chính nhiều thủ tục để hình thànhphương thức làm việc mới Nhiều cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địaphương đã chuyển từ điều hành thủ công truyền thống sang điều hành qua mạng máytính Qua đó cho phép chuyển giao, lưu trữ, kiểm tra, tìm kiếm nhanh chóng giảmthiểu thời gian truy tìm thông tin khi cần đến Đẩy mạnh tin học hoá hành chính công,tiến tới giao dịch trực tuyến tất cả các dịch vụ công Lần đầu tiên thiết lập được hệthống thông tin điện tử trong cả nước, hình thành hệ thống thông tin điện tử của Chínhphủ, bao gồm trung tâm tích hợp dữ liệu của các bộ, tỉnh, mạng cục bộ (Lan) của mỗi

cơ quan thuộc cơ cấu bên trong của của bộ, tỉnh, mạng diện rộng liên kết các hệ thốngtin học của bộ, tỉnh Điểm hội tụ của toàn hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ làcổng thông tin điện tử Chính phủ được khai trương và đưa vào vận hành ngày9.9.2005 Hơn 25 nghìn văn bản quy phạm pháp luật được cập nhật và công bố trênCổng thông tin điện tử Chính phủ Hơn 300 hệ thống thông tin điện tử được cài đặt tạicác bộ, tỉnh, trong đó 35% hệ thống thông tin đã được vận hành trong bộ máy hànhchính Hơn 60% số cán bộ công chức biết sử dụng thư điện tử hành chính và khai thácInternet Trong thời gian gần đây, gần 60 nghìn công chức hành chính đã được đào tạoứng dụng tin học để vận hành hệ thống thông tin điện tử đang triển khai tại các bộ,tỉnh Thời gian vừa qua, thông qua việc xây dựng môi trường pháp lý, hàng loạt cácluật đã được ban hành như: Luật công nghệ thông tin, Luật giao dịch điện tử…

Theo ban điều hành 112 của TP.Hồ Chí Minh, trong năm 2005 việc triển khai 3

hệ thống thông tin điện tử của Văn phòng Chính phủ đến các sở, ngành, quận, huyện

đã giúp cải cách nhiều thủ tục hành chính giảm phiền hà dân Hệ quản lý văn bản và

hồ sơ công việc đã được triển khai tại 35 đơn vị qua đó đã giảm được số lượng giấy tờ,quản lý công tác xử lý công văn đi_đến và công tác lưu trữ thông tin, đáp ứng nhu cầucông việc Hệ thống thông tin kinh tế_xã hội phục vụ điều hành và trang thông tin điện

tử phục vụ điều hành đã triển khai được ở 38 đơn vị cung cấp nhiều thông tin hữu íchcho công việc chung Các phần mềm dùng chung cũng đã được triển khai như “ Hệthống thông tin phục vụ y tế ”, “ Hệ thống thông tin phục vụ cấp phép xây dựng ” và “

Cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý khu chế xuất và khu công nghiệp thành phố” Hiệntrang thông tin thành phố có 54 đơn vị thành viên, 20 dịch vụ công trên mạng và 360thủ tục hành chính của các sở, ban ngành liên quan, quận, huyện đã phát huy tốt tácdụng TP.HCM còn ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 vào hoạt động tạicác cơ quan hành chính

Trang 6

Trong lĩnh vực an ninh_quốc phòng, CNTT cũng nhanh chóng được phổ cập,ứng dụng và phát triển; tạo tiền đề quan trọng góp phần xây dựng lực lượng chính quy,tinh nhuệ, hiện đại Từng bước xây dựng hệ thống tự động hoá chỉ huy, kiểm soát, làmchủ, cải tiến vũ khí, khí tài và phương tiện chiến đấu; đảm bảo an ninh quốc gia; sẵnsàng, chủ động đối phó với chiến tranh thông tin hiện đại.

Đảng và Nhà nước tập trung phát triển các dịch vụ điện tử trong lĩnh vực tàichính (thuế, kho bạc, kiểm toán…), ngân hàng, hải quan, hàng không, thương mại,thương mại điện tử và các dịch vụ công cộng (y tế, du lịch…) đảm bảo các điều kiệncần thiết phù hợp với tiến độ hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

a Đối với doanh nghiệp:

Để chủ động hội nhập kinh tế thế giới khi gia nhập tổ chức thương mại thếgiới(WTO), giải pháp hiệu quả để tự hoàn thiện doanh nghiệp là ứng dụng kinh doanhđiện tử vào hoạt động sản xuất, kinh doanh Trước đây, kinh doanh điện tử chủ yếuđược ứng dụng trong quá trình mua sắm Theo kết quả điều tra mới đây của PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về thực trạng ứng dụng CNTT trong2.233 doanh nghiệp thuộc 5 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ

và TP Hồ Chí Minh, các thiết bị phục vụ CNTT được sử dụng trong các doanh nghiệpViệt Nam hiện nay chủ yếu là máy tính để bàn và máy in, các thiết bị khác như máyscan, máy tính xách tay vẫn chiếm tỷ lệ thấp Các doanh nghiệp đã ứng dụng một sốphần mềm chuyên dụng phục vụ cho công tác quản trị nhân sự, quản trị quan hệ kháchhàng, kế toán Điều đáng nói là có tới 91% doanh nghiệp đã kết nối internet, trong khilại có tới 70% chưa xây dựng website riêng cho mình, có nghĩa chưa sử dụng hết sứcmạnh của internet vào hoạt động kinh doanh Trong quá trình ứng dụng CNTT, có tới24% doanh nghiệp không sử dụng bất kỳ một dịch vụ hỗ trợ nào khác như tư vấn, bảotrì, sửa chữa, thiết kế web… Phần lớn các doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng cácdịch vụ bên ngoài, đặc biệt có tới 96,4% không sử dụng dịch vụ tư vấn, và 97,3%không ứng dụng thương mại điện tử Thêm vào đó, tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệpvào CNTT có sự mất cân đối nghiêm trọng, 59,9% quỹ đầu tư dành cho phần cứng,10,9% dành cho phần mềm và chỉ có 4,8% cho đào tạo nhân lực trong khi đây là yếu

tố rất quan trọng để ứng dụng CNTT có hiệu quả

Trang 7

Hiện nay CNTT đã được mở rộng sang lĩnh vực bán hàng và dịch vụ kháchhàng Có 91% doanh nghiệp sử dụng và kết nối Internet, gần 60% kết nối ADSL, 75%kết nối mạng Lan, nhưng chủ yếu chỉ dừng ở mức sử dụng Internet, Email, Website vàmột số ứng dụng đơn giản như quản lý nhân sự, đào tạo trực tuyến Mức độ tham giakinh doanh trực tuyến còn thấp, chỉ 4% doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch, 2,7%bán hàng qua mạng, 9% doanh nghiệp xây dựng được hệ thống chăm sóc khách hàngqua mạng Hầu hết các doanh nghiệp chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh điện

tử một cách cụ thể Nhà nước cũng rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT trong doanhnghiệp với việc ra đời của cổng thương mại điện tử quốc gia (ECVN) đã giúp doanhnghiệp nâng tầm nhận thức và năng lực ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt độngsản xuất kinh doanh Tính đến đầu tháng 8/2007, ECVN đã có gần 3000 thành viên, sốlượng cơ hội kinh doanh đạt gần 10.000, số lượng doanh nghiệp nước ngoài tăngnhanh, đạt gần 600 thành viên TMĐT đã trở thành một công cụ quan trọng trongchiến lược phát triển kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Một cuộc khảo sát đựơcthực hiện vào tháng 8/2007 cho thấy hiệu quả kinh doanh bằng phương thức TMĐTcủa các DN thông qua ECVN ngày càng tăng cao, thể hiện bởi các hợp đồng giá trị lớnđược ký kết, nhiều đối tác mới tìm đến với DN Cụ thể, qua kết quả khảo sát từ hơn200DN thành viên thì đã có 236 hợp đồng đựơc ký kết với tổng trị gía lên đến trên 50

Ngày nay, CNTT đang phát triển theo xu hướng tích hợp, sử dụng các giaodiện mở và ngày càng bớt lệ thuộc vào các nhà sản xuất công nghệ lớn Phần mềmđược xây dựng dưới dạng các đối tượng có chức năng thông qua các giao diện mở,thuận tiện cho việc tích hợp và tiếp tục phát triển Các nhà hoạch định chính sách vàcác chuyên gia CNTT cho rằng, phát triển phần mềm nguồn mở sẽ giúp giảm sự lệthuộc vào các hãng phần mềm lớn, tạo thêm sự lựa chọn cho người sử dụng cũng như

cơ hội kinh doanh mới và nâng cao khả năng phát triển cho các DN Bên cạnh đó, xuhướng hội tụ của CNTT - viễn thông – phát thanh và truyền hình đang tạo ra một thịtrường rộng lớn cho công nghiệp nội dung thông tin Rõ ràng, dựa vào tính mở của thịtrường, các DN có điều kiện để lựa chọn nhiều đối tác, các sản phẩm, giải pháp thuậnlợi cho đặc điểm của mình

Trang 8

b Đối với Công nghiệp:

CNTT tạo ra một ngành công nghiệp mới đó là công nghiệp CNTT, tác độngđến những ngành công nghiệp công nghệ cao, giúp mang lại năng suất, chất lượng caocho sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm mới đa dạng; đồng thời giúp tự động hoá trongcác khâu sản xuất, tin học hoá các hoạt động tiếp thị, kinh doanh quảng cáo…CNTTcòn mang lại hiệu quả ngay cả đối với các ngành thủ công nghiệp hoặc công nghiệp cócông nghệ thấp (may, thêu, dệt…) qua việc tự động hoá thiết kế, chế tạo sản phẩm.Theo kết luận của hội thảo toàn cảnh CNTT Việt Nam 2007, diễn ra trong 2 ngày11&12/7/2007 tại TP.HCM kim ngạch nhập_xuất khẩu CNTT Việt Nam đều giữđược ngưỡng trên 1 tỉ USD nhưng tốc độ tăng trưởng lại giảm sút một cách đáng kể

Chính Phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia về CNTT-TT đến 2010 và địnhhướng đến 2020” do Viện Chiến Lược BCVT&CNTT (Bộ BCVT) xây dựng với quátrình thực hiện từ giữa năm 2003 Một trong các mục tiêu đặt ra là đến năm 2010, côngnghiệp CNTT-TT phải trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng

20 - 25%/năm và đạt tổng doanh thu 6 - 7 tỷ USD Về định hướng hoạt động ngànhphần mềm (PM), Hiệp Hội DN PM Việt Nam (VINASA) đặt ưu tiên cho hoạt độngxuất khẩu, gia công PM cho thị trường Nhật Bản, và Hiệp Hội Điện Tử & CNTTTPHCM cũng chỉ ra 3 hướng: gia công PM cho nước ngoài; xuất khẩu nguồn nhânlực; và tự phát triển PM theo yêu cầu của thị trường

Công nghiệp PM Việt Nam đang được mùa gia công, nhưng tương lai như thếnào thì rất khó dự báo Theo ý kiến của một số chuyên gia, 2 hướng đi đầu có ưu điểm

là vốn đầu tư không nhiều và thời gian thu hồi vốn nhanh Tuy nhiên, nhược điểm làphụ thuộc hoàn toàn vào đối tác nước ngoài; không mang lại nền tảng cơ bản để xâydựng nền CNPM cho đất nước Riêng về hướng thứ ba, ngay từ đầu các DN có thểchủ động định hướng phát triển CNPM theo phương châm từ thấp lên cao, từ nhỏ đếnlớn, từ đơn giản đến phức tạp, đồng thời có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước.Thế nhưng, hướng đi này lại thiếu nguồn vốn đầu tư vào những dự án chiến lược dàihạn, thiếu nguồn nhân lực nòng cốt để có thể triển khai các dự án lớn và mất nhiềuthời gian xác lập uy tín trên thị trường

Phát triển nhanh công nghiệp phần cứng trong lĩnh vực máy tính và truyềnthông Đảm bảo máy tính, thiết bị truyền thông sản xuất, lắp ráp trong nước chất lượngcao, đáp ứng khoảng 80% nhu cầu nội địa; có sức cạnh tranh về giá trên thị trường thếgiới và khu vực để tham gia xuất khẩu Đẩy mạnh việc sản xuất các thiết bị thông tin

và xử lý thông tin, đặc biệt là các thiết bị có kết nối với mạng máy tính Có chính sáchđặc biệt để thu hút đầu tư nước ngoài và huy động các nguồn vốn đầu tư trong nướccho phát triển công nghiệp phần cứng, đặc biệt là thu hút các công ty đa quốc gia hàngđầu trong lĩnh vực CNTT đầu tư và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam

Trang 9

Công nghệ thông tin và đang trở thành công cụ không thể thiếu và phục vụ chomọi nghành nghề, lĩnh vực Trong lĩnh vực cơ khí, CNTT được ứng dụng trong 3 giaiđoạn chính của quá trình sản xuất_ gia công gồm: Thiết kế, Tính toán mô phỏng vàđiều khiển gia công CNTT đã thực sự thúc đẩy nghành công nghiệp cơ khí có nhữngbước tiến vượt bậc: Nâng cao hiệu suất và chất lượng, gia tăng sự chính xác, giảmthiểu chi phí Và đặc biệt, nhờ có CNTT, khối lượng và chất lượng của các phát minh

về cơ khí phục vụ cho mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống cũng đã tăng đáng kể, điềunày thực sự khiến nghành cơ khí có những đóng góp to lớn và thiết thực hơn cho sựphát triển của toàn bộ nền kinh tế xã hội

Đối với nghành công nghiệp dệt may đã chú trọng ứng dụng CNTT cho cácdoanh nghiệp trong nước để có thể cạnh tranh tốt hơn tại thị trường trong nước vàquốc tế Gói giải pháp bao gồm phần cứng và phần mềm đánh dấu sự chuyển biếnquan trọng trong việc nhìn nhận về hiệu quả của hệ thống máy tính cho doanh nghiệp,khả năng tiết kiệm chi phí vận hành lên tới 40%; chi phí bảo trì máy và thuê nhân công

dự kiến giảm từ 7% đến 95% CNTT còn nhiều ứng dụng trong nhiều ngành côngnghiệp khác nhau góp phần làm nền kinh tế Việt Nam thay đổi và phát triển

c Đối với Nông nghiệp:

Mặc dù Việt Nam đứng thứ 3 thế giới về tình hình xuất khẩu lúa gạo, nhưngnhiều nơi trên đất nước chúng ta tình trạng đói nghèo, kém phát triển vẫn còn tồn tại.Một trong rất nhiều nguyên nhân của tình trạng đó là sự thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức

do không được tiếp cận với nguồn thông tin kinh tế, khoa học_kỹ thuật, thiếu kiếnthức về tổ chức sản xuất và tổ chức cuộc sống CNTT mang lại cơ hội tiếp cận kiếnthức và điều kiện hội nhập CNTT mang đến cơ hội cho mọi người kể cả người nghèo

và nông dân; đó là việc tạo điều kiện tiếp xúc thị trường, giảm thiểu chi phí giao dịchcho cả người mua và người bán

CNTT cũng có thể cung cấp kiến thức, thông tin hữu ích cho người nông dân vềcây trồng, vật nuôi, cách thức chăm sóc, phòng trừ hạn hán, sâu bệnh thông qua cácwebsite Tuy nhiên với tình hình thực tế hiện nay vấn đề này còn nhiều nan giải do: Hệthống Internet chưa phổ biến với nông dân, đa số nông dân có trình độ văn hoá thấp,chưa được phổ cập tin học, thông tin về nông nghiệp bằng tiếng Việt còn ít, thay đổikinh nghiệm sản xuất truyền thống bằng kiến thức khoa học trên Internet còn hạn chế.Trước tình hình đó, Bộ BCVT và Hội Nông dân Việt Nam đã ký kết Chương trìnhphối hợp hoạt động đưa CNTT vào phục vụ nông nghiệp, nông thôn, nông dân giaiđoạn 2007 – 2013 với những nội dung cơ bản sau:

- Phối hợp tổ chức tuyên truyền, vận động, cung cấp thông tin, tài liệu để chocán bộ, hội viên, nông dân hiểu rõ về vị trí, vai trò của CNTT đối sự nghiệp công

Trang 10

nghiệp hoá, hiện đại hoá và gia nhập nền kinh tế toàn cầu của đất nước nói chung cũngnhư trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cơ sở;

- Phối hợp tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức tin học cho cán bộ,hội viên, nông dân Phấn đấu đến hết nhiệm kỳ Đại hội V Hội Nông dân Việt Nam(2008-2013) đào tạo phổ cập tin học cho trên 50% (khoảng 15.000 cán bộ chủ chốt củaHội Nông dân cấp cơ sở; tập huấn truy cập mạng và tìm kiếm thông tin trên Internetcho 50% (khoảng 500.000 người) số cán bộ chi, tổ hội và hội viên nông dân tìnhnguyện là “hạt nhân tin học ở thôn, xóm”;

- Phối hợp xây dựng, tổng kết, đánh giá các mô hình ứng dụng CNTT trongnông nghiệp nông thôn, nông dân; tổ chức tư vấn, chuyển giao công nghệ và các hoạtđộng hỗ trợ khác nhằm thúc đẩy ứng dụng có hiệu quả CNTT vào các lĩnh vực nôngnghiệp nông thôn, nông dân;

- Phối hợp cùng các ngành chức năng, địa phương và các đơn vị liên quan tổchức xây dựng và bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin nông thôn;

- Phối hợp với đơn vị chủ quản tăng cường nội dung thông tin phù hợp với đốitượng hội viên, nông dân tại các điểm Bưu điện - Văn hóa xã để sử dụng và khai thác

có hiệu quả hơn mạng lưới này;

- Phối hợp nghiên cứu, đề xuất với Đảng, Nhà nước có các chính sách ưu tiên

về CNTT đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân;

- Phối hợp trong hoạt động hợp tác quốc tế nhằm học hỏi kinh nghiệm, nhậnđược nguồn lực hỗ trợ từ các nước có ứng dụng CNTT thành công phục vụ nôngnghiệp, nông thôn và nông dân

d Lĩnh vực Tài chính_Ngân hàng:

Ông Tạ Quang Tiến, Cục trưởng Cục Công nghệ tin học ngân hàng, Ngân hàngNhà nước Việt Nam, cho biết năm 2004 mới chỉ có ba ngân hàng tham gia InternetBanking với lượng giao dịch trực tuyến mỗi ngày chỉ khoảng 2 triệu cuộc Hiện nay,

có 17 ngân hàng tham gia hoạt động này với 4,5 triệu giao dịch mỗi ngày Với việcgiới thiệu F@st i-Bank vào ngày 28.5.2007 vừa qua, Techcombank trở thành mộttrong những ngân hàng đầu tiên của Việt Nam cung cấp khá đầy đủ dịch vụ thanh toánqua Internet ra thị trường, đặc biệc cho các khách hàng cá nhân

Một số ngân hàng tại Việt Nam đã cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử thực sự(Citibank, HSBC, Deutsche Bank, ANZ Bank) nhưng chỉ dừng lại ở đối tượng kháchhàng doanh nghiệp Một số ngân hàng Việt Nam cũng triển khai Internet Bankingnhưng chủ yếu ở dịch vụ hỏi đáp thông tin tài khoản Với dịch vụ này, chỉ cần quaInternet khách hàng có thể thực hiện một số giao dịch mà không cần trực tiếp đến cácphòng giao dịch của Techcombank: quản lý các giao dịch tài khoản và tra cứu thôngtin về tài khoản; thực hiện thanh toán chuyển khoản trực tuyến; tra cứu các khoản vay

Trang 11

và khoản tiết kiệm với ngân hàng; liên hệ trực tuyến với ngân hàng và đăng ký sửdụng sản phẩm, dịch vụ trực tuyến…

Ông Tạ Quang Tiến nói: “Công nghệ ngân hàng đang trở thành một vũ khí lợi hại trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các ngân hàng.” Sự phát triển ứng

dụng CNTT trong ngành ngân hàng còn tụt hậu so với nền kinh tế Việt Nam nói chung

và nhiều lĩnh vực khác nói riêng Ngành ngân hàng Việt Nam còn rất nhiều việc cầnphải làm trong ứng dụng CNTT Hiện nhận thức của người Việt về vấn đề đầu tưCNTT cho ngân hàng đã được nâng cao nhưng mức đầu tư vẫn chưa nhiều và thỏađáng

Theo Ngân hàng Nhà nước, Việt Nam là nước đi sau về công nghệ thanh toán

so với các nước phát triển Chính phủ đã đưa ra mục tiêu là đến cuối năm 2010, hoạtđộng thanh toán trong nền kinh tế đạt mức phát hành 15 triệu thẻ, 70% các trung tâmthương mại, siêu thị, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng tự chọn… lắp đặt các thiết bị chấpnhận thanh toán thẻ Phấn đấu đến năm 2020 con số này đạt gần 30 triệu thẻ và 95%các điểm chấp nhận thanh toán thẻ Đến năm 2010 tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiệnthanh toán không quá 18 %, và năm 2020 giảm xuống còn 15%

e Lĩnh vực hàng không

Cục Hàng không dân dụng đánh giá thị trường hàng không Việt Nam sẽ pháttriển nhanh nhất trong khu vực Dự kiến từ nay đến năm 2020 sẽ tăng trưởng mỗi nămkhoảng 10-15 % Tốc độ tăng trưởng này đòi hỏi ngành hàng không phải ứng dụngCNTT hiện đại, do đó thị trường cung cấp các giải pháp CNTT cho ngành hàng không

sẽ rất sôi động

Theo yêu cầu của Liên minh Hàng không quốc tế, ngày 1/1/2008 là thời điểmcác hãng hàng không Việt Nam phải tham gia hoạt động thương mại điện tử Nhu cầu

về giải pháp CNTT cho ngành hàng không nước ta vì vậy sẽ tăng mạnh

Mặc dù không có tiềm lực tài chính mạnh như VNA nhưng Công ty hàng không

cổ phần Pacific Airlines (PA) cũng đã đầu tư mạnh cho hệ thống CNTT PA là hãnghàng không đầu tiên tại Việt Nam bán vé và thanh toán trực tiếp qua Internet từ tháng

2 vừa qua cùng với việc đưa dịch vụ thương mại điện tử vào hoạt động Khi chuyểnsang vé điện tử, chi phí cho vé của hãng hàng không này chỉ bằng 1/10 so với trước dogiảm chi phí in ấn, chi phí nhân công, chi phí thuê địa điểm bán vé

Công ty Sabre Airline Solutions (SAS) vừa có mặt tại thị trường VN cuối tháng

7 vừa qua SAS cung cấp khoảng 100 giải pháp CNTT khác nhau cho các hãng hàngkhông, giúp quản lý khách hàng, điều hành hoạt động, vận hành hệ thống đặt chỗ, khaithác thương mại điện tử, xử lý giao dịch, quản lý doanh thu, phân phối sản phẩm,hoạch định chiến lược

Trang 12

Ngoài SAS, Oracle cũng là nhà cung cung cấp các giải pháp CNTT cho ngànhhàng không có tên tuổi Gần 50 sân bay lớn nhất thế giới sử dụng sản phẩm, giải phápcủa Oracle

3, Về mặt văn hoá - giáo dục:

Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi người đều cótrong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy họcnói riêng Nhờ có sử dụng các phần mềm dạy học này mà học sinh trung bình, thậmchí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập Phầnmềm dạy học được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của giáo viên tới từng giađình học sinh thông qua hệ thống mạng Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kếgiáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thờigian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vàigiây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âmthanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi học sinh Thông qua giáo

án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện chohọc sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạyhọc bằng công nghệ thông tin so với phương pháp giảng dạy truyền thống là nhữngthí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanhsống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh cóthể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớncủa công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạyhọc Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắcchắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh và điều này làm nảysinh những lý thuyết học tập mới

Trang 13

Theo nhận định của một số chuyên gia, việc đưa công nghệ thông tin và truyềnthông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta bước đầu đã đạt đượcnhững kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn,việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm đổi mới nội dung, phươngpháp dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sởvật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên Nhà nước cần tăng dần mức đầu

tư để không ngừng nâng cao, hoàn thiện và hiện đại hoá thiết bị, công nghệ dạy học;đồng thời hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông để mọi trường họcđều có thể kết nối vào mạng Internet

Nhiều phần mềm để hỗ trợ học tập như: hệ thống trò chơi trên máy vi tính dànhcho trẻ em có tên gọi "Nhà khám phá trẻ" Kích thích sự tập trung chú ý cũng nhưhứng thú khám phá của trẻ Khi chơi trên máy tính, trẻ có nhiều cơ hội phát triển vềnhận thức, tình cảm, ngôn ngữ và vận động Các khái niệm về chữ cái, từ, số đếm,phân loại, không gian, thời gian, hình dạng được trẻ học một cách ngẫu nhiên trongcác tình huống trò chơi Các phần mềm từ điển điện tử và đa ngôn ngữ trên nền tiếngViệt, các bách khoa toàn thư điện tử, các phần mềm hỗ trợ dạy và học các môn họctrọng điểm…

b Về văn hoá:

Mọi người có thể vào Internet để học hỏi kiến thức, thu thập thông tin ở tất cảmọi lĩnh vực, đọc nhiều cuốn sách, nhiều tờ báo cùng lúc mà không phải trả tiền Tuynhiên, Internet cũng có những bất lợi Nó giới hạn về thời gian và không Internet làphát minh vĩ đại của nhân loại Song, nó cũng tác động không nhỏ đến văn hóa đọctruyền thống.gian Người ta không thể đọc sách, báo trên lnternet khi đi tàu, xe Tuynhiên, không thể phủ nhận được văn hoá đọc truyền thống qua việc đọc trực tiếp quasách báo được, vì nó đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống: không ai cũng có điềukiện đọc thông tin thông qua Internet, những quyển sách dày nếu đọc qua Internet sẽtốn nhiều thời gian… Hiện nay ở Việt Nam Internet tác động không nhỏ đến giới trẻ,đặc biệt là các trò game online qua mạng, game có hai mặt lợi và hại Game là một loạihình giải trí lành mạnh nếu xác định chơi để giải trí Game không chỉ nâng cao khảnăng tư duy mà còn giữ cho giới trẻ nói riêng và mọi người nói chung tránh xa những

tệ nạn xã hội Một bộ phận không nhỏ các bạn trẻ nghiện game mà bị chi phối thờigian, sức khoẻ, tiền bạc, học hành sa sút, nhiều trường hợp sinh viên, học sinh bị dừnghọc, xuống lớp…đánh mất chính bản thân mình

Thông qua Internet, đất nước Việt Nam xinh đẹp ngày càng được nhiều ngườibiết đến và mỗi năm thu hút nhiều khách du lịch từ khắp mọi nơi trên thế giới, góp mộtphần không nhỏ vào tổng thu nhập quốc dân Ngoài những danh lam thắng cảnh nổitiếng, du khách có thể truy cập và biết được phong tục tập quán của các dân tộc

Trang 14

Những món ăn ngon nổi tiếng, những loại hình văn học nghệ thuật dân gian truyềnthống khắp mọi miền trên đất nước Việt Nam.

Không thể phủ nhận những tiện ích mà Internet mang lại nhưng có một bộ phậnkhông nhỏ những người truy cập vào những trang web “đen”, có không ít trang webtruyện khiêu dâm bằng tiếng Việt, với hàng nghìn truyện khác nhau Không phải làhình ảnh cụ thể như phim, nhưng những câu chuyện trên đó có thể làm người đọc phảichoáng váng Nó nguy hiểm ở chỗ không chỉ kích thích dục vọng mà còn đưa ranhững mối quan hệ bất chấp mọi luân thường, đạo lý, như loạn luân trong gia đình,giữa bố mẹ và con cái, anh chị em ruột, họ hàng thân thích, thầy trò, cô trò, với trẻem Làm thế nào để ngăn chặn làn sóng phim ảnh sex tràn ngập trên mạng? Câu trảlời không thể chỉ giành cho nhà chức trách Trường học, là nơi nắm giữ chìa khoá đểgiải quyết vấn đề Nếu như các giờ tin học vẫn tẻ nhạt như hiện nay, khi kiến thức vềinternet của thanh thiếu niên vẫn chỉ dừng lại ở chat, thì chẳng thể làm được gì Cáctrường học cần phải có chương trình giảng dạy về internet, về tin học phong phú hơn,hướng dẫn các em cách sử dụng mạng như thế nào, mở ra trước mắt các em nhữngnguồn thông tin phong phú, ứng dụng thiết thực hơn, và qua đó cũng giúp các em hiểuđược thực chất của các trang web đen

c, Về lĩnh vực y tế:

Trong lĩnh vực y tế, việc sử dụng công nghệ cao phục vụ chuyên môn đang phát triển rất tốt nhưng việc ứng dụng CNTT trong việc chẩn đoán, khám chữa bệnh

lại đang chậm chạp, cần thiết phải đầu tư nhiều hơn nữa'' Trong số các bệnh viện tự

triển khai ứng dụng CNTT, bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đầu tiên đã áp dụng mã

vạch - ''số hóa'' bệnh nhân cho toàn bộ bệnh nhân nội trú nhập viện (từ tháng 4/2004).

Đây là mã ID cung cấp những thông tin liên quan đến tháng, năm nhập viện, họ tên,bệnh án, khoa điều trị giúp cho việc quản lý bệnh nhân thuận tiện, chính xác hơn.''ngoài chức năng thống kê, trong lĩnh vực tài chính kế toán, qua mấy tháng ứng dụng

hệ thống mã vạch này, bệnh viện đã quản lý chặt chẽ hơn về mặt tài chính (tiền xétnghiệm, khám chữa bệnh, cấp phát thuốc đều được lưu trong bệnh án của bệnhnhân)'' Bệnh viện đã triển khai hệ thống phân loại thuốc theo hệ thống Giải phẫu -Điều trị - Hóa học (hay còn gọi là phân loại theo mã ATC), giúp giảm chi phí phânloại thuốc

Có một số ứng dụng CNTT điển hình như Viện Pasteur TP HCM ứng dụngCNTT giải mã gen virus cúm gà H5N1; Bệnh viện phụ sản Hà Nội quản lý việc sửdụng thuốc qua mạng máy tính, sử dụng phần mềm quản lý bệnh án điện tử; Trungtâm Y khoa TP HCM (Medic) sử dụng máy phân tích gen để điều trị bệnh; ứng dụng

hệ thống máy tính vào công tác quản lý khám chữa bệnh tại Bệnh viện Quân y 5 (Quânkhu 3) đã làm giảm phiền hà cho người bệnh và hạn chế tiêu cực có thể xảy ra; trang

Trang 15

web www.bacsigiadinh.com thường xuyên cập nhật các thông tin về bệnh và cáchphòng ngừa nhiều loại bệnh khác nhau cũng như các dịch vụ y tế và địa chỉ y tế ởnhiều nơi trong nước

Việc ứng dụng CNTT trong bệnh viện, theo nhận xét từ phía lãnh đạo Bộ Y tế,

tính đến thời điểm này, hoàn toàn ''tự phát'', do các bệnh viện ''mạnh ai nấy làm'', làm theo nhu cầu, mục đích cần thiết của bệnh viện mình Trước mắt, Trung tâm tin học

(Bộ Y tế) phối hợp với văn phòng Bộ sẽ triển khai đào tạo CNTT tại các cơ sở y tế,bệnh viện trên cả nước, và tiến hành khảo sát tại tất cả các địa phương trên phạm vitoàn quốc Đồng thời, hợp tác với Bộ Bưu chính Viễn thông lập đường truyền Internetxuống xã Với tư cách một ngành khoa học độc lập và có những ứng dụng mạnh mẽ,

công nghệ thông tin y học đòi hỏi một đội ngũ cán bộ chuyên ngành được đào tạo cǎn

bản, hệ thống

d, Về lĩnh vực tài nguyên - môi trường:

Hiện nay tại các cơ quan của Bộ môi trường , chỉ có Cục bảo vệ Môi trường làđơn vị được chú ý đầu tư hạ tầng cơ sở CNTT và kết nối mạng Internet từ rất sớm.Còn lại các đơn vị khác đều mới chỉ có một số máy tính cá nhân được nối mạng máytính, Internet thông qua mạng Văn phòng Bộ Tại các Sở Tài nguyên và Môi trường ởđịa phương, trang thiết bị máy tính dành cho Phòng Quản lý Môi trường còn rất sơ sài

và thiếu do chưa được đầu tư đúng mức, kinh phí lại có hạn Đặc biệt là các cấp lãnhđạo, đặc biệt là lãnh đạo các địa phương vẫn chưa nhận thức một cách đầy đủ tầmquan trọng của ứng dụng CNTT và cơ hội do CNTT mạng lại cho quản lý môi trường;chưa coi thông tin môi trường là tài sản chung của xã hội

Với quan điểm coi CNTT là chìa khoá để nâng cao hiệu quả quản lý môitrường, đồng thời sẽ ứng dụng CNTT gắn chặt với bảo vệ môi trường và phát triển bềnvững, bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có tờ trình số 106/TTr-BTNMT vềChiến lược ứng dụng và phát triển CNTT tài nguyên và môi trường đến năm 2015 vàđịnh hướng đến năm 2020 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược này tạiQuyết định 179/2004/QĐ-TTg, ký ngày 6/10/2004 Theo đó sẽ nâng cao chất lượnghiệu quả quản lý tài nguyên và môi trường; cải cách thủ tục hành chính đối với hệthống đăng ký, cấp phép về khai thác, sử dụng tài nguyên và chất lượng môi trường;tạo điều kiện để tổ chức và người dân tiếp cận thuận lợi các thông tin về tài nguyên vàmôi trường…

Có sáu nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược: Tin học hoá việc thu nhận, cập nhật dữliệu tài nguyên và môi trường thông qua quá trình thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc,quan trắc trong các lĩnh vực thuộc ngành Tài nguyên và môi trường Xây dựng cơ sở

dữ liệu quốc gia về tài nguyên và môi trường Tổ chức hệ thống mạng truyền dữ liệuphục vụ chuyên ngành và phục vụ cung cấp dữ liệu tài nguyên và môi trường cho nhu

Trang 16

cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, nghiên cứu khoahọc, đào tạo, hợp tác quốc tế và các nhu cầu khác của xã hội và của cộng đồng.

III Liên hệ việc ứng dụng của CNTT tại địa phương và hiệu quả của việc ứng dụng CNTT

1 Xây dựng thành công nền hành chính điện tử ở địa phương

Ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp quan trọng nhằm cải cách thủ tục hànhchính, nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, phục vụ người dân vàdoanh nghiệp Với sự chung tay vào cuộc đồng bộ của các ngành, các cấp trên địa bàntỉnh, hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) đã thu được những thành quảbước đầu Để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, trong thời gian tới, tỉnh sẽchú trọng hoạt động ứng dụng CNTT ở cấp xã hướng tới mục tiêu xây dựng thànhcông nền hành chính điện tử ở địa phương…

Trong thời gian vừa qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy HĐND UBND và sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp, các ngành trong tỉnh, hoạt động ứngdụng và phát triển CNTT của tỉnh Thái Bình thu được nhiều thành quả đáng khích lệ.Nhiều chỉ tiêu qua trọng giai đoạn 2010 - 2015 đạt được với kết quả cao Trong côngtác chỉ đạo điều hành, nhiều văn bản quan trọng được ban hành góp phần định địnhhướng tốt hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT trong các cơ quan nhà nước, đồngthời, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, đảm bảo hệ thốngthông tin của tỉnh có những bước phát triển mạnh mẽ, đúng hướng Đến nay, về hạtầng CNTT, 93% cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh và cấp huyện được trang bịmáy tính làm việc; 100% các đơn vị có mạng nội bộ LAN Các thiết bị phụ trợnhưmáy

-in, máy photo, máy scan…được trang bị đáp ứng yêu cầu công tác.Hạ tầng viễn thôngtriển khai đồng bộ, chất lượng cao đến các huyện, thành, thị đảm bảo tốt việc truy cậpInternet và kết nối liên thông trong tỉnh Về ứng dụng CNTT, các phần mềm dùngchung được triển khai hiệu quả đến các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, huyện và một số đơn

vị cấp xã Thư điện tử công vụ được cấp cho 90% cán bộ công chức Trong đó, 74%hộp thư được cấp thường xuyên sử dụng Tỷ lệ văn bản điện tử được gửi nhận quahòm thư điện tử là trên 63% Phần mềm đang dần trở thành công cụ nâng cao hiệu quảlàm việc cho cán bộ, công chức Nguồn nhân lực được đào tạo, nâng cao kiến thức, kỹnăng cần thiết để quản lý, duy trì và khai thác hiệu quả hệ thống thông tin hiện có

Tuy nhiên, thực tế ứng dụng và phát triển CNTT những năm vừa qua cũng chỉ

ra những tồn tại, hạn chế gây trở ngại đến quá trình xây dựng nền hành chính điện tử ởđịa phương; đặc biệt là hoạt động ứng dụng CNTT ở UBND cấp xã Qua thực tế kiểmtra, hầu hết UBND cấp xã đã trang bị được trang thiết bị máy tính, máy in, hệ thốngmạng đáng ứng yêu cầu công tác Một số phần mềm như kế toán, soạn thảo văn bản,trình duyệt Internet được khai thác hiệu quả, phục vụ công tác chuyên môn Đáng chú

Ngày đăng: 25/09/2016, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Bộ Bưu chính, viễn thông, Chỉ thị số 07/CT-BBCVT ngày 07 tháng 7 năm 2007 về Định hướng Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 (Gọi tắt là “Chiến lược cất cánh”) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cất cánh
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2008 Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Văn bản số 9772/BGDĐT-CNTT ngày 20 tháng 10 năm 2008 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2008 – 2009, năm 2008 Khác
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo Văn bản số 4960/BGDĐT- CNTT ngày 27 tháng 7 năm 2011 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2011 – 2012, năm 2012 Khác
4. Ban Chấp hành Trung ương, chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w