1. Trang chủ
  2. » Tất cả

1 Phụ Lục A Tài liệu Chương Trình DFE

48 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các từ viết tắt ama Tổ chức Associação do meio ambiente – amigos de terra CBNRM Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên dựa vào Cộng đồng CFUG Các nhóm Khai thác Rừng Cộng đồng CFMG Nhóm Phối

Trang 1

Nâng cao Năng lực Cộng đồng thông qua Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên

mang tính Dân chủ

Đề xuất Thỏa thuận Chương trình của Trung tâm Khuyến Lâm Đan Mạch

Tháng 11, 2015

1 Giới thiệu 4

Trang 2

1.1 Kinh nghiệm và Năng lực của DFE 4

1.2 Xây dựng Ý tưởng Chương trình 6

1.3 Hội thảo cùng Chuẩn bị Chương trình 8

2 Bối cảnh Khu vực, Quốc gia và Ngành 10

2.1 Bối cảnh Khu vực 10

2.2 Tập trung theo vùng địa lý của chương trình 11

2.3 Bối cảnh Ngành – Nguồn Tài nguyên Thiên nhiên 15

2.4 Bối cảnh Khu vực – Giáo dục về NRM 17

3 Mục tiêu của Chương trình 18

3.1 Mục tiêu Phát triển 18

3.2 Những Mục tiêu Trước mắt và các Chỉ số 18

4 Chiến lược Tổng thể của Chương trình 20

4.1 Nội dung 1 – Nâng cao Năng lực các Đối tác 23

4.2 Nội dung 2 – Các Hiệp hội Nhận thức và Quản lý NR 24

4.3 Nội dung 3 – Giáo dục về Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên 25

5 Phương pháp Luận và Lĩnh vực Hoạt động 26

5.1 Phương pháp Tổng thể và Lĩnh vực Hoạt động 26

5.2 Xây dựng Tổ chức 29

5.3 Truyền thông 29

5.4 Ảnh hưởng Hợp lực từ Chương trình 30

Hợp lực giữa Nội dung 2 và 3 6 Vấn đề Xuyên suốt 35

6.1 Những mối quan tâm xuyên suốt 35

7 Nhóm Mục tiêu và các Đối tác 36

7.1 Nhóm Mục tiêu 36

7.2 Các Đối tác 37

8 Công tác Thông tin tại Đan Mạch 41

9 Các Kết quả Đầu ra và Chỉ số 41

10 Ngân sách 42

11 Quản lý và Thiết lập Tổ chức 42

11.1 Cơ cấu Tổ chức và Phân bổ Trách nhiệm trong một Tổ chức Đan Mạch 42

11.2 Tổ chức và Phân bổ Trách nhiệm trong các chương trình thực tế 44

11.3 Thủ tục Hành chính và Quản lý Tài chính 44

12 Các Giả định và Rủi ro 45

12.1 Giả định 45

12.2 Rủi ro 46

Trang 3

Các từ viết tắt

ama Tổ chức Associação do meio ambiente – amigos de terra

CBNRM Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên dựa vào Cộng đồng

CFUG Các nhóm Khai thác Rừng Cộng đồng

CFMG Nhóm Phối hợp Quản lý Rừng

CGCRN Ban Quản lý Cộng đồng về Tài nguyên Thiên nhiên

COGEP Hội đồng Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên có sự Tham gia

CSO Tổ chức Xã hội Dân sự

CSR Trách nhiệm Xã hội Tập thể

CSS Chiến lược Xã hội Dân sự

CISU Civilsamfundiudvikling (Xã hội Dân sự trong sự Phát triển)

Danida Bộ Ngoại giao Đan Mạch

DARD Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

DPCAA Cơ quan cấp tỉnh về các Hoạt động Môi trường

DSCWM Sở Bảo tồn Đất và Quản lý Đường Phân Nước Nepal

DFE Tổ chức Khuyến Lâm Đan Mạch

DFO Văn phòng Lâm nghiệp cấp Quận/Huyện

FECOFUN Tổ chức của Cộng đồng những người Khai thác Rừng tại Nepal

FOCADE Nhóm Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên Mozambique

GDP Tổng Sản phẩm Quốc nội

HDI Chỉ số Phát triển Nhân sự

IEE Giáo dục Môi trường Tương tác

EI Ngành Công nghiệp Khai khoáng

JIWAN Chương trình Quản lý Lưu vực Nước và Tài nguyên Thiên nhiên Tích hợp Jalaidh LDC Quốc gia Chậm Phát triển

LSC Trung tâm Phát triển Bản thân

M&E Giám sát và Đánh giá

MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

MDG Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

MICOA Bộ Điều phối các Vấn đề Môi trường Mozambique

MoFSC Bộ Bảo tồn Rừng và Đất đai Nepal

MSC Thay đổi Đáng kể Nhất

NGO Tổ chức Phi Chính phủ

NRM Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên

NTFP Các Lâm sản Ngoài Gỗ

NVCARD Trường Cao đẳng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bắc Bộ

SUYUK Samaj Utthan Yuwa Kendra – Tổ chức SUYUK

ToC Nguyên lý của sự Thay đổi

ToT Tập huấn cho Giảng viên

TPFDA Hiệp hội Phát triển Rừng Tư nhân Terai

UAFA Hiệp hội Người Trồng Rừng cấp Quận ở Mozambique

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc

VNFU Hội Nông dân Việt Nam

WCN Tổ chức Bảo tồn Thế giới Hoang dã Nepal

Trang 4

1 Giới thiệu

Bảo vệ và sử dụng có trách nhiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tách rời với ý tưởng về quyền cơ bản của con người Tuyên bố toàn cầu về quyền con người cho rằng mọi người “có quyền đầy đủ theo chuẩn mực về sức khỏe và cuộc sống cho bản thân và gia đình Quyền có tiêu chuẩn đầy đủ về cuộc sống phụ thuộc vào khả năng đáp ứng của nguồn tài nguyên cơ bản – đất, nước uống, rừng, thực vật và không khí trong lành” Không tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách đầy đủ, những mục tiêu cơ bản của tuyên bố quyền con người sẽ không thể đạt được Quyền về tiêu chuẩn sống đầy đủ này là đặc điểm bao trùm toàn bộ chương trình của Trung tâm khuyến lâm Đan Mạch (DFE), với tập trung vào những quyền thực sự đó là: 1) quyền với đất và tài nguyên thiên nhiên; 2) quyền về giáo dục chất lượng cao về quản lý tài nguyên thiên nhiên (NRM)

Với mục tiêu đạt được những quyền đó, DFE phối hợp với các tổ chức xã hội dân sự đối tác có năng lực thành lập các tổ chức cộng đồng dưới hình thức các hiệp hội sử dụng tài nguyên thiên nhiên độc lập có hiệu quả đại diện cho các thành viên của họ Các tổ chức đó vận động cho quyền của thành viên về đất và tài nguyên thiên nhiên và họ hỗ trợ những thành viên về dịch vụ khuyến lâm một cách có hiệu quả trong quản lý

có trách nhiệm tài nguyên thiên nhiên và cải thiện đời sống Tiếp đó DFE phối hợp cùng đối tác về tăng cường đạo tạo chính qui về quản lý tài nguyên thiên nhiên ở cả trình độ thấp và cao Ở trình độ thấp DFE và đối tác tiến hành đào tạo môi trường có tương tác với thực tế, gọi tắt là đào tạo tương tác (IEE) trong các trường phổ thông bằng cách cung cấp các khóa đào tạo cho giáo viên và học sinh thông qua vận động đưa IEE vào hệ thống đào tạo chính thức Ở trình độ cao hơn, chúng tôi phối hợp với các trường Cao đẳng xây dựng và cung cấp các khóa đào tạo về NRM cho các cán bộ khuyến lâm, tổ chức hoạt động tư vấn và dịch vụ khuyến lâm Chúng tôi cũng vận động đưa các khóa NRM vào vào giáo trình cấp quốc gia với mục tiêu nhân rộng tầm ảnh hưởng

1.1 Năng lực và Kinh nghiệm của DFE

Skovdyrkerne -DFE là một tổ chức vận hành và làm chủ bởi các chủ rừng qui mô nhỏ ở Đan Mạch Từ năm

1902 DFE đã cung cấp dịch vụ khuyến lâm, các khóa đào tạo gắn với thực tiễn và vận động cho quyền lợi của thành viên trên nguyên tắc có sự tham gia DFE bao gồm bảy đơn vị cơ sở, Hiệp hội chủ rừng cơ sở, mỗi đơn vị điều hành bởi một ban quản trị, những người được bầu cử theo phương thức dân chủ Bảy đơn vị cơ

sở đại diện bởi Ban thư ký, ban này được đại hội thành viên bầu ra

DFE trở thành tổ chức quốc tế từ những năm 90 Sự tham gia vào hoạt động quốc tế được thúc đẩy bởi sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và do vậy xóa bỏ dịch vụ tập trung DFE đã được mời đến các quốc gia vùng Baltic để hỗ trợ thành lập các Hiệp hội chủ rừng dựa vào cộng đồng Sự thành lập các Hiệp hội chủ rừng ở Latvia và Lithuania đã được hỗ trợ rất lớn từ phía DFE Ở Đông Âu bao gồm Ba Lan,, Romania, Belarus, Estonia, và Nga là khu vực hoạt động chính của DFE những năm 90

Ban đầu, tham gia vào hoạt động quốc tế chỉ là một trong những hoạt động thông thường của Ban thư ký Cùng với sự gia tăng về cấp độ hoạt động, mong muốn được can thiệp vào việc tạo diễn đàn cho các tổ chức làm chủ bởi thành viên đã phát sinh Lý do là chuyên môn hóa thông qua tập trung hoạt động, nâng cao quyền làm chủ trong các tổ chức cơ sở, tạo cơ hội quản bá kiến thức về những nỗ lực quốc tế của DFE về quản lý tài nguyên có trách nhiệm

Điều đó dẫn đến, DFE đã được thành lập vào năm 1999 Trước khi thành lập, các tổ chức tài trợ trong đó có Danida đã được tham vấn nhằm đảm bảo được sự đồng thuận của họ về việc DFE có thể tiếp tục duy trì vị trí pháp nhân là một tổ chức phi lợi nhuận được lựa chọn trong số rất nhiều các tổ chức

Trong mối quan hệ với tổ chức mẹ, Chi nhánh DFE quốc tế có đặc điểm:

Trang 5

 Độc lập về mặt pháp lý có Hóa đơn giá trị gia tăng riêng/số đăng ký kinh doanh

 Ban điều hành riêng

 Ban quản trị làm việc không lương

 Đóng góp đáng kể từ hoạt động tình nguyện của nhân viên và thành viên ban quản trị cơ quan mẹ

 DFE hoạt động trên thực tế như một tổ chức phi lợi nhuận

 Quản lý tài chính hoàn toàn tách rời từ tổ chức mẹ về kế toán, kiểm toán độc lập, ngân hàng, vv

 DFE chi trả cho nhân viên một cách hoàn toàn minh bạch

 Quyết định của Hội đồng quản trị không chi trả thưởng/ chia cho tổ chức mẹ Lợi nhuận nếu có chỉ được

sử dụng để củng cố tổ chức

 Hội đồng quản trị quyết định chỉ cho phép lợi nhuận tối đa là 5-7% trong giai đọan củng cố xây dựng tổ chức và thấp hơn đáng kể khi đã trả hết nợ và có bảng cân đối của tổ chức như hiện nay

 Khi nắm bắt lợi thế cạnh tranh của nhân viên tổ chức mẹ, sự chi trả cơ bản đủ để bù đắp chi phí,

 Đóng góp chính đến từ nguồn của tổ chức phi chính phủ, chi cho giảng dạy, tư vấn vv

 Chi nhánh quốc tế có thể tự do khai thác kiến thức đã được tích lũy hơn 100 năm của tổ chức mẹ

 Tham gia vào hoạt động từ thiện với nơi được lựa chọn là nước không bị cắt viện trợ

 Hỗ trợ miễn phí tới các tổ chức NGO khác nhau Chi tiết xem trong thành lập tổ chức DFE xem phụ lục

8

Sau đó, sự tham gia của chúng tôi lan tỏa ra thế giới, tới nay có 25 nước tại Châu Âu, Châu Phi, Châu Á Trong thập kỷ vừa qua, DFE đã thiết lập mối quan hệ đối tác chặt chẽ với các tổ chức xã hội dân sự tại Mozambique, Nepal, và Việt Nam thông qua các dự án tài trợ bởi Danida và CISU Hoạt động quốc tế của chúng tôi tập trung hỗ trợ quản lý tài nguyên thiên nhiên và rừng có trách nhiệm thông qua:

 Thiết lập và củng cố các Hiệp hội sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chủ rừng thông qua thành lập các đơn vị tự chủ cung cấp dịch vụ khuyến lâm bền vững để cải thiện tình trạng quản lý tài nguyên thiên nhiên và cải thiện sinh kế

 Thu hút các tổ chức tham gia vận động chính sách về quyền thành viên về quyền sử dụng đất, và lợi ích của họ với mục đích đóng góp vào quyền tiếp cận công bằng với tài nguyên thiên nhiên

 Thúc đẩy giáo dục NRM ở trình độ thấp và cao Chúng tôi nâng cao nhận thức của sinh viên về các vấn đề môi trường và các khóa thực hành vể NR cho trẻ em và sinh viên các trường đại học, cao đẳng, do vậy họ được trang bị tốt hơn để vận động chính sách thành công và quản lý tài nguyên thiên nhiên trong tương lai

Liên quan tới tài liệu chương trình, DFE đã cho tiến hành đánh giá năng lực tổ chức bởi một cơ quan độc lập Kết luận đánh giá cho rằng DFE và các đối tác có đủ năng lực chuyên môn, hành chính, và năng lực tổ chức

và cơ cấu để thực hiện chương trình theo như hướng dẫn và yêu cầu của CISU/DANIDA Đặc biệt đánh giá kết luận rằng:

 DFE áp dụng phương pháp thực tiễn về quyền trong các hoạt động thực tế, chúng được xem như một khía cạnh chính yếu để giải quyết vấn đề về các quyền

 Phương pháp của DFE bao gồm thúc đẩy phát triển các thành phần tư nhân cung cấp dịch vụ về nắm giữ quyền về tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo sinh kế từ nguồn tài nguyên thiên nhiên Chúng phù hợp với ấn phẩm mới nhất về chiến lược xã hội dân sự Chúng thừa nhận sự quan trọng của đối tác thành phần tư nhân và hỗ trợ thúc đẩy phát triển xanh

 DFE tiếp tục tiếp cận với các đối tác và đã được xây dựng được mối quan hệ bền chặt với các đối tác phía nam là những người đang theo đuổi mục tiêu phù hợp với mục tiêu cốt lõi của DFE

 DFE có khả năng hỗ trợ quản lý rất tốt và có những nhân viên tốt về chuyên môn

 Khả năng hỗ trợ kỹ thuật tốt trong quản lý tài nguyên rừng, thiên nhiên và những kinh nghiệm đầy

đủ về các phương pháp áp dụng trong bối cảnh phát triển với các đối tác của các nước đang phát triển

 Có một mối liên kết chặt chẽ bên trong DFE, đó là mối liên kết giữa năng lực của tổ chức ở Đan Mạch và năng lực sử dụng nó trong công việc phát triển

Trang 6

 Quản lý tài chính phù hợp với yêu cầu và hệ thống kiểm tra kế toán, kiểm soát và kế hoạch ngân sách, báo cáo và kiểm toán

 DFE có nền tảng nổi tiếng thông qua các chủ đề phù hợp giữa công việc của Skovdyrkerne ở Đan Mạch và công việc của DFE ở nước ngoài, nhấn mạnh tầm quan trọng của DFE như là một tổ chức

xã hội dân sự phù hợp với chiến lược xã hội dân sự (Phụ lục H)

1.2 Xây dựng Ý tưởng Chương trình

Chương trình xây dựng dựa trên kinh nghiệm trên hai thập kỷ về phát triển quốc tế và nhiều năm về hợp tác với các đối tác đã đề xuất được tạo nên thông qua việc thực hiện các dự án riêng lẻ Những dự án cung cấp nền tảng củng cố công việc và tiếp tục dưới sự tham gia vào khung chiến lược chương trình sẽ cho phép các đối tác theo đuổi cùng một mục tiêu một cách thuận lợi hơn

Bài học chính trong những năm qua là về việc tổ chức các cá nhân thành viên cộng đồng thành các nhóm và hiệp hội có một cơ cấu quản trị dân chủ, đây là cách chủ đạo để cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội người dân nông thôn Công việc thách thức hơn và cũng là thành công nhất là phát triển các nhóm thành các hiệp hội thực có ban quản trị và có cơ cấu dân chủ, có trách nhiệm với các thành viên và có sự bền vững về kinh tế Bài học khác là có sự khác biệt về bối cảnh cũng những thành quả đạt tùy vào sự độc lập kinh tế và thể chế Những can thiệp ở cấp cộng đồng trong việc xây dựng các hiệp hội có thể áp dụng trong vận động chính sách hướng tới chính phủ cũng sẽ hỗ trợ chúng ta xây dựng mối quan hệ tích cực với các cơ quan chức năng và có thể tác động thể chế và chính sách của nhà nước Ví dụ về công việc của chúng tôi về quyền đất đai tại Mozambique là vận động chính sách đối với nhà chức trách trong việc giải trình thực thi luật và đảm bảo cộng đồng hưởng lợi từ đầu tư trong công nghệ khai thác trong khu vực dự án Chúng tôi cũng học được cách nhìn ra bối cảnh chính trị của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với mục tiêu thành lâp tổ chức

xã hội dân sự độc lập

Trong lĩnh vực đào tạo quản lý tài nguyên thiên nhiên, chúng tôi rút ra bài học về nhân rộng mô hình giáo dục môi trường tương tác thông qua làm việc trực tiếp với Bộ môi trường, việc này đã chứng minh là một chiến lược rất tốt để thể chế hóa, phương pháp đã thành công thông qua các lớp đào tạo giảng viên chính quy

ở khắp Nepla và nâng cao chất lượng đào tạo cho học sinh Dưới góc độ làm việc với trẻ em, những người luôn cởi mởi tiếp thu cái mới cũng đã chứng minh được sự thành công trong việc ảnh hưởng đến thái độ của cha mẹ chúng và những người lớn trong cộng đồng, thông qua mô hình giáo dục trẻ em tới gia đình, tới cộng đồng về tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Trang 7

Phụ lục không tóm tắt những thành tựu chính với các đối tác và phụ lục 1 -4 cung cấp những số liệu chi tiết hơn về kết quả bao gồm thông tin chi tiết về số lượng Những kết quả đó cung cấp nền tảng cho việc đạt được mục tiêu của chương trình với qui mô lớn hơn trong sự hợp lực của các đối tác trong tương lai Chúng

ta cũng tăng cường hợp tác với các đối tác và có mối quan hệ công việc bền chặt và tin cậy với từng đối tác Những phương pháp trước kia sẽ được xây dựng và điều chỉnh cụ thể để đạt được mục tiêu của chương trình

về chia sẻ kiến thức và bài học kinh nghiệm giữa các đối tác, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng hiệp hội và giáo dục môi trường Dưới đây là Tóm tắt về sự hợp tác và công việc với thông tin chi tiết hơn về sự hợp tác ghi trong phụ lục 7

Đối tác Giai đoạn Những ví dụ quan trọng nhất về kết quả đạt được

Bảo tồn động

thực vật hoang

dã Nepal

(Nepal)

2008 – nay Nhân rộng mô hình giáo dục môi trường tương tác thông qua làm việc

trực tiếp với Bộ tài nguyên để thể chế hóa chương trình đào tạo chính thức, nhờ thế mô hình có thể vươn tới các giáo viên ở Nepal và nâng cao chất lượng đào tạo cho học sinh Tổng số gần 35.000 trường học Một phần trong chiến lược giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, 5 nhóm sử dụng rừng của cộng đồng thông qua thiết lập sự hợp tác của phụ nữ với các thương gia địa phương để sản xuất dầu ăn hữu

cơ cho thị trường quốc tế

Các cộng đồng quản lý 5 vườn ươm cung cấp cây giống để bảo tồn rừng tự nhiên (bắt đầu từ năm 2013)

2005 – nay LSC vận động chính sách cao cấp tại cấp huyện và cấp quốc gia để

quản lý tốt hơn lưu vực nước, kết quả là đã thành lập được hội đồng bao gồm đại diện các cơ quan ngành dọc cấp huyện và cấp trung ương Trung tâm được xây dựng từ các nhóm địa phương tham gia vào các hoạt động tạo thu nhập bền vững với môi trường

Thành lập nhóm hợp tác quản lý rừng (một trong số vài nhóm ở Nepal)

Associação do

meio ambiente

(Ama)

2006 – nay Xây dựng hai bộ giáo trình địa phương về đào tạo môi trường cho hai

huyện Xây dựng phương pháp tương tác trong giảng dạy về tài nguyên thiên nhiên đạt tới con số 6.724 học sinh (Bắt đầu từ năm 2012)

Ama là một NGO đầu tiên của tỉnh Cabo Delgado có chứng nhận quyền về đất đai cho cộng đồng địa phương Về tổng thể, 31 ủy ban quản lý tài nguyên thiên nhiên (một hiệp hội chủ quản cấp huyện) và

14 nhóm sử dụng rừng đã hoạt động (một hiệp hội chủ quản cấp huyện) – điều này mang đến cuộc sống tốt hơn cho các nhóm, quản lý tài nguyên thiên nhiên tốt hơn, cũng như nhận thức đầy đủ hơn về quyền đất đai, hoạt động khai thác rừng và khai khoáng

Mục đích chương trình là đưa ra bằng chứng trên thực tế và có thể trình bày trên diễn đàn quốc gia để nâng cao nhận thức về sự khác nhau giữa qui định của luật pháp và sự thực hiện diễn ra trên thực tế Hội nông dân

tỉnh Hòa Bình

và Hà Tĩnh

2010– nay Thành lập hai hợp tác xã bao gồm 120 nhóm nông dân hoạt động trong

lĩnh vực lâm nghiệp trang trại nhằm tăng thu nhập Mục tiêu là để họ trở thành những hiệp hội độc lập về chính trị và xã hội

Giáo trình về lâm nghiệp trang trại được xây dựng sẽ được giảng dạy tại 5 trường cao đẳng và trung cấp

Trang 8

Những đối tác của chúng tôi thông qua làm việc cùng nhau đã có được nhiều năng lực và kỹ năng khác nhau

để thực hiện các dự án liên quan đến quản lý rừng và tài nguyên thiên nhiên, hỗ trợ xây dựng các hiệp hội và giáo dục môi trường Họ có nhiều năm kinh nghiệm làm việc trực tiếp với các nhóm mục tiêu, chính quyền

và các đối tác khác Điều này phản ánh trong biên bản ghi nhớ đã ký với các các tổ chức chính quyền và các

bộ Ví dụ về LSC tại Nepal là tâm điểm cho sự phối hợp hoạt động quản lý lưu vực nước trong vùng Terai của các tổ chức xã hội dân sự và cơ quan chức năng của nhà nước Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã Nepal xây dựng chương trình đào tạo về môi trường phối hợp với Bộ giáo dục và đào tạo, giáo trình sẽ được giảng dạy ở trung tâm đào tạo quốc gia cho giáo viên

Những đối tác đã được hỗ trợ thành lập hiệp hội sử dụng rừng và tài nguyên thiên nhiên dưới nhiều hình thức khác nhau và những việc này có thể lồng ghép vào tài liệu chương trình trong môt phương pháp logic hơn cho thành lập hiệp hội để quản lý tài nguyên thiên nhiên có trách nhiệm, tạo thu nhập, và vận động chính sách hướng tới những người có trách nhiệm ở cấp quốc gia và cấp địa phương về tiếp cận công bằng với tài nguyên thiên nhiên Trọng tâm của chương trình được xây dựng trên kinh nghiệm và kết quả lan tỏa và sự bền vững về thể chế, kinh tế của các hiệp hội hiện tại Tại Nepal, kinh nghiệm kết nối nhóm sử dụng rừng cộng đồng với các thương gia địa phương về sản xuất dầu ăn có thể sử dụng để nhân rộng ý tưởng này tới những nhóm khác Kinh nghiệm đạt được trong thành lập các nhóm hợp tác quản lý rừng có thể sử dụng để vận động chính quyền hỗ trợ thành lập những nhóm như vậy trong tương lai Ở Việt Nam, chúng tôi thành lập các hiệp hội trồng rừng mang lại lợi ích cho hơn 3.000 hộ nông dân và có thể nhân rộng khi cấu trúc thể chế đủ mạnh và sự liên kết với thị trường được thiết lập Tại Mozambique, các nhóm quả lý rừng và tài nguyên thiên nhiên đã ứng phó với bối cảnh thay đổi nơi mà các nhà đầu tư nước ngoài có quyền sử dụng đất

và ngành công nghiệp khai thác có tên trên bản đồ, thực hiện vận động chính sách đối với những nhà chức trách có liên quan, đồng thời điều quan trọng là hỗ trợ các nhóm trong hoạt động tạo thu nhập

Lồng ghép hoạt động của Hiệp hội với đào tạo về quản lý tài nguyên thiên nhiên có trách nhiệm, là việc mà chúng ta đã đạt được kết quả rất tốt đến nay Công việc này đã được triển khai ở Nepal và đã cải thiện chất lượng giáo dục về môi trường đối với các trường riêng rẽ (trong cùng các nhóm mục tiêu nơi mà chúng tôi thành lập các hiệp hội) và thu được kết quả khi phối hợp với Bộ giáo dục trong việc thể chế hóa chương trình đào tạo trở thành chương trình đào tạo chính thức cho giáo viên Kinh nghiệm này đã được lan tả sang Mozambique cho dự án thí điểm hỗ trợ 40 trường và cũng có kết quả trong sự hợp tác chặt chẽ với phòng đào tạo của huyện trong việc xây dựng giáo trình cho địa phương về giáo dục môi trường (cũng trong cùng một khu vực nơi đối tác được hỗ trợ thành lập nhóm quản lý tài nguyên thiên nhiên và rừng) Tại Việt Nam, đào tạo về quản lý tài nguyên có trách nhiệm được thực hiện ở các trường cao đẳng liên kết trực tiếp với các nhóm lâm nghiệp chúng tôi đang hỗ trợ Do vậy, giáo trình được giảng dạy dựa trên kinh nghiệm thực tiễn

có được khi làm việc với hộ trồng rừng quy mô nhỏ

1.3 Hội thảo Cùng Chuẩn bị Chương trình

Ý tưởng của DFE là soạn đề xuất xin tài trợ cho Hội thảo chuẩn bị chương trình có sự tham gia của các bên

đã được phê duyệt vào tháng 9 năm 2014 Mỗi đối tác của DFE cử hai đại diện tham dự: Ama của

Mozambique, LSC cùng với thành viên hội đồng SUYUK của Nepal, WCN của Nepal, and Thêm Cây của Việt Nam đã tới Đan Mạch nơi diễn ra Hội thảo từ 24 – 28 tháng 11 năm 2014 tại Trường lâm nghiệp

Fredensborg Hội thảo là một phần quan trọng của tiến trình xin tài trợ nhằm đảm bảo tất cả các đối tác tham gia vào quá trình thực hiện chương trình Đây cũng là lần đầu tiên các đối tác có được cơ hội gặp mặt và trao đổi với nhau Trong hội thảo, chúng tôi đã bàn về những nội dung nền tảng của chương trình như sau:

 Mục đích của chương trình và các chỉ số (Khung logic của chương trình)

 Chiến lược vận động chính sách

 Khung giám sát đánh giá và tài liệu hướng dẫn

 Các thủ tục hành chính và tài chính thông thường1

1 Báo cáo cụ thể về tiến trình và kết quả của hội thảo sẽ được gửi đến theo yêu cầu

Trang 9

Trước khi hội thảo, mỗi đối tác phải chuẩn bị một số bài trình bày về các lĩnh vực liên quan mà chúng tôi đã thảo luận trong hội thảo Hội thảo bao gồm những phần thảo luận trực tiếp và tham gia chủ động của các đại biểu Ngoài những đối tác, DFE cũng đã mời một số nhân viên, thành viên hội đồng quản trị , và chuyên gia hiệp hội có liên hệ chặt chẽ với các dự án Vai trò của họ là tham gia tích cực vào những cuộc thảo luận với đối tác Mục tiêu là hỗ trợ hội thảo xây dựng chính sách, khung logic, và khung giám sát đánh giá chương trình, DFE thuê hai chuyên gia, Hanne Tornager, chuyên gia truyền thông, và Ole Stage, chuyên gia giám sát đánh giá Hội thảo đã thành công với sự có mặt của tất cả các đối tác cùng làm việc với nhau, tham gia và đóng góp bổ sung cho chương trình

Kinh nghiệm và kết quả như sau:

 Hội thảo rất hữu ích khi tập hợp tất cả các đối tác ở cùng một địa điểm Đây là lần đầu tiên tất cả chúng tôi có mặt cùng với nhau và những giá trị khi gặp mặt trực tiếp tại một địa điểm không thể so sánh với trao đổi qua email và Skype Những đối tác đã học hỏi nhau về công việc của họ, chia sẻ kinh nghiệm, và thảo luận về nội dung chương trình với đối tác khác Khi sử dụng thời gian cùng với nhau và xem xét những công việc tương tự, họ đã thực sự hứng thú hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm trong tương lai

 Những đối tác được gợi ý những ý tưởng về phân bổ ngân sách trong chương trình và đóng lại những dự

án đang thực hiện để tham gia vào chương trình Chúng tôi thống nhất sẽ tập trung vào thực hiện các dự

án hiện tại và rút ra dần, đồng thời giới thiệu thủ tục chương trình mới tới các đối tác

 Các đối tác đã cùng tham gia xây dựng mục tiêu chương trình và các chỉ số cũng như tích cực tham gia xác định trọng tâm của vận động chính sách khi tham gia chương trình, bao gồm phương pháp và công

cụ mà họ sẽ sử dụng Dựa trên những đóng góp của đối tác, chuyên gia giám sát đánh giá và chuyên gia truyền thông đã phác thảo tài liệu giám sát đánh giá và chiến lược vận động chính sách, chúng đã được hoàn thiện và điều chỉnh thông qua thảo luận của các đối tác

 Sau khi đối tác trình bày công việc của mình tới những đối tác khác trong ngày đầu tiên, chúng tôi đã ghi chép lại sứ mệnh, và tầm nhìn của các tổ chức Mặc dù cách trình bày có khác nhau, tất cả các đối tác đều có chung tầm nhìn và sứ mệnh tập trung vào góc độ dân chủ và quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững cho một xã hội tốt đẹp

Trang 10

 Được cùng nhau thảo luận về mục tiêu của chương trình và những chỉ số và được hỗ tợ bởi các chuyên gia là điều vô giá Các đối tác muốn được đạt được mục tiêu cụ thể là tập trung nâng cao năng lực và tạo

sự phối hợp giữa chính họ với nhau thông qua trao đổi kinh nghiệm Khi chúng tôi trao đổi về hai mục tiêu khác – Hiệp hội cho quản lý tài nguyên thiên nhiên và Giáo dục môi trường, làm sao để thể hiện tốt hơn sự hợp lực giữa hai mục tiêu 2, các đối tác đã đưa ra ý tưởng mở rộng mục tiêu giáo dục môi trường

về quản lý tài nguyên thiên nhiên Tất cả ba đối tác đều hoạt động trong lĩnh vực đào tạo - Mozambique

và Nepal ở cấp thấp hơn và ở VIệt Nam ở cấp cao hơn Ở Mozambique và Nepal, các đối tác làm việc vói nhiều trường học trong cùng địa bàn, thiết lập các nhóm sử dụng rừng của cộng đồng hoặc làm việc với những nhóm sử dụng rừng cộng đồng đang tồn tại (CFUGS), như trường hợp tại Nepal Hơn nữa, Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã Nepal làm về lĩnh vực đào tạo môi trường đã có những hoạt động vượt ra khỏi khu vực nơi chúng ta có hoạt động quản lý lưu vực nước của LSC Do vậy, chúng ta làm việc trong một phạm vi rộng lớn của cộng đồng, cùng với cả người lớn và trẻ em Ở Việt Nam, chúng ta làm việc với Trường cao đảng nông nghiệp, nơi đào tạo những thanh niên trẻ từ các nhóm công đồng mục tiêu, do vậy họ có thể trở về làm công tác khuyến nông lâm và tập huấn trong lĩnh vực lâm nghiệp trang trại Bài tập động não và thảo luận về mục tiêu, tạo cơ hội cho đối tác làm việc với nhau, tạo tâm lý làm chủ và hứng thú khi hợp tác với nhau trong tương lai

Kết quả chung của hội thảo là sự cam kết một cách rõ ràng để làm việc cùng nhau trong chương trình thỏa thuận và đệ trình lên CISU Sự tương tác giữa các đối tác là rất tích cực, mong muốn hợp tác và và gặp gỡ trong tương lai để trao đổi kinh nghiệm, ý tưởng, và bài học kinh nghiệm Chúng tôi đã đạt được thỏa thuận chung về mục tiêu và chỉ số của chương trình

2 Bối cảnh khu vực, quốc gia và ngành

2.1 Bối cảnh khu vực

Hơn 75% người nghèo ở Nam Á, Đông Nam Á, và khu vực Saharan Châu Phi sống tại vùng nông thôn Khu vực Nam Á có số người nghèo lớn nhất ở nông thôn, khu vực Saharan Châu Phi có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất ở nông thôn Hầu hết những người nghèo ở nông thông sống dựa vào nông nghiệp, đời sống hàng ngày và lâu dài của họ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên Rừng đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng nông thôn, cung cấp nhiên liệu, thức ăn gia súc, lương thực, vật liệu xây dựng và các sản phẩm khác cho đời sống hàng ngày Do vậy, đời sống cư dân nông thôn và nguồn tài nguyên thiên nhiên có mối quan hệ chặt chẽ Suy thoái môi trường, sử dụng bất hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên là mối quan tâm chính và đe dọa đời sống cộng đồng nông thôn Một bối cảnh phổ biến trong các khu vực đó là tình trạng phá rừng, tập quan nông nghiệp không phù hợp đã làm suy thoái nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên nhiên mà cộng đồng đang phụ thuộc vào Ngày nay, 13 triệu ha rừng bị mất hàng năm Sự gia tăng của đầu tư và kinh doanh quốc tế là nhân tố mới làm gia tăng tính cạnh tranh trong sử dụng đất và các nguồn tài nguyên Hơn nữa, áp lực của sự gia tăng dân số và biến đổi khí hậu càng làm tồi tệ thêm tình hình

2 Bevillingsudvalgsnotat: ”Synergien mellem EE og de to øvrige komponenter kan styrkes” (S.10) Xem thông tin chi tiết hơn ở Mục 5.4

Trang 11

Phần đông dân nghèo nông thôn là trẻ em và thanh niên trẻ Họ sẽ là những người trưởng thành và những nhà quản lý tài nguyên thiên nhiên trong tương lai Giới trẻ nông thôn thiếu nguồn tài nguyên và kỹ năng để cạnh tranh, họ bị hạn chế về cơ hội đào tạo để cung cấp những kỹ năng thực tiễn và hữu ích nâng cao đời sống Quản lý tài nguyên thiên nhiên khi giảng dạy ở các trường học thường mang nặng tính lý thuyết và ít

có nỗ lực trong việc phối hợp thông tin về sử dụng bền vững nguồn tài nguôn thiên nhiên trong giáo trình

Do vậy, nhận thức về tầm quan trọng của quản lý tài nguyên thiên nhiên và vấn đề môi trường nói chung tương đối thấp Đầu tư vào trẻ em và giới trẻ, bắt đầu ảnh hưởng họ bằng giáo dục thực tiễn tập trung vào môi trường là góc độ chủ yếu nâng cao đời sống người nghèo ở nông thôn

2.2 Tập trung theo vùng địa lý của chương trình

Sự tập trung theo vùng địa lý của chương trình là ở Mozambique, Nepal và Việt Nam, nơi mà chúng tôi đã

và đang thực hiện dự án tương ứng từ năm 2004, 1995, và 2000 Dưới đây là những khu vực tập trung địa lý của chương trình

Mozambique

Ở Mozambique, ama và DFE đang hoạt động tại một tỉnh phía Bắc của đất nước, Cabo Delgado Trong khi nhiều công việc sẽ tiếp tục được tiến hành tại các khu vực nông thôn với dân số phụ thuộc tài nguyên nông thôn, đặc biệt là ở các huyện Ancuabe và Montepuez, các hoạt động sẽ ngày càng nhiều ở trung tâm của tỉnh, Pemba, như hội đồng quản trị thành viên của đối tác sẽ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tuyên truyền vận động, giải quyết các vấn đề tại các tổ chức chính quyền tỉnh và các văn phòng khu vực tư nhân

Mozambique nằm ở khu vực Đông Nam châu Phi Đây là một trong những nước lớn nhất ở Nam Phi với diện tích 799,380km2 (tương đương 18 lần diện tích của Đan Mạch) Mozambique được chia thành 11 tỉnh, bao gồm 128 huyện

Dân số ước tính khoảng 24.692.144 trong đó có 70% dân số sống ở nông thôn Đất nước này được phân loại

là một quốc gia kém phá triển (LDC) do phải đối mặt với những thách thức về phát triển kinh tế và nhân lực Hơn một nửa dân số sống dưới mức nghèo khổ

Năng lực thể chế rất hạn chế và nạn tham nhũng vẫn tiếp diễn là một trong những thách thức chính cản trở sự tăng trưởng bền vững và công bằng Trong năm 2013, Mozambique xếp hạng 178 trong số 187 quốc gia về chỉ số phát triển con người (HDI)

Khoảng 70% dân số Mozambique sống ở khu vực nông thôn, phụ thuộc vào nông nghiệp và rừng để sinh tồn

Bởi vì nông nghiệp là hoạt động sinh kế chính, do vậy tiếp cận với đất đai là điều rất quan trọng với người dân Ngoài ra, việc sản xuất các sản phẩm có thể bán được từ tài nguyên rừng, chẳng hạn như than, thường là một trong những nguồn thu nhập quan trọng nhất đối với người dân nghèo sống ở nông thôn Kể từ khi kết thúc chiến tranh dân sự năm 1992, các hoạt động lâm nghiệp đã tăng lên đáng kể Hoạt động khai thác gỗ hiện nay để cung cấp cho thị trường gỗ Trung Quốc là mối đe dọa lớn đối với quản lý rừng bền vững và các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng

Ngoài ra, những khám phá gần đây của xăng, dầu, than đá, đá quý, than chì, và các khoáng sản khác đã thu hút đầu tư nước ngoài đến Mozambique Do đó, các ngành công nghiệp như khai thác mỏ, dầu khí, khai thác gỗ, nông nghiệp và du lịch đang ngày càng quan tâm đến việc tiếp cận tài sản kinh tế quan trọng nhất của các cộng đồng nông thôn "đất đai” – nơi mà họ sử dụng cho hoạt động nông nghiệp theo phương thức tự cung tự cấp, để phụ vụ hoạt động khai thác nhiên liệu (gỗ, than), và vật liệu xây dựng Chủ yếu nhờ vào các ngành công nghiệp khai khoáng (IN), nên nước này có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm khoảng 7% trong giai đoạn 2004-2013 Tuy nhiên, động lực tăng trưởng chính là đầu tư trực tiếp nước ngoài trong EI

Sự tăng trưởng nguồn vốn lớn này không được tạo ra nhiều việc làm và nhìn chung có tác động hạn chế về giảm nghèo

Trang 12

Cabo Delgado

Tỉnh Cabo Delgado có diện tích 82.625 km2, khoảng hai lần diện tích Đan Mạch Tỉnh này nằm ở phía đông bắc của Mozambique, với 425 km bờ biển chạy dọc theo Ấn Độ Dương Mức độ nghèo đói cao hơn mức trung bình cả nước (63% so với 54%) và năng lực thể chế chính quyền rất yếu kém

Cabo Delgado có dân số khoảng 1,6 triệu người và được chia thành 16 huyện và bốn thành phố Nền kinh tế của tỉnh từ trước đến nay dựa vào nông nghiệp, chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp, cũng như đánh bắt thủy sản Nông nghiệp đến nay vẫn là yếu tố chính đóng góp vào GDP của tỉnh Lâm nghiệp thương mại và

du lịch là những lĩnh vực khác đang được mở rộng Là nước lớn thứ 6 trong xuất khẩu gỗ với 90% xuất sang Trung Quốc Nhu cầu đối với gỗ của Trung Quốc là rất cao dẫn đến các khu rừng quản lý không được bền vững Mặc dù có lệnh cấm xuất khẩu đối với gỗ tròn có giá trị cao, hoạt động bất hợp pháp được cho là rất lớn và cản trở việc tạo gia giá trị gia tăng cho quốc gia Chương trình sẽ tập trung vào hai huyện trong Cabo Delgado: Ancuabe và Montepuez

Ancuabe

Huyện Ancuabe có diện tích 4.836 km2 với dân số năm 2005 là 109.792 người Nông nghiệp là nguồn sống chính của hầu như toàn bộ dân số Có một vài hoạt đông nông nghiệp thương mại và bông là một trong những loại cây trồng đã tạo ra thu nhập Người dân vào rừng lấy củi để đáp ứng nhu cầu năng lượng tại chỗ Người dân tham gia vào sản xuất than để bán, đây là hoạt động cung cấp nguồn sinh kế thay thế cần thiết nhưng đồng thời gây áp lực ngày càng tăng đối với tài nguyên rừng Huyện cũng là nơi có nhiều công ty khai thác gỗ và than chì

Montepuez

Huyện Montepuez có diện tích 15.871 km² với 185.635 người Một bức tranh tương tự Ancuabe, nông nghiệp là nguồn sống chính của hầu hết mọi người Các cây lương thực chính là ngô, đậu, lạc, gạo, kê, lúa miến, đậu đũa và khoai mì An ninh lương thực được hỗ trợ bởi chăn nuôi, săn bắn động vật hoang dã (hươu

và lợn rừng), và thu hoạch trái cây Tài nguyên rừng được khai thác với mục đích thương mại kết hợp với lấy củi để đáp ứng sử dụng năng lượng trong gia đình Ngoài ra tỉnh còn có trữ lượng lớn đá cẩm thạch mà đến thời gian gần đây đã được khai thác cho mục đích thương mại Ngoài ra, Montepuez cho rằng là nơi có trữ lượng đá hồng ngọc lớn nhất thế giới

Nepal

Tại Nepal, DFE và đối tác của mình, WCN đã tiến hành các hoạt động tại hơn 50 huyện, với trọng tâm là ở thung lũng Kathmandu, huyện Rasuwa và Chitwan DFE và đối tác khác ở Nepal, Samaj Utthan Yuva Kendra (SUYUK), thuộc Trung tâm kỹ năng sống (LSC), làm việc tại huyện Dhanusha ở vùng đồng bằng phía nam của Nepal dọc theo lưu vực của sông Jalaidh

Nepal nằm ở Nam Á, dân số ước tính là 30.986.975 với diện tích 141.181 km² (khoảng gấp ba lần diện tích Đan Mạch) Về mặt hành chính, Nepal được chia thành 5 khu vực phát triển, 75 huyện và 3915 Uỷ ban phát triển thôn, đó là những đơn vị nhỏ nhất của chính quyền địa phương

Nepal tự hào là một quốc gia đa dạng sắc tộc với các bộ lạc và một di sản văn hóa phức tạp, nơi mà hệ thống giai cấp chiếm phổ biến Thật không may, một tỷ lệ lớn dân số bị phân biệt đối xử bỏ ra ngoài xã hội, chính trị và kinh tế Một số các nhóm bị ảnh hưởng nhất là các Dalits (tiện dân), phụ nữ và trẻ em gái Đất nước bị tham nhũng và bất ổn chính trị Kể từ sự tan rã của chế độ quân chủ trong năm 2008, cả nước đã được điều chỉnh bởi các chính phủ tạm quyền khác nhau đã không thể quản lý để lập lên hiến pháp dân chủ mới cho đất nước

Trang 13

Nepal được xếp thứ 145, theo UNDP, năm 2013 về HDI, là nước có chỉ số phát triển con người thấp 84% người dân sống ở khu vực nông thôn, nông nghiệp là trụ cột chính của nền kinh tế, cung cấp hơn lương thực cho 70% dân số và chiếm 39% GDP Người nghèo ở nông thôn chiếm khoảng 35% Rừng đặc biệt quan trọng đối với các cộng đồng nông thôn, chúng là nguồn chính cung cấp gỗ nhiên liệu cho nhu cầu năng lượng gia dụng và vật liệu xây dựng Rừng cũng cung cấp thức ăn cho động vật và lâm sản ngoài gỗ, như một phương thức sinh kế thay thế

Nepal-wide outreach

Với địa hình đa dạng của Nepal, chiến lược dự án đào tạo môi trường của chúng tôi trước kia đã được sử dụng một chiếc xe buýt di động để tới được cả ba khu vực địa lý của Nepal Khu vực đầu tiên, Terai, đồng bằng màu mỡ ở phía nam, đông dân cư, là môi trường sống của các loài động vật hoang dã nguy cấp như tê giác và hổ Vùng sườn đồi, đó là là nơi các thảm họa môi trường ngày càng gia tăng do phá rừng và thâm canh Vùng thứ ba là vùng núi ở phía bắc, địa hình hiểm trở và các điều kiện môi trường khó khăn Một chủ

đề cốt lõi là hành vi, thái độ của người dân sống trong các khu đồi có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường hạ

du Với cách làm của chúng tôi, thông qua các hoạt động tiếp cận cộng đồng tại hơn 50 huyện của Nepal, chúng tôi có được kinh nghiệm đối với điều kiện môi trường địa phương ở cả ba vùng địa lý Tuy nhiên, chúng tôi đã tập trung sâu hơn vào thung lũng Kathmandu, ở vùng sườn đồi, Rasuwa, ở vùng núi, và Chitwan, trong vùng Terai

Kathmandu Valley

Thung lũng Kathmandu bao gồm ba huyện, Kathmandu, Lalitpur, và Bhaktapur, với tổng diện tích 899 km² Dân số của khu vực đô thị là khoảng 2,5 triệu người Mặc dù nhân khẩu học rất đa dạng và có tính quốc tế, người dân bản địa của thung lũng, các Newars, chiếm phần lớn dân số Thung lũng là địa bàn kinh tế chính của Nepal vì nó là trung tâm hành chính, công nghiệp và du lịch, thu hút người di cư từ các vùng nông thôn, nơi nghèo đói đói và ít có lựa chọn cho sinh kế Thung lũng phải đối mặt với áp lực rất lớn từ qúa trình đô thị hóa nhanh chóng và không có kế hoạch Nơi đây từng có những nguồn tài nguyên rừng phong phú, nhưng hiện nay môi trường sống tự nhiên đang mất đi đáng kể Ngày nay, chỉ có khoảng 427 km² rừng vẫn tập trung ở các ngọn đồi xung quanh trong khi thung lũng ngày càng trở nên đông đúc hơn và phải đối mặt với những thách thức lớn về quản lý đất và tài nguyên thiên nhiên bền vững Gạo, lúa mì, ngô, rau, cũng như trái cây bao gồm chuối và cam được trồng ở thung lũng màu mỡ này, hỗ trợ đời sống của người dân sống trên các khu đồi Tuy nhiên, một diện tích đáng kể đất trồng trọt ở thung lũng đang bị đe dọa bởi quá trình đô thị hóa không theo kế hoạch và các phương pháp canh tác nông nghiệp không bền vững

Rasuwa

Rasuwa là một huyện có dân cư thưa thớt bao gồm cả những ngọn đồi có độ cao trung bình và khu vực miền núi của miền Trung Nepal Huyện có diện tích 1.544 km2 với dân số 43,300 người Tại khu vực miền núi phía Bắc, chủ yếu dân cư là thuộc các nhóm dân tộc Tamang trong khi các vùng đất thấp phía Nam bao gồm nhiều dân tộc khác nhau 65% diện tích của huyện được qui hoạch thành công viên quốc gia Langtang là một điểm thu hút du lịch lớn, có ảnh hưởng đến rất nhiều cơ hội kinh tế và sử dụng đất Trong khi chỉ có khoảng 6% diện tích đất canh tác hơn với 90% dân số tham gia vào nông nghiệp, trong đó có tới 60% không thể đáp ứng nhu cầu lương thực của gia đình họ Cơ hội việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp rất hạn chế Phần lớn dân số bị hạn chế về kinh tế và xã hội và không đáp ứng được nhu cầu cơ bản

Trang 14

Chitwan

Chitwan có diện tích 2.218 km2, nằm trong khu vực Tarai ở phía nam miền trung Nepal Dân số năm 2011 là 579.984 người Chitwan từng là một huyện có mật độ rừng rất cao và nơi sinh sống của một nhóm người bản địa, người Tharus, họ sống trong rừng, gần sông và canh tác nương rẫy Loại trừ được bệnh sốt rét đã mang lại những thay đổi lớn trong việc sử dụng đất ở Chitwan Một diện tích rừng rộng lớn đã bị phá bỏ để mở rộng nông nghiệp, mở ra khu vực để giải quyết nhu cầu cho những người ở vùng sườn đồi ở Nepal Ngày nay, hầu hết đất đai ở Chitwan là nông nghiệp, lúa là cây trồng quan trọng nhất Ngoài ra còn có ngô, lúa mì, rau cải xanh Vườn quốc gia Chitwan được thành lập với nỗ lực để bảo tồn các loài động vật hoang dã, đặc biệt là tê giác và hổ Đó là một điểm thu hút khách du lịch rất lớn Những người dân sống trong vùng đệm đã xung đột với các loài động vật hoang dã do chúng phá hoại mùa màng của họ và giết chết gia súc của người dân Một vấn đề khác đó là họ bị đã hạn chế quyền tiếp cận tài nguyên rừng do công tác bảo tồn của vườn quốc gia Tồn tại một khoảng cách lớn giữa nhu cầu của nhân dân đối với tài nguyên rừng và quyền tiếp cận tài nguyên của họ Nghèo đói, thất nghiệp và tài nguyên thiên nhiên suy giảm là những vấn đề lớn ở Chitwan

Dhanusha

Huyện Dhanusha nằm ở phía nam miền trung Nepal vùng đất nông nghiệp với cư dân đông đúc ở Terai Toàn huyện có dân số 654.777 người với diện tích 1180 km² Vơi 50% dân số đang tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp Các ngành chính trong nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp đóng góp hơn 35% tổng GDP huyện Tuy nhiên, nền kinh tế nông thôn trong khu vực còn yếu và không tạo ra sinh kế bền vững cho người dân Việc di cư theo mùa vụ đến Ấn Độ và các quốc gia khác ở vùng Vịnh và Nam Á diễn ra thường xuyên Trong nền kinh tế nghèo nàn là đặc trưng của lưu vực Jalaidh, có sự bất bình đẳng đáng kể về thu nhập, tiếp cận với các nguồn tài nguyên, và giáo dục Tỷ lệ biết chữ là 59% ở nam và 36% ở nữ, dưới mức trung bình của quốc gia Thiệt thòi nhất là Dalits, những người không có đất, bị xã hội loại bỏ và làm việc với một mức lương rất thấp Dhanusha là nơi phức hợp về dân tộc và văn hóa, nơi mà hệ thống phân cấp

đã chính thức bị bãi bỏ nhưng vẫn phát triển mạnh ở đây

Việt Nam

Tại Việt Nam, vùng tập trung cuả chúng tôi là cộng đồng vùng cao các tỉnh phía bắc Việt Nam Hòa Bình và

Hà Tĩnh là những tỉnh vũng xa với tỉ lệ cao người nghèo là người dân tộc thiểu số DFE cũng hợp tác với Trường Cao đẳng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Bộ (NVCARD), nằm ở Thị trấn Xuân Mai, vùng ven Hà Nội

Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nằm ở Đông nam á Diện tích 331,210 km² (gấp khoảng 7 lần Denmark), từ Bắc tới nam dài 1650 km và dân số là 93,421,835 người Một trong những nước có nhiều đồi núi của Đông Nam Á và gần ¾ diện tích quốc gia là đồi núi, cao nguyên hoặc núi cao Quốc gia được chia thành 58 tỉnh và 5 thành phố lớn

Mặc dù Việt Nam được xếp thứ 121 về chỉ số phát triển con ngừời (HDI), nó vấn tiếp tục phát triển trong vòng 25 năm qua Cải cách kinh tế, xã hội và chính trị đã chuyển đổi đất nước từ một nước nghèo nhất trên thế giới trở thành nước có thu nhập trung bình thấp Từ tỷ lệ nghèo đói trên 60% những năm 90, ngày nay giảm xuống còn dưới 10% mặc dù vẫn không đồng đều Giữa những năm 1990 và 2008, tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm là 7,4% Ngành nông nghiệp ước tính khoảng 19% GDP

Tại Việt Nam, 90% người nghèo hay 70% dân số sống ở nông thôn Phần lớn người dân tộc thiểu số sống ở miền núi phía bắc là phần nghèo nhất của đất nước, họ sống phụ thuộc vào rừng và nông nghiệp Sự gia tăng dân số nhanh chóng, khai thác vượt quá khả năng giới hạn qcủa hệ thống nông lâm nghiệp truyền thống dẫn tới hậu quả là tình trạng suy thoái môi trường diễn ra tràn lan Áp lực lên tài nguyên đất cũng gia tăng vì sự cạnh tranh lợi ích trong sử dụng đất chẳng hạn như khai thác thương mại, khai khoáng và xây dựng Báo cáo

về mất rừng, suy thoái rừng và năng suất nông nghiệp thấp đã ngày càng trở nên phổ biến và nhiều hộ nông dân đối mặt với thiếu lương thực, đói nghèo, và hạn chế về kinh tế xã hội và suy thoái môi trường

Trang 15

Tỉnh Hòa Bình

Hòa Bình nằm ở vùng Tây Bắc của Việt Nam với diện tích 4,662 km² và dân số ước tính khoảng 800,000 người Phần đông dân số là người dân tộc thiểu số, bao gồm Mường, Kinh chiếm trên 70% dân số Người dân sống ở vùng núi phía Bắc tỉnh Hòa Bình vẫn còn là một vùng rất nghèo của Việt Nam với điều kiện sống rất thấp thậm chí theo tiêu chuẩn của Việt Nam GDP bình quân đầu người ước khoảng $200, thấp hơn rất nhiều so với GDP quốc gia $1,911 Cộng đồng miền núi sống dựa vào nông nghiệp và rừng Mặc dù Việt Nam có nhiều tiến bộ trong phát triển, nông dân của Hòa Bình đối mặt với tình trạng suy thoái môi trường, đói, nghèo, và hạn chế về xã hội

Tỉnh Hà Tĩnh

Tương tự như Hòa Bình, Hà Tĩnh là một trong những tỉnh nghèo của Việt Nam Nằm ở phía bắc trung bộ với dân số 1,286,700 và diện tích 6,056 km² Thành phần dân số chính là người Kinh, có tới 89% dân số sống ở nông thôn cao hơn mức trung bình quốc gia là 74% Đất canh tác và đất rừng lần lượt chiếm 43% và 56% Nông lâm kết hợp là một hoạt động sinh kế chính, chiếm tới 15% trong giai đoạn 2001 – 2006 Rừng trồng diện tích ngày càng tăng GDP bình quân đầu người khoảng $420 và nông lâm, thủy sản chiếm 36% GDP Cộng đồng nông thôn ở Hà Tĩnh do vậy phụ thuộc lớn vào điều kiện khí hậu và môi trường cho đời sống của

vệ các cộng đồng nông thôn bằng cách cho họ quyền sử dụng đất theo phong tục, để thúc đẩy một hệ thống phân bổ đất đai minh bạch, và để tạo ra môi trường thuận lợi cho đầu tư vào các khu vực nông thôn và kích thích phát triển cộng đồng với lợi ích chung cho tất cả các bên liên quan Luật yêu cầu tham vấn cộng đồng diễn ra khi các nhà đầu tư quan tâm trong việc tiếp cận đất đai của cộng đồng Về lý thuyết, tham vấn cộng đồng được xem như một công cụ thông qua đó các cộng đồng địa phương có thể thương lượng các lợi ích dự

án của họ, bao gồm cả các cơ hội việc làm và lợi ích xã hội khác Công cụ pháp lý để quản trị tài nguyên rừng là Luật Lâm nghiệp và động vật hoang dã (1999) Nó công nhận quyền theo phong tục để tài nguyên rừng phục vụ cho mục đích tự cung tự cấp Ngoài ra, nó giới thiệu việc chuyển giao rừng như là một hệ thống quản lý rừng bền vững Trong cách đền bù cho cộng đồng về thiệt hại của họ đối với việc tiếp cận đất đai rừng, luật dự kiến cộng đồng được bù đắp bằng ‘20% doanh thu' cho sự mất mát của họ từ các đơn vị, công ty, ví dụ, các công ty khai thác gỗ Ý tưởng hàm chứa đằng sau luật pháp là để đảm bảo rằng các thành viên cộng đồng sẽ thu được lợi ích trực tiếp, hữu hình, và ngay lập tức từ việc khai thác các nguồn tài nguyên rừng Nhưng cũng đánh thức sự quan tâm và sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn các nguồn tài nguyên gỗ và trong đấu tranh chống các hoạt động khai thác bất hợp pháp, thúc đẩy tổ chức cộng đồng, quản

lý có sự tham gia của tài nguyên rừng, và thể hiện triển vọng cho quan hệ đối tác và đàm phán với các nhà khai thác rừng và các bên liên quan khác để giảm mức độ đói nghèo Trong khi các luật được đánh giá tốt trên giấy tờ, thì thách thức là việc thi hành và thực hiện pháp luật trên thực tế Hệ quả là tham vấn cộng đồng không được thực hiện đúng cách hoặc không làm gì cả, khai thác gỗ bất hợp pháp tràn lan, và không có bằng chứng của việc thi hành việc bồi thường doanh thu 20% Thực tế là các cộng đồng địa phương thường hạn chế kiến thức về pháp lý liên quan đến tài nguyên thiên nhiên và đất đai, hoặc họ đang ở trong thế yếu để thực thi các quyền hợp pháp của họ

Thiếu minh bạch có thể hạn chế các cá nhân và cộng đồng buộc các quan chức chính phủ và các công ty chịu trách nhiệm đầy đủ về hành động của họ Các nhà đầu tư tư nhân cũng phải đối mặt với nguy cơ bị thu hồi đất và bị cáo buộc sử dụng đất truyền thống của cộng đồng địa phương Những hạn chế này là phản tác dụng đối với các thỏa thuận có lợi giữa các nhà đầu tư tư nhân, cộng đồng và chính phủ Hiện đang có một nhu cầu rõ ràng về xây dựng năng lực địa phương liên quan đến quyền lợi hợp pháp đối với đất đai và quản lý tốt

Trang 16

tài nguyên rừng, tăng cường đối thoại, tạo sân chơi bình đẳng giữa các cộng đồng, chính phủ và các nhà đầu

tư tư nhân

Nepal

Từ những năm bảy mươi, chính phủ Nepal đã hỗ trợ các mô hình quản lý rừng tại công đồng và đề ra một số luật và chính sách kèm theo Luật Hành động Rừng năm 1993 là bộ luật quan trọng nhất, được áp dụng cho các khu vực rừng quốc gia và các nhóm khai thác địa phương (CFUGs) nhằm bảo vệ, quản lý và khai thác rừng Sở Quản lý Rừng cấp Quận (DFO) phê duyệt kế hoạch vận hành CFUGs và khi đã đăng ký, họ được quyền hoạt động như những tổ chức tự quản lý và họ có thể trồng, khai thác, và bán các sản phẩm từ rừng như đã đề ra trong kế hoạch vận hành (OP) Hiện nay, khoảng 25% diện tích rừng của quốc gia đang được quản lý bởi hơn 14,000 CFUGs Mặc dù lâm nghiệp cộng đồng chủ yếu được coi là một câu chuyện thành công, vẫn còn tồn tại một số phê phán rằng CFUGs thường không cho phép những nhóm biệt lập và yếu kém tham gia, hoặc cơ chế điều hành truyền thống vẫn chiếm ưu thế trong các nhóm

Cho thuê rừng cũng là mô ̣t phương án dự phòng dành cho những hô ̣ gia đı̀nh nghèo ở nông thôn có thể áp

du ̣ng đối với chı́nh quyền nhằm ta ̣o cơ hô ̣i cho những vùng đất cằn cỗi, nơi ho ̣ có thể nâng cao sinh kế và cải thiê ̣n hê ̣ sinh thái Tuy nhiên, vẫn chưa có mô ̣t cơ chế hợp pháp nào để thiết lâ ̣p những nhóm cho thuê rừng mà hiê ̣n ta ̣i vẫn chı̉ đang chú tro ̣ng vào CFGUs và các ban ngành Viê ̣c nâng cao năng lực cho các thành viên cho thuê rừng rất quan tro ̣ng vı̀ các nhóm nghèo nhất thường yếu kém về năng lực

Năm 2000, bộ Bảo tồn Rừng và Đất đai Nepal (MoFSC) đã xây dựng mô ̣t chı́nh sách cho mô ̣t mô hı̀nh khác về Phối hơ ̣p Quản lý Rừng (CFM), đây là mô ̣t bước tiến mới về quản lý rừng quốc gia kết hợp với chı́nh quyền và cô ̣ng đồng đi ̣a phương, bao gồm cả những người khai thác ở xa Nó chủ yếu được thực hiê ̣n ở khu vực Terai và ý tưởng là sẽ có mô ̣t cơ chế chia sẻ lợi nhuâ ̣n giữa chı́nh quyền và những người khai thác rừng Tuy nhiên, cơ chế chia sẻ lợi nhuâ ̣n không phải lúc nào cũng rõ ràng, chı́nh quyền cấp huyê ̣n thường chi phối viê ̣c ra quyết đi ̣nh, và tồn ta ̣i mô ̣t thách thức về thiết lâ ̣p mô ̣t cơ chế phù hợp cho người khai thác ở xa và cho viê ̣c tham gia của những nhóm người chi ̣u thiê ̣t thòi

Sở Bảo tồn Đất và Quản lý Đường Phân Nước Nepal (DSCWM) đã và đang giới thiê ̣u những Nhóm người Khai thác Rừng dựa vào Quản lý Lưu vực nước nhằm giảm thiểu sự thoái hóa đất xuất phát từ viê ̣c chă ̣t phá rừng đồi Tuy nhiên, chưa có pháp chế nào để xác đi ̣nh những nhóm người sử du ̣ng lưu vực nước, và ho ̣ chủ yếu chi ̣u trách nhiê ̣m như những tổ chức phi chı́nh phủ Cũng chı́nh bởi viê ̣c quản lý lưu vực nước có liên quan đến tất cả các hoa ̣t đô ̣ng quản lý tài nguyên thiên nhiên, như lâm nghiê ̣p, nông nghiê ̣p, chăn thả gia súc và chăn nuôi, nên viê ̣c phối kết hợp giữa các ban ngành khác nhau la ̣i là mô ̣t thách thức LSC là mô ̣t cơ chế đươ ̣c đưa vào nhằm quản lý lưu vực nước Jalaidh ở Dhanusha thuô ̣c đi ̣a bàn chương trı̀nh của chúng ta Đã có những khung chương trı̀nh cố đi ̣nh về quản lý rừng và tài nguyên thiên nhiên theo cách phân quyền và dựa vào cô ̣ng đồng; tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều viê ̣c cần làm để điều hành có trách nhiê ̣m, điều phối giữa các ban ngành khác nhau, và nâng cao năng lực cô ̣ng đồng nhằm tâ ̣n du ̣ng và quản lý trách nhiê ̣m các nguồn tài nguyên

Việt Nam

Chính phủ Việt Nam coi rừng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng Theo định nghĩa của Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng năm 1991, rừng được phân thành ba loại: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất Vai trò chính của rừng đặc dụng là bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ di tích lịch sử và văn hóa Rừng phòng hộ có mục đích để bảo vệ nguồn nước, đất, chống xói mòn và giảm nhẹ thiên tai Rừng sản xuất với mục đích cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ, ngoài ra còn bảo vệ môi trường Năm 2004, Việt Nam có 1,9 triệu

ha rừng đặc dụng, 5,9 triệu ha rừng phòng hộ và 4,4 triệu ha rừng sản xuất

Mục tiêu chiến lược cho lâm nghiệp của Việt Nam theo các Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 2011-2020 (SEDP), chiến lược Tăng trưởng Xanh Quốc gia 2011-20 và chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Quốc gia 2006-2020 là tăng độ che phủ rừng từ 12,3 triệu ha trong 2005 lên 16,2 triệu ha bằng cách bảo vệ 9,6 triệu ha rừng tự nhiên và tăng diện tích rừng sản xuất chủ yếu là trồng cây trên khu vực "đất trống" và khuyến khích

tổ chức, cá nhân đầu tư vào sản xuất lâm nghiệp

Trang 17

Toàn bộ đất đai ở Việt Nam thuộc sở hữu của Nhà nước Tuy nhiên, từ năm 1988 đất đã được giao cho các

hộ gia đình cá nhân sử dụng Trong khi quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp vùng đồng bằng được thực hiện tương đối dễ dàng, thì việc sử dụng đất hoặc canh tác trên diện tích đất hiện tại hoặc trước đây có rừng (thuộc địa bàn chương trình) lại là vấn đề tương đối phức tạp Người dân vẫn còn hạn chế khi tiếp cận kiến thức và thông tin về việc trồng và quản lý rừng, giá trị gỗ và thị trường Vì vậy, trong khi quyền sử dụng đất của cá nhân rõ ràng đã làm tăng sản lượng nông nghiệp và nâng cao thu nhập, ngành lâm nghiệp Việt vẫn đang phải xây dựng những mô hình khả thi để khuyến khích các hộ gia đình đầu tư vào lâm nghiệp

để bảo vệ đất và thêm thu nhập

Gần đây (tháng 7 năm 2013), chính sách cải cách ngành lâm nghiệp có đưa ra mục đích tăng gấp đôi số lượng các hộ lâm nghiệp trang trại vào năm 2020 so với năm 2011 Ngoài ra, cuộc cải cách này cũng hỗ trợ phát triển hợp tác giữa các hộ làm lâm nghiệp trang trại và làm số lượng hợp tác xã lâm nghiệp tăng ít nhất 100% Phương pháp hỗ trợ của chính phủ về quyền sử dụng đất nhằm khuyến khích phát triển lâm nghiệp trang trại rất phù hợp với mục tiêu của chương trình tại Việt Nam

2.4 Bối cảnh Khu vực – Giáo du ̣c về NRM

Mozambique

Gần mô ̣t nửa dân số Mozambique là trẻ em dưới 14 tuổi Năm 2008, tı̉ lê ̣ tuyển sinh là 81.3% và Mozambique sẽ có tiềm năng đa ̣t được Mu ̣c tiêu Phát triển Thiên Niên kı̉ số 2 (MDGs), đó là tới năm 2015, 100% trẻ em trong lứa tuổi đi ho ̣c được cắp sách đến trường Trong khi số trẻ em được đi ho ̣c đang tăng trong vài thâ ̣p kı̉ gần đây, thı̀ công tác nâng cao chất lượng giáo du ̣c la ̣i là thách thức lớn Cùng với đó, viê ̣c đào ta ̣o và củng cố kỹ năng liên quan đến chuyên ngành cho sinh viên là ưu tiên hàng đầu (UN Mozambique 2008)

Ta ̣i Mozambique, rất khó để thu thâ ̣p dữ liê ̣u về viê ̣c thực hiê ̣n và tiến trı̀nh hành đô ̣ng quốc gia về giáo du ̣c môi trường Bộ Điều phối các Vấn đề Môi trường Mozambique (MICOA) cùng với các bô ̣ ngành khác chi ̣u trách nhiê ̣m nâng cao nhâ ̣n thức về các vấn đề môi trường và đang đa ̣i diê ̣n cho đất nước trên ma ̣ng lưới khu vực về giáo du ̣c môi trường dưới sự quản lý của Hô ̣i đồng Phát triển Nam Phi (SADC) Bô ̣ này cũng chi ̣u trách nhiê ̣m tổ chức lễ kı̉ niê ̣m Ngày Môi trường Quốc tế 5/6 hàng năm, và cũng là đơn vi ̣ tiên phong trong các Câu la ̣c bô ̣ Môi trường (EC) được khắp các tı̉nh thành biết đến

Thêm vào đó, năm 2009, chı́nh phủ phát đô ̣ng chiến di ̣ch toàn quốc mang tên “Vı̀ mô ̣t Mozambique Xanh,

Đe ̣p và Thi ̣nh vượng” và “Mỗi Trẻ em Mô ̣t Cây” Những hoa ̣t đô ̣ng ban đầu như trồng cây ta ̣i khu vực rừng của đi ̣a phương và mỗi ho ̣c sinh trồng ı́t nhất mô ̣t cây ăn quả mỗi năm Những chương trı̀nh này được lâ ̣p ra không đơn thuần là để ta ̣o thêm thêm nhiều hoa quả, gỗ và vâ ̣t liê ̣u xây dựng cho đất nước, mà nhằm mu ̣c đı́ch ta ̣o nên sự gắn kết giữa người dân với thiên nhiên và môi trường tự nhiên Tuy nhiên, có mô ̣t chi tiết nhỏ trong những chiến di ̣ch này Văn phòng cấp Huyê ̣n về Hoa ̣t đô ̣ng Môi trường ta ̣i Cabo Delgado biết rõ về những chiến di ̣ch này nhưng có rất ı́t đô ̣ng thái thực hiê ̣n nó

Trang 18

Nepal

35% dân số Nepal là trẻ em dưới 14 tuổi Thực tra ̣ng tuyển sinh ở Nepal đã được cải thiê ̣n trong vòng hai thâ ̣p kı̉ trở la ̣i đây, đất nước có vẻ có tiềm năng đa ̣t được MDG số 2 Rất nhiều hoa ̣t đô ̣ng đã được thực hiê ̣n nhằm đa ̣t tới bı̀nh đẳng giới Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều viê ̣c cần làm để nâng cao chất lượng giáo du ̣c và giới thiê ̣u những sáng kiến mới giải quyết vấn na ̣n tu ̣t hâ ̣u và sao chép Chı́nh phủ đưa ra Chı́nh sách Môi trường và Kế hoa ̣ch Hành đô ̣ng Nepal 1993 (NEPAP 1993) xây dựng những hı̀nh mẫu công dân có trách nhiê ̣m bằng cách thực hiê ̣n các chương trı̀nh giáo du ̣c môi trường ngay từ lớp 1 Mă ̣c dù nhiều phương pháp đã được tiên phong thực hiê ̣n bởi nhiều tổ chức chı́nh phủ và phi chı́nh phủ khác nhau nhằm tăng cường về giáo du ̣c môi trường, kết quả chung vẫn chưa tốt lắm Chưa có nhiều sự tuyên truyền về giáo du ̣c môi trường trong giáo án hiê ̣n hành ta ̣i các trường cấp tiểu ho ̣c và trung ho ̣c cơ sở Thêm vào đó, các chương trı̀nh giáo

du ̣c môi trường hiê ̣n hành chı̉ có xu hướng đưa ra những kiến thức bi ̣ đô ̣ng, mà không tâ ̣p trung vào các kỹ năng và thái đô ̣, và vı̀ thế đã không thành công trong viê ̣c thiết lâ ̣p quyền sở hữu và trao quyền hành đô ̣ng cho ho ̣c sinh

Việt Nam

Luật giáo dục quốc gia từ năm 1998 khẳng định nguyên tắc giáo dục quốc gia bao gồm mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học Về mặt thể chế, giáo dục nông và lâm nghiệp được giảng dạy ở các trường dạy nghề, kỹ thuật, cao đẳng và đại học thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (MARD) MARD có các đơn vị trực thuộc cấp dước là Sở NN&PTNT (DARD), Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (DAO) có chức năng cung cấp dịch vụ khuyến nông lâm hỗ trợ chuyển giao công nghệ, kiến thức giữa các viện nghiên cứu với nông dân Trung tâm khuyến lâm đóng vai trò chính trong phát triển tài liệu khuyến lâm Tuy nhiên hiện nay mức độ bao phủ của dịch vụ khuyến nông lâm còn hạn chế, chỉ tập trung vào các chương trình quốc gia và khu vực với những cây trồng thông thường và các chương trình trồng rừng qui mô lớn và bảo vệ rừng tự nhiên hơn là nông lâm kết hợp hay lâm nghiệp trang trại (lâm nghiệp quy

mô nhỏ) Nhìn chung, khuyến lâm còn yếu hơn khuyến nông, và trên thực tế trung tâm khuyến lâm của huyện không có cán bộ khuyến lâm hỗ trợ cho những người trồng rừng qui mô nhỏ khi cần thiết

3 Mục tiêu Chương trình

Chương trình “Nâng cao năng lực cộng đồng thông qua quản lý tài nguyên thiên nhiên theo hình thức dân chủ” của DFE nhằm mục đích góp phần nâng cao nhận thức về quyền có cuộc sống đầy đủ của người dân trong cộng đồng nông thôn có sinh kế dựa vào rừng và tài nguyên thiên nhiên

3.1 Mục tiêu Phát triển

Các cộng đồng địa phương, bao gồm cả trường học cho trẻ em, có sự hiểu biết sâu sắc về tài nguyên thiên nhiên, có sự tiếp cận đầy đủ và có những kỹ năng để hợp tác có trách nhiệm, giữ gìn và quản lý các tài nguyên, góp phần xóa đói giảm nghèo chung cũng như duy trì kinh tế, xã hội và hệ sinh thái dưới sự hỗ trợ của (các) khung chính sách có liên quan

Các chỉ số:

1 Cải thiện/ bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên trong những khu vực mục tiêu

2 Cộng đồng thuộc địa bàn chương trình đang thực hành (và hợp tác khi cần) quản lý có trách nhiệm các tài nguyên thiên nhiên, có tiếp cận và có thu nhập bền vững từ những nguồn tài nguyên thiên nhiên

3 Chính quyền địa phương và trung ương có hành động tích cực liên quan đến những yêu cầu của đối tác chương trình về quản lý có trách nhiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như có nhận thức đầy đủ về chúng

3.2 Những Mục tiêu Trước mắt và các Chỉ số

Mục tiêu trước mắt 1: Các đối tác là các tổ chức xã hội dân sự tăng cường có năng lực tổ chức, chuyên môn

và tuyên truyền về quản lý có trách nhiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tạo nên sự đồng vận chặt chẽ lẫn nhau

Trang 19

Các chỉ số:

 Các đối tác tự đánh giá một vài mức độ liên quan tới năng lực của mình: hành chính và nhân sự; quản

lý tài chính (các đối tác đang thực hành sổ sách tài chính theo mô hình đã phê duyệt); lập kế hoạch và thực hiện; cán bộ chương trình có những kỹ năng chuyên môn có liên quan đáp ứng được yêu cầu của chương trình; các kỹ năng truyền thông; tiếp cận tới các đối tượng hưởng lợi có liên quan v.v.; giám sát

về chất lượng và thời gian, báo cáo; xác định và huy động những nguồn ngân sách khách nhau

 Các đối tác và FDE cùng nhau rà soát một vài chỉ số liên quan đến sự đồng vận chẳng hạn như sự thành lập quan hệ đối tác hỗ trợ lẫn nhau; trao đổi kinh nghiệm, ý tưởng và bài học kinh nghiệm; nhân rộng cảm hứng; giữ liên lạc thường xuyên

Mục tiêu trước mắt 2: Những nhóm mục tiêu tổ chức các hiệp hội những người khai thác rừng và tài nguyên thiên nhiên có những kỹ năng cung cấp những dịch vụ nâng cao về quản lý có trách nhiệm tài

nguyên thiên nhiên, nâng cao thu nhập, và tuyên truyền tới những nhà chức trách địa phương và trung ương nhận thức đầy đủ về tài nguyên thiên nhiên

Các chỉ số:

 Các đối tác rà soát một vài chỉ số về năng lực: khả năng tổ chức, dịch vụ nâng cao, tầm ảnh hưởng của vận động và chính sách, tính bền vững về tài chính của các hiệp hội khai thác

 Giám sát có sự tham gia về lợi ích của các dịch vụ (kỹ thuật và truyền thông) cung cấp từ các tổ chức

Mục tiêu trước mắt 3: Đưa giáo dục tập trung về quản lý hiệu quả tài nguyên thiên nhiên vào trong hệ thống giáo dục chính quy được thực hiện/ giới thiệu, nhân rộng và tăng cường ở cấp địa phương và trung ương

Các chỉ số:

 Số trường học/ cao đẳng triển khai giáo trình mới tập trung vào quản lý tài nguyên thiên nhiên:

Việt Nam: Ít nhất bốn trường đại học đưa giáo trình lâm nghiệp quy mô nhỏ vào giảng dạy

Nepal: Ít nhất 50 trường triển khai tích cực giáo trình địa phương và 10 quận/huyện xây dựng mới giáo trình địa phương 3200 trường học tiếp cận các khóa học mới cấp trung ương về giáo dục môi trường trong giai đoạn đầu của chương trình

Mozambique: Ít nhất 80 trường tại hai quận/huyện triển khai bộ giáo trình mới

 Số lượng sinh viên đại học đăng ký các khóa học về quản lý tài nguyên thiên nhiên/ các điều tra độ hài lòng của sinh viên về giáo dục tương tác về môi trường:

Vietnam: Ít nhất 300 sinh viên tốt nghiệp các khóa học về quản lý tài nguyên thiên nhiên

Nepal: Ít nhất 500 học viên được phỏng vấn thể hiện sự hài lòng về giáo trình giảng dạy mới

Mozambique: 500 học viên được phỏng vấn thể hiện sự hài lòng về giáo trình giảng dạy mới

 Số lượng giáo viên áp dụng và thực hành những phương pháp mới trong giảng dạy về quản lý tài nguyên thiên nhiên và giáo dục tương tác về môi trường:

Vietnam: Ít nhất 8 giảng viên đại học được tập huấn về giáo trình mới

Nepal: Ít nhất 800 giảng viên ở 5 quận/ huyện được tập huấn về chương trình đào tạo cấp quốc gia

Mozambique: Ít nhất 200 giảng viên được tập huấn về phương pháp mới trong giáo dục môi trường

Trang 20

 Chính quyền cấp địa phương và trung ương hành động tích cực liên quan đến những yêu cầu của đối tác chương trình về những thay đổi trong chất lượng giáo dục về quản lý tài nguyên thiên nhiên – hỗ trọ thông qua việc biên tập giáo trình và nhân rộng, bao gồm cả đầu tư vào phát hành sách và giáo trình

4 Chính quyền cấp địa phương và trung ương hành động tích cực liên quan đến những yêu cầu của đối tác chương trình về những thay đổi trong chất lượng giáo dục về quản lý tài nguyên thiên nhiên – hỗ trọ thông qua việc biên tập giáo trình và nhân rộng, bao gồm cả đầu tư vào phát hành sách và giáo trình

4 Chiến lược Tổng thể của Chương trình

Chiến lược của chương trình dựa trên Thuyết Thay đổi (ToC) được xây dựng với các đối tác trong cuộc họp chuẩn bị chương trình hợp nhất Thuyết Thay đổi đươ ̣c áp du ̣ng đầu tiên với các đối tác của DFE và các tổ chức xã hô ̣i dân sự ta ̣i đi ̣a phương Công việc của DFE là nâng cao năng lực các đối tác nhằm đạt được những mục tiêu của chương trình Ở đây, DFE cố gắng tác động những thay đổi lên các cơ quan đối tác bằng việc nâng cao năng lực trực tiếp để họ trở nên minh bạch, chính thống, chuyên nghiệp và là tiếng nói đại diện cho cộng đồng mục tiêu

Các đối tác lần lượt làm công việc huy động những nhóm mục tiêu bằng cách hướng dẫn họ trở thành những hiệp hội khai thác rừng và tài nguyên thiên nhiên độc lập và dân chủ, thông qua việc tạo lập những mạng lưới và hợp tác với các tổ chức khác, và làm việc cho hệ thống giáo dục chính quy ở mảng quản lý tài nguyên thiên nhiên Trong ToC của chúng ta có ba lĩnh vực hoạt động và kết quả chính mà các đối tác mong muốn đạt tới sự thay đổi hành vi trong các nhóm mục tiêu và các nhà chức trách:

1) Truyền thông; 2) Phát triển Kỹ năng; và 3) Nâng cao Nhận thức

Tác động cơ bản của công việc này là khiến những cộng đồng người dân đang sống dựa vào tài nguyên thiên nhiên có nhận thức đầy đủ và biết quản lý có trách nhiệm tài nguyên của mình, góp phần duy trì kinh tế, xã hội và hệ sinh thái DFE và các đối tác hướng đến những nhóm tác động giống nhau được mô tả trong chính sách xã hội dân sự của Danida: “những nhóm nghèo lạc hậu và biệt lập, là những người bị hạn chế trong việc hưởng những quyền lợi trực tiếp đến đời sống của họ.” (CS Policy 2014) Chúng ta cũng có thể thấy phụ nữ

và thanh niên đóng vai trò chính trong việc gây ảnh hưởng tới những thay đổi trong xã hội

Vì thế, khi giám sát, chương trình sẽ tập trung vào những thay đổi ở năng lực đối tác, những nhóm mục tiêu,

và những đối tượng hưởng lợi chủ chốt Chúng ta nhận ra rằng những thay đổi này là không giới hạn và chúng ta cần ý thức về sự phức tạp của các mối quan hệ giữa những bên liên quan Hiểu về những mối quan

hệ này sẽ là chìa khóa để điều chỉnh chiến lược hành động Trong khi tìm hiểu về mô hình ToC, chương trình vẫn dựa trên khung logic truyền thống và hữu hạn và những giám sát dựa vào kết quả Tuy nhiên chúng ta sẽ tập trung vào các chỉ số giúp ta đi đúng hướng hơn dựa vào những bài học kinh nghiệm, những chỉ số dựa vào sự thay đổi trong hành vi và trong quan hệ, và những chỉ số tìm kiếm thông tin từ các nhóm mục tiêu theo một cách cụ thể, nhờ đó chúng ta có cái nhìn nghiêm khắc vào công việc của mình và từ đó đưa ra những thay đổi cần thiết Điều này được mô tả kỹ hơn ở tài liệu Giám sát và Đánh giá

Trang 21

Dưới đây là bảng ToC của DFE và các đối tác:

Tiếp cận dựa trên Quyền Con người

Chương trình kết nối các hoạt động có liên quan đến tài nguyên thiên nhiên với khung quyền con người tiêu chuẩn, đặc biệt là, Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân Quyền khẳng định mọi người đều “có quyền hưởng một cuộc sống tương xứng với sức khỏe và hạnh phúc của mình và gia đình” Một “quyền có cuộc sống đầy đủ” phụ thuộc vào sự sẵn có của tài nguyên thiên nhiên Đồng nghĩa với việc chương trình được tập trung vào hai lĩnh vực chính: tiếp cận/ quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và giáo dục chính quy về quản lý tài nguyên thiên nhiên DFE đã có sự tiếp cận thực tế về việc sử dụng những quyền này nhằm đảm bảo kết quả rõ rệt cho các nhóm mục tiêu, bao gồm xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững Điều này có nghĩa là chúng ta làm việc với tình trạng thực tế và với những kỹ năng vững vàng đã trang bị cho các nhóm mục tiêu, vì thế họ thực sự có thể cải thiện sinh kế và hạnh phúc, bao gồm cả yêu cầu các nhà chức trách chịu trách nhiệm thông qua công tác tuyên truyền

CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO, HOẠT ĐỘNG, KẾT QUẢ

Mạng lưới với các tổ chức khác

Truyền thông – Đối tác và các nhóm mục tiêu xây dựng những

kỹ năng tuyên truyền về giáo dục quản lý tài nguyên thiên nhiên và tới các nhà chức trách về quản lý

có trách nhiệm và nhận thức đầy

đủ về tài nguyên thiên nhiên

Phát triển kỹ năng – Các nhóm mục tiêu xây dựng những kỹ năng

và hiểu biết vững vàng để xây dựng những kỹ năng mở rộng dịch vụ, quản lý có trách nhiệm

và giáo dục về tài nguyên thiên nhiên, nâng cao thu nhập

Nâng cao nhận thức – Các nhóm mục tiêu được nâng cao nhận thức thông qua chương trình giáo dục về quản lý tài nguyên thiên nhiên, mạng lưới, và xây dựng kỹ năng thực hành

KẾT QUẢ Thay đổi hành vi, mối quan hệ và sự tương tác

TÁC ĐỘNG Duy trì kinh tế, xã hội và hệ sinh thái

Trang 22

Cho đến khi quyền con người tiếp cận tới một chuẩn mực cao hơn, DFE và các đối tác vẫn đang tập trung chủ yếu vào chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương về luật pháp, và về trách nhiệm của chính quyền về 1) quyền đất đai và tài nguyên thiên nhiên 2) quyền giáo dục có chất lượng về quản lý tài nguyên thiên nhiên Trong giai đoạn đầu của chương trình, mục tiêu đạt được là kết nối được với các tổ chức xã hội, chính quyền và các thành phần tư nhân đặc việt là trong lĩnh vực quyền đất đai Chúng tôi đã làm được điều này ở Mozambique Trong trường hợp này, đối tác của chúng tôi ở Mozambique đã tạp ra được một mạng lưới và các đối tác làm việc tập trung vào các vấn đề liên quan tới luật đất đai thậm chí ở cấp quốc tế dưới các Điều khoản Hướng dẫn của Liên hợp Quốc về Kinh doanh và Quyền Con người Giống như chúng tôi đã từng làm trước đây, chúng tôi sẽ hỗ trợ các đối tác của mình trở thành một phần của mạng lưới quốc tế về giáo dục quản lý tài nguyên thiên nhiên, biến đối khí hậu, và các diễn đàn liên quan khác

Việc tiếp cận chương trình được hướng dẫn bởi một số hội nghị quốc tế, ví dụ như Báo cáo Bruntland về Tương lai Chung cùng với thỏa thuận Rio+20 về các Mục tiêu Phát triển Bền vững, tập trung vào cân bằng môi trường, kinh tế, xã hội Nó cũng được hướng dẫn bởi tài liệu Hướng dẫn Tình nguyện cho Cơ quan Thẩm quyền về Sở hữu Đất đai, Ngư trường và Rừng và Hội nghị Aarhus về Tiếp cận Thông tin, Tham gia của Cộng đồng vào việc Ra Quyết định và Tiếp cận với Luật phát về các Vấn đề Môi trường, là những công

cụ liên quan đến quyền con người và nhận thức đúng đắn về tài nguyên thiên nhiên Giới cũng là một mảng quan trọng cần cân nhắc khi triển khai hoạt động tiếp cận với tài nguyên thiên nhiên Hiệp định Quốc tế về quyền trong kinh tế, xã hội và văn hóa và Công ước về Giảm thiểu Kỳ thị Phụ nữ đã góp phần tạo bình đẳng nam nữ Ngoài ra, việc tiếp cận chương trình cũng dựa trên các Điều khoản Giao ước và Hướng dẫn về Kinh doanh và Quyền Con người, đưa ra những quy định liên quan tới trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người, cùng chịu trách nhiệm trong việc tôn trọng quyền con người, và tiến hành những biện pháp

hỗ trợ nạn nhân bị xâm hại Tập trung và biến đổi khí hậu cũng là một mảng quan trọng của chương trình này, có cùng hướng đi với Công ước Khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu Thêm vào đó, chúng ta được hướng dẫn bởi các quy tắc của UNESCOS về Giáo dục Phát triển Bền vững, đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng dạy và học về môi trường và cung cấp những công cụ cho các nước nhằm phối hợp đào tạo về môi trường trong các nỗ lực cải thiện môi trường

Các đối tác của DFE tham gia và nhiều hoạt động mạng lưới khác nhau với các tổ chức xã hội dân sự khác

và với chính quyền Ở Mozambique, đối tác của chúng tôi là thành viên lãnh đạo của FOCADE, một tổ chức cấp tỉnh có thế lực, theo sát những hoạt động liên quan tới quyền lợi đất đai từ phía các nhà đầu tư nước ngoài Đối tác của chúng tôi đồng thời là chủ tịch COGEP, là một hội đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên cấp huyện có liên quan đến việc ra quyết định về sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại địa phương Tại Nepal, đối tác của chúng tôi ở Kathmandu có một mạng lưới rộng lớn các NGOs quốc tế và địa phương thường xuyên liên kết hoạt động và họp hành liên quan tới các vấn đề biến đổi khí hậu và môi trường Đối tác khác của chúng tôi tại Terai cũng điều phối các thành viên của hiệp hội các NGOs và CBOs địa phương, với mục đích triển khai các kỹ năng về môi trường, quản lý có trách nhiệm tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là quản lý dòng nước thượng lưu và hạ lưu, tổ chức và thực hiện các cuộc đối thoại dân chủ, cùng đưa ra những giải pháp cho xung khắc Tại Việt Nam, mạng lưới hội nông dân các tỉnh đã triển khai các hoạt động dự án và thúc đẩy việc thành lập những mạng lưới lâm nghiệp quy mô nhỏ

Tam giác Phát triển và Chiến lược Xã hội Dân sự của Danida

Chiến lược của DFE đảm bảo rằng các đối tác phía Nam có đầy đủ kỹ năng và năng lực để hỗ trợ cho sự bền vững và bằng cách đó, chiến lược mới thành công trong tam giác phát triển, nơi năng lực, truyền thông và sự truyền tải chiến lược được liên kết với nhau và thực hiện trong sự phối hợp DFE và các đối tác làm việc theo cách này cùng với Chiến lược Xã hội Dân sự Mới Nhất của Danida (CSS) Những điểm mấu chốt sau trong CSS được chú trọng xuyên suốt công việc của DFE và các đối tác:

 “Củng cố các tổ chức xã hội địa phương cho mục tiêu lâu dài về xoá đói giảm nghèo” – Trong khung chương trình của CISU, DFE luôn luôn thực hiện các dự án thông qua các đối tác địa phương, là những

tổ chức chủ chốt của đất nước

Trang 23

 “Ủng hộ đối thoại cởi mở” – DFE đang khuyến khích các đối tác tham gia vào các cuộc đối thoại cởi

mở tại địa phương và trung ương liên quan đến quyền và trách nhiệm quản lý tài nguyên thiên nhiên, hoặc về việc xúc tiến giáo dục về môi trường cục bộ và tại địa phương, và về thể chế công bằng và dân chủ nhằm hỗ trợ nâng cao sinh kế địa phương

 “Đẩy mạnh phát triển năng lực, công tác truyền thông và các cơ hội liên kết” – DFE đang đẩy mạnh phát triển năng lực cho các đối tác phía Nam bằng cách cung cấp trực tiếp các yếu tố đầu vào, các khoá tập huấn, hỗ trợ công tác truyền thông cho các đối tác và tham gia vào mạng lưới các nước

 “Khuyến khích quyền và trao quyền” – Công việc của DFE là tập trung vào quyền lợi của các nhóm mục tiêu, chủ yếu là đất đai và tài nguyên thiên nhiên trong những vùng phụ thuộc tại các khu vực nghèo của đất nước Nhìn chung, công việc của DFE tập trung khá rộng vào mảng những quyền lợi căn bản của các nhóm mục tiêu về đất đai/ tài nguyên, quyền tham gia dân chủ, quyền hưởng giáo dục chất lượng, và quyền phụ nữ

 “Kết nối các thành phần tư nhân” – Một trong những lĩnh vực chủ chốt của DFE khi tập trung vào xây dựng đoàn thể chính là xúc tiến các cơ hội kinh doanh và tạo sinh kế cho các thành viên đoàn thể Các thành viên được trang bị kỹ năng để trồng, chăm sóc và kinh doanh lâm sản, góp phần xoá đói giảm nghèo thông qua quản lý có trách nhiệm hệ thống khai thác đất đai/ rừng Thêm vào đó, DFE cũng với đối tác tại Mozambique sẽ tập trung vào xây dựng mối quan hệ tốt với chính quyền và các thành phần kinh tế tư nhân liên quan đến ngành công nghiệp khai khoáng nhằm nâng cao nhận thức về nhiệm vụ của các công ty và nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của cộng đồng địa phương

Tiếp cận của DFE 1:1

Điều để phân biệt DFE với các NGOs phát triển khác là công việc của chúng tôi tiến hành với các đối tác phía Nam cũng có cùng nguyên tắc với công việc chúng tôi đang làm ở Đan Mạch, chúng tôi tuân thủ những nguyên tắc và giá trị giống nhau về hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ sử dụng tài nguyên có trách nhiệm, nâng cao thu nhập, và chúng tôi đại diện cho lợi ích của họ Trong các dự án của chúng tôi, DFE sử dụng những cán bộ lâm nghiệp, những người hàng ngày làm việc với các nhân viên tại Đan Mạch, về phát triển năng lực cho đối tác và các nhóm mục tiêu Chúng tôi cũng sử dụng các cán bộ lãnh đạo để cùng chia sẻ kinh nghiệm, phát triển năng lực chính quyền Khi một trong những cán bộ DFE Đan Mạch hoặc cán bộ ban ngành được trọng dụng, yêu cầu của đối tác được đáp ứng, những nhiệm vụ cụ thể trong ToR được hoàn thành Một thực

tế đã được áp dụng trong hồ sơ dự án hiện tại Sự trao đổi này khuyên khích tinh thần học hỏi lẫn nhau, các cán bộ lâm nghiệp/ cán bộ ban ngành cũng học hỏi và phát triển từ các nền văn hoá và bối cảnh làm việc khác nhau so với Đan Mạch

Theo như chương trình giáo dục về môi trường trong các dự án giáo dục của chúng tôi, chúng được bắt nguồn từ quan niệm Naturvejleder và Udeskole của Đan Mạch và cách tiếp cận thực tế của DFE về giảng dạy về tài nguyên môi trường thực tế Đó là việc các cán bộ lâm nghiệp đang làm hàng ngày với các thành viên, thường bao gồm cả gia đình nhiều thế hệ Sự truyền đạt kiến thức và hoạt động nâng cao là một phương tiện gián tiếp gây tác động tới quản lý tài nguyên thiên nhiên Giáo dục trực quan và thực tế về môi trường thực tại là một trong những cách tốt nhất để trẻ em có thể cụ thể hoá các vấn đề và tìm ra được giải pháp Vì thế nó là một phần của chiến lược DFE về giáo dục môi trường Với thoả thuận của chương trình, DFE sẽ làm việc, đầu tiên là với đối tác tại Nepal, về việc thành lập sự hợp tác giữa các trường học tại Đan mạch và Nepal để triển khai các hoạt động nâng cao nhận thực về rừng, nơi các học sinh có thể chia sẻ kinh nghiệm với nhau Vì thế, sự phối hợp giữa Skovdyrkerne ở Đan Mạch và công việc của DFE tại các nước khác là một phần quan trọng của nền tảng DFE

4.1 Nội dung 1 – Nâng cao Năng lực các Đối tác

Nội dung chương trình 1 liên quan đến mục tiêu trước mắt 1: Cách củng cố năng lực đối tác chính là thông qua những nỗ lực thực hiện điều phối của chương trình, có liê nquan đến sự chênh lệch giữa các dự án hiện tại và khung chương trình với một vài hệ thống mới và nhiều chiến lược và mục tiêu lâu dài hơn Nhìn chung, công tác năng lực hỗ trợ các đối tác trở thành các cơ quan dân chủ, trách nhiệm và chuyên nghiệp được coi trọng bởi các nhóm mục tiêu mà họ đại diện Các đối tác vạch ra ba lĩnh vực năng lực cần tập trung:

tổ chức, chuyên môn và truyền thông

Trang 24

Theo như năng lực tổ chức, chúng ta sẽ tập trung vào giới thiệu thể thức của chương trình, nó sẽ được thực hiện thế nào, đặc biệt nhấn mạnh vào sự đồng vận và học hỏi lẫn nhau Trong giai đoạn đầu của chương trình, một hệ thống quản lý và báo cáo sẽ được xây dựng cho các tôt chức đối tác, trong khi đó chúng ta vẫn đảm bảo về mặt văn hoá địa phương và luật pháp Vì thế, những hướng dẫn và quy định hiện tại sẽ dần dần được thay thế bằng những điều chỉnh mới trong chương trình Những hướng dẫn và quy định này được ghi trong phụ lục của Thoả thuận Chuwong trình Văn kiện dự án sẽ được rà soát lại và điều chỉnh

Năng lực về chuyên môn và truyền thông của các đối tác được củng cố thống qua việc triển khai nội dung 2

và 3, “nâng cao năng lực bằng hành động” Về năng lực chuyên môn, các đối tác sẽ được trang bị những kí năng thông qua các hoạt động quản lý tài nguyên thiên nhiên đã được vạch ra ở khung dự án (khung dự án được đưa vào giai đoạn đầu của chương trình và sẽ được điều chỉnh, triển khai trong giai đoạn đầu của chương trình) Về năng lực truyền thông, sẽ được củng cố thông qua việc triển khai công tác truyền thông đã được vạch ra tại Phụ lục D Các yếu tố đầu vào đặc thù được đưa ra theo yêu cầu của đối tác và từ các nhóm mục tiêu Yếu tố đầu vào về năng lực đặc biệt sẽ đuợc đưa ra ở Mozambique, nơi các đối tác đang làm việc ở địa bàn mới tập trung vào quyền đất đa và truyền thông; và ở Việt Nam, nơi chúng tôi đang hỗ trợ xây dựng những mạng lưới lâm nghiệp quy mô nhỏ độc lập, giống như những tổ chức xã hội Tại đây các đối tác đã thể hiện mong muốn cụ thể về các yếu tố đầu vào cần DFE hỗ trợ

Một trong những điểm quan trọng nhất trong Thoả thuận Chương trình sẽ là nâng cao năng lực cho hệ thống hoá về kết quả và chia sẻ bài học kinh nghiệm giữa các đối tác với nhau Giai đoạn đầu của chương trình sẽ

là để tinh chỉnh và sửa đổi tài liệu giám sát và đánh giá, tập trung vào giám sát có sự tham gia và những thay đổi và xu hướng trong công tác giám sát

Nội dung chương trình 2 có liên quan đến mục tiêu trước mắt 2 Chiếc lược chủ đại của nội dung 2 là điều phối tổ chức của các nhóm mục tiêu thành hiệp hội những người khai thác rừng và tài nguyên thiên nhiên, từ

đó họ có thể tuyên truyền nhận thức về tài nguyên thiên nhiên, học được những kĩ năng quản lý có trách nhiệm tài nguyên thiên nhiên, và nâng cao thu nhập bền vững từ quản lý tài nguyên thiên nhiên Hiệp hội những người khai thác rừng và tài nguyên thiên nhiên có thể triển khai mô hình cơ quan nhưng điều quan trọng là họ đang thực hiện chức năng tồn tại dân chủ dựa trên sự cung cấp dịch vụ của thành viên Bối cảnh của từng nước là khác nhau, có nghĩa là các hiệp hội/ nhóm khác nhau sẽ tập trung vào các lĩnh vực và ưu tiên khác nhau do họ có hoàn cảnh và tài nguyên khác nhau Có bốn lĩnh vực chính mà chúng ta cần tập trung khi làm việc với các nhóm khai thác:

1) Năng lực tổ chức

Điều đầu tiên là cơ cấu tổ chức vững chắc và đúng chức năng dựa trên sự dân chủ của các thành viên Tổ chức được hợp pháp hoá và có những giá trị về công bằng, có tính bao gồm, minh bạch, và trách nhiệm

Ngày đăng: 22/09/2016, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w