Một phần, nó không coi trọng các mối quan hệ với môi trường họat động và bỏ qua mối quan hệ năng động giữa doanh nghiệp, nhà cung ứng, nhân công … Mặt khác, nó làm cho ta nghĩ rằng mục đ
Trang 1Lionel Dupont
Trang 2 L’entreprise communicante, sous la direction de Claude Foulard, 1998
La gestion de production, 3 edition revue et augmentée, Jean Bénassy, 1998 e
Le commerce électronique - aspects juridique, sous la direction de Alain
Bensoussan, 1998
Gestion financière - les enjeux essentiels, Jean Darsa, 1997
La conception en communication - méthodologie qualité, Sylvie Leleu-Merviel,
1997
Les systèmes transactionnels-concepts, normes et produits, Jérôme Besancenot, Michèle Cart, Jean Ferré, Rachid Guerraoui, Philippe Pucheral, Bruno Traverson,
1997
Une nouvelle gestion industrielle, Hugues Molet, 1997
La logistique de l’entreprise - le supply chain manangement, Pascal Eymery,
1997
Connaissance et savoir-faire en entreprise - intégration et capitalization,
coordonnateur Jean-Marc Fouet, 1997
Informatique de compétition, Jean-Francois Gautier, Alan Fustec, 1997
Gestion de flux en enterprise - modélisation et simultation, Jean-Francois Claver,
Jacqueline Gélinier, Dominique Pitt, 1997
Le juste à temps - produire autrement, 2 edition revue et augumentée, Claude
Marty, 1997
e
Transport et logistique, Jacques Pons, 1997
La performance économique en entreprise, coordonnateurs : Jacques-Henri Jacot, Jean-Pierre Micaelli, 1996
L’informatique et le droit fiscal, Mémento-guide Alain Bensoussan, 1995
Trang 31 Giới Thiệu
1.1 Lời nói đầu
1.2 Doanh nghiệp – Trung tâm sản xuất
1.3 Doanh nghiệp – Đơn vị kinh tế
1.3.1 Giá trị gia tăng
1.3.2 Chu kỳ công nghiệp
1.3.3 Tính toán chi phí
1.4 Kinh doanh trong môi trường hiện đại
1.4.1 Tiến triển của thị trường và cạnh tranh 1.4.2 Toàn cầu hoá hoạt động kinh tế
1.4.3 Đổi mới nhanh chóng sản phẩm
1.4.4 Tác động của môi trường trên doanh nghiệp 1.5 Loại hình doanh nghiệp
1.5.1 Loại hình theo dòng nguyên liệu
2.1.2 Sự cần thiết của kho
2.1.3 Chức năng của kho
2.2 Phương diện thông tin của quản lý kho
Trang 43.3 Mô hình với chi phí biến đổi
3.3.1 Giá hàng hóa theo số lượng q yêu cầu
3.3.2 Chi phí đặt hàng phụ thuộc vào số lượng
4.1.2 Tính tỉ số dịch vụ theo thời gian α
4.1.3 Tính tỉ số dịch vụ theo chi tiết β
4.2 Tồn kho với tần số quay vòng bằng không: bán báo
4.2.1 Biểu diễn mô hình
Trang 56.1 Nguyên nhân và vai trò của hoạch định
6.1.1 Mối quan hệ giữa kỳ hạn khách hàng và kỳ hạn sản lượng 6.1.2 Khả năng phản ứng đối với giảm cầu
7.4 Chuỗi thời gian: phân tích các dữ liệu
7.5 Nghiên cứu theo thời gian: tổng quan
Trang 67.9 Phụ lục: Nhắc sơ lại về thống kê
8 Hoạch định bằng chương trình tuyến tính
Trang 710 Phương pháp Hoạch định nhu cầu vật tư MRP -Material Requirement Planning
10.1 Từ MRP1 đến ERP
10.2 Ví dụ mở đầu
10.3 Chu trình công nghiệp
10.4 Thứ tự tính toán
10.5 Tính toán nhu cầu
10.6 Việc tính đến những ràng buộc trong sản xuất
10.7.1 Phương pháp Wagner Within
10.7.2 Phương pháp gần đúng –Heuristique- của Silver Meal
10.7.3 Phương pháp chi phí đơn vị tối thiểu
10.7.4 Phương pháp cân bằng giửa chi phí tồn kho và chi phí băt dầu qui trình
10.7.5 Phương pháp sàn xuất theo dơn hàng
10.7.6 Đơn hàng vơi sô lượng cố định hay kinh tế
10.7.7 Số lượng tối thiểu trong từng giai đọan
10.8 Các giới hạn của phương pháp MRP
10.9 Việc tính đến các năng lực trong phương pháp MRP2
11.2 Kỹ thuật tối ưu hóa sản xuất – OPT: Optimized Production Technology
11.2.1 Khái niệm về OPT
11.2.2 Phần mềm OPT
Trang 812.7.1 Giải quyết bằng phân tích
12.7.2 Giải quyết bằng mô phỏng
12.8 Lịch tiến độ với tài nguyên tiêu thụ được
12.9 Lịch tiến độ với tài nguyên không tiêu thụ được
Trang 913.1 Sự cân bằng của máy móc và sản phẩm
13.6 Bảo trì sản xuất toàn diện(TPM)
13.7 Quản trị bảo trì với sự hỗ trợ của máy tính(GMAO) 13.8 Giảm thời gian cải tạo
14.1.1 Dây chuyền sản xuất
14.1.2 Phân xưởng truyền thống
14.3.2 Sự linh hoạt do nhân lực
14.3.3 Sự linh hoạt nhờ thiết bị
14.4 Cân bằng chuyền
Trang 1014.5.3 Nghiên cứu một chuỗi tối ưu
14.6 Bố trí lại phân xưởng truyền thống
14.6.1 Giới thiệu
14.6.2 Tìm kiếm một sự phân tích hoàn hảo
14.6.3 Giải thuật ROC của King
14.6.4 Giải thuật BEA
14.6.5 Giải thuật sử dụng giao tiếp khách hàng
14.7 Bố trí theo logique
14.7.1 Phân xưởng flow-shop
14.7.2 Phân xưởng job-shop : phương pháp mắt xích
15.3.1 Tối thiểu hóa toàn bộ quá trình
15.3.2 Tối thiểu hóa các dở dang
15.3.3 Tối thiểu hóa sự chậm trễ
15.3.4 Mô hình hoá bằng chương trình tuyến tính 15.3.5 Giải quyết bằng phương pháp SEP
15.4 Những vấn đề trên nhiều máy
15.4.1 Flow-shop trên 2 máy
15.4.2 Job-shop trên 2 máy
Trang 1115.4.4 Những vấn đề trên m máy
16 Chất lượng trong sản phẩm
16.1 Giới thiệu
16.1.1 Định nghĩa
16.1.2 Qui trình xây dựng chất lượng
16.2 Từ kiểm tra đến chất lượng toàn diện
16.3.2 Kiểm tra và các tiêu chuẩn
16.3.3 Kiểm tra nơi làm việc
16.4 Đảm bảo chất lượng
16.4.1 Giới thiệu
14.4.2 Tiêu chuẩn ISO 9000
17 Giám sát thống kê của qui trình
17.1 Giới thiệu
17.2 Phiếu kiểm tra
17.2.1 Định nghĩa
17.2.2 Phiếu kiểm tra thuộc tính
17.2.3 Phiếu kiểm tra đo lường
17.2.1 Định nghĩa
17.2.4 Phiếu CUSUM và EWMA
17.3 Giai đoạn phân tích sơ bộ MSP
17.3.1 Nghiên cứu khả năng của một qui trình
17.3.2 Phân tích động thái của một qui trình bởi phiếu kiểm tra
17.3.3 Kiểm tra qui trình
17.4 Xây dựng phiếu kiểm tra cho một phép đo đạc
17.4.1 Mô hình
17.4.2 Ví dụ
17.5 Sử dụng phiếu kiểm tra trong giai đoạn khai thác
17.6 Giai đoạn cải tiến liên tục
17.7 Kiểm tra chất lượng theo thuộc tính
17.7.1 Điều kiện sử dụng
Trang 1217.7.3 Phiếu (c) và (u)
17.8 Phụ lục
18 Kiểm tra bằng phương pháp lấy mẫu
18.1 Kế hoạch lấy mẫu đơn giản
18.2 Mô hình hoá
18.3 Tiêu chuẩn của mẫu
18.4 Kế hoạch kép và kế hoạch lấy nhiều lần
18.5 Kế hoạch tiến triển
18.6 Phương thức kiểm tra
19 Sản xuất theo phương pháp nhanh và triết lý kịp thời đúng lúc
19.1 Tiến triển của hệ thống sản xuất
19.1.1 Hệ thống thủ công
19.1.2 Sản xuất dây chuyền
19.1.3 Triết lý Just in time và sản xuất theo theo đơn hàng
19.2 Những khái niệm
19.3 Chính sách 7 không
19.4 Giảm tồn kho từ phía cung ứng
19.4.1 Tồn kho do nguyên nhân kinh tế
Trang 13GIỚI THIỆU
1.1 MỞ ĐẦU
Trong chương này, ta giới thiệu một số từ và khái niệm sẽ được sử dụng ở phần sau
Ngành quản lý công nghiệp quan tâm đến những quyết định giúp doanh nghiệp:
Sản xuất vào thời điểm thích hợp
Tung ra những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Với mức chi phí đảm bảo được hoạt động lâu dài của doanh nghiệp
Đây cũng chính là ba khái niệm mà ta sẽ thấy xuyên suốt trong toàn bộ cuốn sách này: việc làm chủ kỳ hạn, chất lượng và giá cả Quản lý công nghiệp không bao gồm tòan
bộ các chức năng của doanh nghiệp Đặc biệt, ta sẽ xem những quyết định liên quan đến
định nghĩa và khái niệm của sản phẩm và những quyết định liên quan đến chính sách thương mại (đàm phán các hợp đồng, nghiên cứu thị trường) nằm ngòai phạm vi của
nó.Ta sẽ tập trung chuyên biệt hơn vào những vấn đề có liên quan:
¾ Quản lý tồn kho
¾ Hoạch định và quản lý các luân lưu vật chất và thông tin
¾ Quản lý dự án (đối với sản xuất đơn vị)
¾ Bố trí dây chuyền sản xuất và phân xưởng
¾ Lịch trình tiến độ và bố trí dây chuyền trong phân xưởng
¾ Chất lượng sản xuất (làm chủ các số liệu thống kê các quá trình, kiểm tra)
¾ Những phương pháp quan trọng dùng trong sản xuất (MRP, kanban, sản xuất theo phương pháp nhanh và đúng lúc)
Có rất nhiều định nghĩa về doanh nghiệp, chúng khác nhau tùy cách nhìn nhận của tác giả Trong sách này, doanh nghiệp được đề cập dưới góc độ sản xuất Trước hết ta hãy xem doanh nghiệp như là 1 trung tâm sản xuất (phần 2) và tác nhân kinh tế (phần 3) Quản lý công nghiệp không phải là một ngành mới Từ bao thời nay, các doanh nghiệp đã tìm cách tạo ra các sản phẩm để làm hài lòng khách hàng Nếu quản lý công nghiệp có quay lại trước viễn cảnh này, đó chính là vì sự tiến hóa khá nhanh của môi trường kinh tế hiện tại đã áp đặt nhiều mô hình mới cho doanh nghiệp Sự tiến hóa này sẽ được đề cập ở phần 4 Đã đành rằng tất cả doanh nghiệp không giống nhau và cũng không cùng giải quyết một vấn đề nào đó Ngược lại, 1 vấn đề hiếm khi xảy đến cho chỉ 1 doanh nghiệp
mà thường xuất hiện ở những doanh nghiêp khác nửa mà giữa chúng có nhiều đặc điểm chung Chính vì vậy sẽ rất thú vị nếu ta xem xét hệ thống loại hình của các doanh nghiệp (phần 5)
Trang 141.2 DOANH NGHIỆP : TRUNG TÂM SẢN XUẤT
Doanh nghiệp trước hết là một trung tâm sản xuất của cải vật chất (các vật hữu hình) hay dịch vụ Trong phần này, ta chỉ giới hạn ở mức các doanh nghiệp sản xuất ra của cải Những doanh nghiệp này được gọi là công ty sản xuất, khác với các công ty dịch vụ, cố vấn Với cách nhìn này, ta sẽ mô hình hóa các doanh nghiệp sản xuất dưới dạng hộp đen, nghĩa là nó nhận nhiều dòng vào và tạo ra một dòng ra (sản phẩm)
Các dòng vào của hệ một phần mang bản chất vật chất, một phần mang bản chất thông tin Các dòng vào này có quan hệ đến những yếu tố khác cũng góp phần vào tiến trình sản xuất
1 Nguồn nhân lực gồm lao dộng trực tiếp nhằm can thiệp trực tiếp đến tiến trình chế tạo và lao động gián tiếp giúp đảm bảo các công việc chuẩn bị, tổ chức, quản lý theo nghĩa rộng
2 Những trang bị bao gồm các máy móc, dụng cụ, các bộ phận dùng cho thay thế, bảo trì, cơ sở vật chất
3 Những vật liệu dùng để tạo ra sản phẩm cuối cùng Tùy theo mức độ biến đổi, ta phân chúng thành các nguyên vật liệu ( khóang chất, lúa mì,…) và các bán thành phẩm Những bán thành phẩm nói trên đều đã trải qua tiến trình chế biến Tùy theo lĩnh vực công nghiệp mà chúng có những tên gọi khác nhau: thành phần, bộ phận, linh kiện
4 Các dòng chất lưu và năng lượng (nước,điện,gaz…) cần thiết cho tiến trình sản xuất
Tập hợp các thành phần kể trên đây vẩn chưa đủ để sản xuất Còn cần phải biết ta muốn sản xuất cái gì và làm điều đó như thế nào Vậy nên sản xuất cũng yêu cầu các dòng thông tin để tự tổ chức sản xuất
1 Những thông tin về kỹ thuật giúp quyết định chọn sản phẩm nào và tiến trình chế tạo nó Về sản phẩm, chủ yếu là phải có các vật liệu cần (một số thành phần có thể thay thế cho nhau), có kế họach, và những tiêu chuẩn về kỹ thuật phải tuân theo (chỉ tiêu về chất lượng, mức độ tin cậy tốt,dung sai…) Về tiến trình sản xuất, nó
được miêu tả thông qua các thang sản xuất (sản phẩm khác nhau)
Ngoài các thông tin chính thức đã được mã hóa, tồn tại hai dòng thông tin khác
Là tri thức tích lủy riêng của doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp Hai nguồn thông tin này cũng ảnh hưởng đến các tiến trình và cách thức làm việc
Trang 15điểm nhất định, đặc biệt là tình trạng các nguồn lực (mức độ tồn kho, lao động, tình trạng máy móc) và sự tiến triển của các công việc đang thực hiện
3 Những dữ liệu kế toán liên quan giá thành gắn với sản xuất
4 Những thông tin liên quan đến môi trường bên ngoài và cần thiết cho việc họat
động tốt của doanh nghiệp, đặc biệt là những thông tin về thị trường (nhu cầu biết được hay dự đóan), sự sẵn sàng của nguồn vốn, những ràng buộc và giới hạn phải tuân thủ (luật xã hội,v.v…)
Sản xuất ra của cải vật chất huy động nhân lực, các máy móc thiết bị, năng lượng để chế biến nguyên vật liệu Tiến trình chế biến tuân theo quy tắc sản xuất được xác định bởi các thông tin kỹ thuật, dựa trên trạng thái thực tế của phân xưởng và tài nguyên
Rõ ràng, ta đã thấy xuất hiện các giới hạn của cách tiếp cận này Nó cho một cái nhìn thiển cận về doanh nghiệp ở một thời điểm mà không có cái nhìn tổng quát Một phần, nó không coi trọng các mối quan hệ với môi trường họat động và bỏ qua mối quan hệ năng động giữa doanh nghiệp, nhà cung ứng, nhân công … Mặt khác, nó làm cho ta nghĩ rằng mục đích duy nhất mà doanh nghiệp muốn hướng tới là sản xuất ra của cải (hay dịch vụ)
mà không quan tâm đến lợi ích thực tế và giá thành Đây là cách tiếp cận chủ yếu hướng tới tiến trình sản xuất mà bỏ qua khía cạnh sản phẩm Chúng ta cũng phải nhận rằng mục đích của sản xuất chính ra tạo ra của cải đáp ứng được nhu cầu của thị trường Nói cách khác, một sản phẩm phải tìm được người mua và một dịch vụ phải thỏa mãn nhu cầu
1.3 DOANH NGHIỆP : TÁC NHÂN KINH TẾ
Những thiếu sót nói trên hướng chúng ta đến một cách tiếp cận thứ hai trong đó doanh nghiệp được xét như phần tử của một hệ thống rộng lớn hơn hoạt động trong chu trình kín Sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra nhằm mục đích thỏa mãn thị trường Việc bán sản phẩm ra thị trường sẽ phát sinh một lưu chuyễn tài chính (nếu ta loại trừ nhưng tình huống về đổi chác hay trao đổi hàng hóa) Dòng tài chính này được phân bố theo bảy trạm trung chuyển sau :
1 Một phần của dòng này giúp trả lương cho các nhà cung ứng, là những người đã cung cấp vật liêu (nguyên vật liệu, linh kiện, các chất lưu) và dịch vụ (điện thoại, vận chuyển)
2 Một phần khác giúp trả lương cho nhân công, đổi lại, họ sẽ cung cấp sức lao động
và chất xám (co khi chỉ đơn giản thông qua thời gian có mặt của họ)
Trang 16(thành phố, tỉnh,vùng) Vai trò của những đơn vị này nói chung đã không được nhận thức đúng Việc chi trả cho họ có thể được hiểu dưới dạng thuế và lệ phí Đổi lại, họ bảo đảm sự an toàn, cung cấp cơ sở hạ tầng (vận chuyển, năng lượng), pháp luật, và bảo đảm (một phần) cho việc đào tạo nhân công
4 Những cổ đông nhận được một phần của số tiền này dưới dạng cổ tức Đó là những người mang lại vốn cho doanh nghiệp (được dùng chủ yếu để có được cơ
sở vật chất và các thiết bị máy móc lớn)
5 Ngân hàng cung cấp một phần vốn cho doanh nghiệp và nhận được một phần của
số tiền nói trên dưới dạng lãi suất
6 Doanh nghiệp dùng một phần làm dự trữ dưới dạng khấu hao để có thể mua mới các máy móc thiết bị, hoặc dưới dạng dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra sau này (nợ khó đòi)
7 Và cuối cùng, toàn bộ phần còn lại trở thành lãi ròng của doanh nghiệp Số tiền giúp doanh nghiệp khả năng mở rộng đầu tư mà không cần trông chờ từ phía bên ngoài (vốn hay khoản vay)
Ta nhận định rằng dòng tài chính thu hồi phải lớn hơn giá trực tiếp tiêu thụ (nguyên liệu, năng lượng) dùng trong sản phẩm (khoản tiền số 1 nói trên) Do đó, doanh nghiệp phải thêm vào giá tiêu thụ, một giá trị cộng thêm nhằm cân đối với sáu khoản tiền còn lại nói trên Giá trị này được gọi là giá trị gia tăng Chính xác hơn, ta gọi giá trị gia tăng là
sự chênh lệch giữa sản xuất (bán, tồn kho hay chưa sử dụng) và các việc tiêu thụ trung gian (việc mua dự trữ cộng với những biến đổi trong tồn kho, cộng các chi phí bên ngòai, chi phí gia công nếu dựa vào các số liệu của bảng Tổng kết Trung tâm)
Nếu chúng ta xem xét mọi việc dưới góc độ của khách hàng, giá trị gia tăng tương ứng với những gì họ phải trả nhiều hơn để mua được sản phẩm cuối cùng Xét ví dụ đơn giản sau đây: việc sửa một căn phòng Lựa chọn đầu tiên bao gồm tự mua các dụng cụ (sơn, thảm, ), một ít vật liệu ( bàn chải, ) và bắt tay vào công việc Giả sử rằng hóa đơn lên đến 1.000 quan Lựa chọn thứ hai là trả tiền cho một công ty làm dịch vụ, họ cung cấp vật liệu và làm công việc Giả sử bảng báo giá đề nghị là 5.000 quan chưa tính thuế Như vậy 4.000 quan khác biệt là từ giá trị gia tăng của công ty (ta thấy rằng vật liệu vẩn là 1.000 quan) và câu hỏi đặt ra cho khách hàng là họ đồng ý trả 4.000 quan để không thực hiện công việc bởi chính họ không Những nguyên nhân chính để họ giao công việc sửa nhà đó cho công ty là :
- Tiết kiệm thời gian
- Thiếu khả năng chuyên môn
Trang 17Trong trừơng hợp tổng quát hơn, cần phải thêm giá trị sáng tạo vào
Một cách khái quát, giá trị gia tăng là sự khác biệt giữa việc bán và việc tiêu thụ hàng hóa Ở đây, tồn tại chênh lệch giữa thời gian bán và tiêu thụ Việc xác định chặt chẽ giá trị gia tăng có thể gây ra tranh cãi (ví dụ như hàng tồn kho có nên được tính vào tiêu thụ hay không) Điều này giải thích nhiều định nghĩa khác cùng tồn tại về giá trị gia tăng, trong đó có cách nhà nước sử dụng để tính thuế TVA
Ở đây chúng ta muốn đi sâu về tài chính, nhưng sẽ tốt hơn nếu nhắc lại các dòng tài chính là các dòng có tính thời gian Điển hình, số tiền tổng cộng phải chi cho một khoản vay 10.000 quan ở mức 10% trong 5 năm là quá ít so với cùng khoan vay ấy với thời gian trên 10 năm
Xem xét hai phân xưởng nhỏ và vừa cùng sản xuất một sản phẩm giống nhau, với những qui định bắt buộc giống nhau và cùng tạo ra một giá trị gia tăng gống nhau Cả hai phân xưởng này trả tiền cho các nhà cung ứng và được các khách hàng trả tiền trong hai tháng
Ở phân xưởng đầu tiên, hàng tồn kho trung bình cho vật dụng tương ứng với một tháng làm việc, kỳ hạn để chế tạo là 15 ngày và kỳ hạn trung bình giữa việc xuất xưởng một sản phẩm và việc bán nó cho khách hàng là một tháng Khách hàng trả trong 2 tháng Tổng cộng, mất trung bình 4,5 tháng từ lúc phân xưởng này chi trả các vật dụng (tiêu thụ trung gian) đến lúc số tiền được thu về (tiêu thụ cộng với giá trị gia tăng) Trong khoảng thời gian này, phân xưởng phải họat động (trả tiền cho các nhà cung ứng, nhân công, các chi phí…) và vốn cần thiết để xoay vòng (vốn xoay vòng) Vậy vốn cần thiết để xoay vòng là khoảng 4,5 tháng vốn này doanh nghiệp phải hoặc tự bảo đảm hoặc phải vay mượn
Phân xưởng thứ hai có một lô hàng dự trữ giữa 4-5 ngày, thời hạn sản xuất là 2 ngày
và thời hạn trung bình để bán khoảng 1 tuần Khách hàng vẫn trả trong vòng 2 tháng Vậy vốn xoay vòng là cho 2,5 tháng Trong thí dụ này, ta ghi nhận rằng tình trạng phân xưởng thứ hai tốt hơn mặc dù cả hai phân xưởng cùng tạo ra một giá trị gia tăng bằng nhau Dựa vào ví dụ nhỏ trên, ta có thể thấy rằng hai khía cạnh cần phải xem xét: giá trị gia tăng và thời gian thu hồi giá trị gia tăng cho mỗi doanh nghiệp Mối quan hệ giữa chúng
là chỉ báo tốt để đo đạc hiệu năng của doanh nghiệp Những quyết định của quản trị sản xuất sẽ chú trọng vào khoãng thời gian từ lúc mua vật liệu đến lúc bán được Khoảng thời gian này thường gọi là chu kỳ sản xuất (trong công nghiệp) hoặc chu kỳ khai thác (trong
Trang 18tối ưu hóa tỷ số giửa giá trị gia tăng và thời gian mang lại giá trị gia tăng đó Điều này có thể được thực hiện bằng cách tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm, hoặc giảm khoảng thời gian mang lại giá trị gia tăng nói trên Nhưng ta phải ý thức được rằng doanh nghiệp là một tổng thể, và sản xuất chỉ là một mắt xích trong đó Sẽ không mấy ích lợi nếu ta bỏ ra vài phút, thậm chí là vài giờ để xem xét chu kỳ sản xuất, nếu như thời hạn thanh toán của khách hàng mặt khác có thể tăng lên đến từ 60 đến 90, thậm chí 120 ngày
Nhận xét rằng, trong ví dụ trên, các nhà cung ứng được trả bằng tiền mặt Có thể giảm vốn cần thiết để xoay vòng nếu ta co thể thanh toán cho nhà cung cấp sau 1 thời gian Các mạng lưới phân phối lớn là cực điểm của trường hợp, với những thời hạn chi trả chậm cho nhà cung cấp, trong khi hàng hóa bán nhanh và khách hàng trả phần lớn bằng tiền mặt Vốn xoay vòng dư ra, dẫn tới việc các trung tâm phân phối này phát triển thêm các dịch vụ vụ tài chính.(cho vay, bảo hiểm)
Điều hiển nhiên khác cần nhấn mạnh, là chỉ bán những sản phẩm thực sự bán mới mang lại giá trị gia tăng: các phế phẩm, các sản phẩm không được khách hàng ưa chuộng, những sản phẩm không đến đúng thời điểm chỉ là những hao hụt Vì vậy trước khi sản xuất, cần phải tìm hiểu về những vấn đề về thiết kế va khái niệm về sản phẩm: sản phẩm nào đáp ứng được yêu cầu của thị trường (nhu cầu, giá cả, chất lượng) Ở giai đọan sản xuất, phải tôn trọng các mục tiêu về giá cả và chất lượng sản phẩm đã được bàn
ở trên Sau khi sản xuất, sẽ là vấn đề về sự sẳn sàng của sản phẩm ở nơi và thời điểm mà khách hàng cần
Tóm lại, ta hãy chú ý rằng khái niệm giá trị gia tăng chỉ được đề cập ở mức độ doanh nghiệp mà không phải ở mức độ sản phẩm Định nghĩa giá trị gia tăng, giá thành, lợi nhuận của một sản phẩm nào đó đưa ra nhiều vấn đề Điều này có thể khiến ngạc nhiên, nhưng các nhà doanh nghiệp chỉ có một hiểu biết mơ hồ về lợi nhuận thu được từ việc bán sản phẩm
Những nguyên lý về kế toán trong công nghiệp đã được Dupont de Nemours và General Motors đề ra và những năm 1920 Ở thời kỳ này, người ta đã sản xuất các sản phẩm theo số lượng lớn, rất ít đa dạng, với những công nghệ ổn định Chi phí trực tiếp (chi phi được sữ dụng trực tiếp cho sản phẩm) chiếm đa phần Chi phí trực tiếp này, gồm chi phi nguyên vật liệu, chi phi sữ dụng máy và chi phí cho lao động dùng cho sản phẩm Phần lớn chi phí trực tiếp này tỉ lệ với số lượng sản phẩm đã tạo ra, phần còn lại là chi phí
cố định Lấy thí dụ một phân xưởng chỉ sản xuất ra một loại sản phẩm duy nhất Giá nguyên vật liệu và lương của công nhân làm việc trên các máy móc gần như tỉ lệ với khối
Trang 19hữu các máy móc và lương của quản đốc phân xưởng là cố định nhưng vẫn còn được tính trực tiếp vào sản phẩm Khi tổng hợp tất cả những chi phí thay đồi và cố định nói trên trong một giai đọan nào đó, và chia chúng theo sốlượng sản phẩm, ta có chi phí trực tiếp của sản phẩm Sự khác biệt giữa giá bán và chi phí trực tiếp được gọi là lợi tức của một mặt hàng[marge]
Tập hợp các chi phí mà không khấu vào sản phẩm được gọi là chi phí gián tiếp (thuế, bảo hiểm, lương của ban quản trị và giám đốc…) Vấn đề là làm sao phân phối những chi phí gián tiếp này lên sản phẩm để thu được giá thực sự hay giá đầy đủ của sản phẩm cho hợp lý Sự phân phối này được thực hiện dựa trên những quy cách phân phối Ta hiểu ngay rằng hai quy cách phân phối dựa trên hai lập luận khác nhau phát sinh hai giá thành khác nhau cho cùng một sản phẩm Ở những năm 1920, khi mà chi phí trực tiếp có ưu thế, chi phí gián tiếp được tính theo tỉ lệ với chi phí trực tiếp Thực ra giá thực sự “chính xác” của một sản phẩm chỉ được tính sau, vì nó dưa trên số lượng sản phẩm, chi phí cố định và chi phí gián tiếp, chỉ được biết sau cuối năm họat động Năm đầu, người ta sử dụng chi phí dự kiến Sau đó, thời gian tồn tại của sản phẩm và sự ổn định của công nghệ giúp ta tiếp tục tính toán theo giá dự kiến nói trên
Trong bối cảnh hiện tại, việc xác định giá trở nên phức tạp hơn Những thiết bị chẳng hạn trở nên linh hoạt hơn Một máy móc hay một người vận hành không còn sản xuất chỉ một sản phẩm duy nhất Để nhận thức về những chi phí trực tiếp biến đổi, ta phải tiến hành phân bổ hay đưa vào các máy móc những chiếc dụng cụ ghi nhận thời gian sữ dụng,
và cac người vận hành ghi lại công việc họ đã thực hiện Thêm vào đó hiện tượng: giá nhân công trực tiếp giảm rất nhiều trong khi chi phí gián tiếp lại tăng mạnh Trong doanh nghiệp, ngày càng ít người vận hành trên các máy móc và ngày càng nhiều công việc liên quan đến hoạt động dịch vụ Từ đó xuất hiện những phương pháp mới nhằm tính toán giá
cả, dựa trên tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm từ chế biến nguyên vật liệu đến thông tin: ngành kế toán phân tích trong những năm 1960, còn hiện giờ là các ngành ABC (Activity Based Costing), Kế toán dựa trên họat động và ABM (Activity Based Management) Quản lý dựa trên họat động của doanh nghiệp Những phương pháp trên không được đề cập đến trong giáo trình này Nhưng phải ghi nhớ rằng các dữ liệu mà
ta phải thao tác hay tìm cách tối ưu hóa chúng sau này có thể được nhìn nhận khác nhau
1.4 DOANH NGHIỆP TRONG MÔI TRƯỜNG HIỆN TẠI
Cách tiếp cận thứ hai này cho phép ta tiếp cận sự phức tạp của hệ thống mà ở đó doanh nghiệp phát triển, nhưng không cho ta tiếp cận những chuyển đổi và sự cần thiết phải thay đổi thực tại Vì lý do này, ta phải xem như môi trường mà doanh nghiệp đang
Trang 20vào môi trường đó Cho nên cũng như các thực thể sống khác, doanh nghiệp phải:
• đảm bảo sự cân bằng theo cách tốt nhất trong các giai đọan ngắn hạn, khi mà môi trường có thể được xem là ổn định
• đảm bảo tính lâu dài trong các giai đọan trung và dài hạn, khi mà môi trường trở thành biến động
Như vậy mục tiêu tối hậu của doanh nghiệp là sản xuất để tồn tại
Trong 40 năm trở lại đây, quản trị doanh nghiệp đã có những biến đổi sâu sắc Một cách sơ lược, ta có thể nói ta đã chuyển từ phương thức Ford sang từ phương thức
Toyota, và từ nền kinh tế sản xuất sang kinh tế thị trường Những nguyên do chủ yếu cho
sự tiến hóa nói trên là:
1 Sự hóan vị giửa giữa cung và cầu
2 Toàn cầu hóa các họat động kinh tế
3 Việc tăng tốc đổi mới sản phẩm
Điều làm rõ nhất đặc tính của sự chuyển hóa trong thế giới ngày nay, chính là đảo lộn mối quan hệ giữa người tiêu dùng (cầu) và nhà sản xuất (cung) Ta có thể phân ra ba giai đoạn như sau
1 Giai đoạn 1 : cung rất nhỏ so với cầu
Đó là trường hợp của Mỹ và Tây Âu trước 1955, và những nuớc Đông Âu chẳng hạn Lượng cầu khá lớn trong khi lượng cung vẫn còn thấp Nhiệm vụ chủ yếu là hạ giá thành sản phẩm,vì thế, ta đã giới hạn sự đa dạng của sản phẩm và người ta sẽ sản xuất hàng loạt theo những dây chuyền sản xuất chuyên biệt Đó là doanh nghiệp dựa theo ý tưởng của Taylor và được Henry Ford áp dụng vào công ty mình (Ông ta đã từng phát biểu rằng: các khách hàng có thể mua những chiếc Ford loại T với đủ loại màu sắc, miễn sao đó là màu đen)
Doanh nghiệp quyết định giá thành sản phẩm và tự định một lợi nhuận có lợi cho mình Ta có phương trình :
Giá bán = Giá thành + Lợi nhuận
Trong trường hợp này, giá thành chủ yếu là do giá nguyên vật liệu và chi phí các hoạt động sản xuất trực tiếp Người ta tìm cách tạo ra sự cạnh tranh giữa những người bán hàng nhằm để đạt được mức giá hạ, và tính hiệu quả của nhân công và của máy móc thiết
bị được đo theo thời gian làm việc Hiệu suất của phân xưởng, máy móc là hàm ngược
Trang 21nhà máy và lợi nhuận công ty trong tổng thể vì thế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Kinh tế ở giai đoạn này là một nền kinh tế được điều khiển bởi sản xuất
2 Giai đoạn 2 : cân bằng giữa cung và cầu Bắt đầu xuất hiện hệ thống cạnh tranh Việc nghiên cứu thị trường được phát triển
3 Giai đoạn 3 : cung rất lớn so với cầu
Đây là xã hội mà nhiều doanh nghiệp có khả năng chế tạo một số lượng lớn các sản phẩm mà thị trường không thể tiêu thụ hết Đó là trường hợp của phần lớn sản phẩm tiêu dùng thường ngày (xe hơi, điện gia dụng,…) ở các nước phát triển Người mua trở thành thượng đế, dù là người tiêu dùng cuối, hay người đặt hàng Với mức giá cho trước, người tiêu dùng đòi hỏi:
một mức chất lượng nhất định,
các kỳ hạn giao hàng ngắn hạn,
những sản phẩm ít nhiều mang tính cá nhân (ví dụ: xe hơi)
Vì vậy, đòi hỏi phải có cạnh tranh và lựa chọn nhà cung ứng Người tiêu dùng đã trở thành những người khó tính ( hội những người tiêu dùng) Thường thì một sai sót nhỏ của sản phẩm dù không dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng nhưng cũng gây khó chịuu và tạo một hình ảnh không tốt về thương hiệu công ty Đối với doanh nghiệp cung ứng, giá bán được xem như biết trước và phương trình trở thành :
Lợi nhuận = Giá bán - Giá thành Trong một môi trường ổn định, các thành phần trong thị trường biến đổi không đáng
kể, doanh nghiệp luôn tìm cách giảm giá thành để tăng lợi nhuận Nhưng trong môi trường hiện tại, họ phải cạnh tranh để giành lấy thị phần Nghĩa là, việc giảm giá thành phần lớn sẽ được bù trừ bởi :
Việc giảm giá bán nhằm đảm bảo hoặc mở rộng thị trường [trường hợp của ngành sản xuất chip vi tính]
Trang 22hơn, đổi mới về kỹ thuật…), điều đó thường làm tăng giá thành sản phẩm (trường hợp của nghành sản xuất xe hơi với các tùy chọn như túi khí, điều hòa nhiệt độ) Doanh nghiệp luôn tìm cách thỏa mãn đồng thời ba yêu cầu chính sau: giử vững, thậm chí là
phải giảm kỳ hạn giao hàng, kìm giá và luôn đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng Khả ngăng của doanh nghiêp dựavào ba điều này, nhưng ba yêu cầu trên thường là đối lập với nhau: ví dụ như muốn tăng chất lượng thì phải tăng giá bán sản phẩm hoặc phải tăng thời gian sản xuất Một cách tổng quát, mọi quyết định đểu làm ảnh hưởng ít nhiêu đến ba yêu cầu này Tam giác QDC có thể được sử dụng nhằm diễn tả ảnh hưởng của một quyết định đến ba nhân tố nói trên Để hình dung rõ hơn, ta đặt trên mỗi đỉnh của tam giác những khía cạnh tích cực và tiêu cực của từng quyết định
Kỳ hạn
Chất lượng
Giá cả Hình 1.1 : Tam giác QDC
Ta đang chứng kiến đến sự toàn cầu hóa của nền kinh tế, nó cho phép sự mở rộng thị trường, đồng thời với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và những di dời vi trí của các trung tâm sản xuất
Thị trường
Các thị trường theo vùng và quốc gia đang dần dần biến mất Các cực lớn được hình thành
Ở Đông Âu : Liên hiệp kinh tế Châu Âu và AELE (Tổ chức kinh tế trao đổi Tự Do)
Ở Châu Mỹ, 6 vùng thương mại cùng tồn tại
Trang 23_ MCCA, Thị trường chung trung tâm châu Mỹ.(gồm có Guatemala, Salvador, Honduras, Nicaragua, Costa Rica),
_ Caricom của các nước thuộc quần đảo Carribê
_ Nhóm ba nước(Mêxico,Vênêzuêla và Colombia)
_ Hiệp ước Anđơ (Bolivia,Péru và Xích Đạo),
_ Mecosur (Brazil,Paraguay,Uruguay,Achentina và Chilê)
Vùng Đông Nam Á : tổ chức ASEAN (vùng này đã có bước phát triển kinh tế đáng
kể cho tới năm 1997 và từ đó đã bị biến động về tài chính rất lớn)
Giữa các nước Châu Á Thái Bình Dương: nhiều thỏa thuận ưu đải đã được ký kết và
sự thiết lập một vùng tự do về thương mại giữa các nước APEC (Asia Pacific economic cooperation) được dự định vào năm 2020(Năm 1994, các nước APEC hiện chiếm giữ 46% về xuất khẩu của toàn thế giới)
Các nước APEC bao gồm Úc, Brunei, Canada, Chilê, Trung Quốc, Hong Kong, Indonésia, Nhật, Mã lai, Mêxicô, Papua New Guinea, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Mỹ
Thương mại toàn cầu dần dần tự tổ chức Thỏa thuận chung về thuế quan và thương mại năm 1947 (GATT) sau nhiều vòng đàm phán khó khăn đã đưa ra thỏa thuận Marrakech (1994) Sau đó, tổ chức mậu dịch quốc tế (OMC) đã được thành lập vào tháng Giêng 1995 dựa theo kiểu mẫu của thỏa thuận trên và thay thế GATT So với GATT, OMC có hai khác biệt chủ yếu OMC thiết lập một tiến trình đàm phán thường trực xung quanh các trở ngại giữa các bên Khi các tranh chấp thương mại được đệ trình (do 1 hay nhiều quốc gia), các quyết định của OMC sẽ được các bên thi hành OMC bao gồm khoảng 150 nước thành viên
Trong thực tế, toàn cầu hóa không có nghĩa là toàn thế giới Ngay cả khi tính đến các nước Đông Âu và Trung Quốc, là những thị trường đầy tiềm năng, thì vùng của thế giới vẩn còn vắng mặt, điển hình là Châu Phi Vì thế một số người muốn nói đến toàn cầu hóa hơn là sự thế giới hóa
Việc tăng một lượng lớn các khách hàng tiềm năng biểu hiện mặt tốt của vấn đề Nhưng sự mở rộng này dĩ nhiên không đơn giản mà quản lý được Một phần, ta tìm cách làm hài lòng 1 lượng các khách hàng tối đa, điều này đưa đến sự thông dụng hóa các thành phần (ví dụ, ta so sánh các xe hơi hay các sàn phẩm diện gia dụng có cùng 1 tiêu chuẩn khách hàng của các nhà chế tạo khác nhau) Mặt khác, sở thích của nguời tiêu dùng không bao giờ là cố định mà luôn luôn thay đổi (thực phẩm, bàn ghế, salon…) và nhưng chuẩn mực là khác nhau đối với từng quốc gia, có nghĩa là một số sản phẩm cần phải đuợc đa dạng
Trang 24Việc tiếp cận khách hàng có thể là rất khác nhau tùy theo mỗi nền văn hóa: hãy kể đến việc tiêu thụ xe hơi ở Nhật bản so với thị trường Kuwait
Những gì chúng ta vừa đề cập trên đây chỉ đúng với các doanh nghiệp có quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng cuối Với phần lớn doanh nghiệp, việc mở rộng thị trường sẽ đồng nghĩa với việc giảm thị phần một cách nghiêm trọng Toàn cầu hóa đã làm tăng tốc
sự tập trung vừa cho các nhà công nghiệp lớn và vừa cho mạng lưới phân phối Những nhà đặt hàng sẽ quản lý dần dần các ngân sách ngảy càng quan trọng và áp đặt điều kiện của mình Nghành phân phối ở Pháp, chẳng hạn, hầu như được quản lý bởi 4 trung tâm mua sắm lớn là Promodes,Carrefour,Intermarché và Leclerc Những phương thưc mà họ
áp dụng (lượng tồn kho tối thiểu, bán giảm giá,…) đã làm tăng tính bất thường của cầu
Cạnh tranh
Mặt khác của toàn cầu hóa chính là sự tăng cường cạnh tranh Vài thập kỷ trước đây
đã chứng kiến sự chuyển mình và nhân lên nhanh chóng các cực phát triển Ngày càng nhiều quốc gia đạt được khả năng sản xuất và xuất khẩu những tài sản cao cấp với giá nhân công rẻ Chi phí giao hàng và tổ chức hậu cần trở thành thông số quan trọng, cùng với việc chênh lệch gía nhân công sẽ kéo theo sựu di dời địa điểm ( ra nước ngòai) Ngòai việc di dời do áp lực về giá, còn có những di dời do áp lực của chính phủ
Trong lãnh vực công nghệ cao, các hợp đồng mua bán thường kèm theo các điều khoãn bù trừ như mua hàng của đối tác, phài sàn xuất ở địa phương họ, chuyễn giao kỹ thuật cho bên mua,…(Ví dụ: hợp đồng TGV với Hàn Quốc và Tây Ban Nha, hợp đồng bán vũ khí cho Ả rập xê út)
Cạnh tranh làm tăng số lượng sản phẩm được sản xuất ra cũng như các dịch vụ có liên quan, đồng thời làm giảm độ dài chu kỳ sống của sản phẩm Ta có thể nói rằng các phần lớn những sản phẩm ngày nay không tồn tại dưới dạng như bây giờ một vài năm trước
đó Những sản phẩm này có thể hoàn toàn mới hoặc bắt nguồn từ các sản phẩm khác nhờ được cộng thêm những đổi mới hoặc đơn giản hơn do việc thay đổi trong khâu thiết kế
Có nhiều lý do giải thích cho quá trình trên
1.Sự phát triển như vũ bảo của công nghệ mới
Phần lớn các sản phẩm có mặt trên thị trường hiện nay đều sở hữu những công nghệ mà cách đây 30 hoặc 40 năm chưa có Đó là điện tử, laser, truyền dẫn quang học, công nghệ sinh học, vật liệu composite Những công nghệ mới kéo theo sự xuất hiện của các sản phẩm hoàn toàn mới, điều này làm cho các thế hệ sản phẩm trước đó
Trang 25nhiều lĩnh vực, sự đổi mới không còn diễn ra theo những cải thiện liên tiếp nhau (đổi mới theo quan hệ), mà là những cải thiện theo bước nhảy vọt (đổi mới thông qua đột biến) Với doanh nghiệp, hiện tượng này có nghĩa là sản phẩm và phương tiện sản xuất ngày càng lổi thời nhah chóng
2.Dụng cụ máy móc dân dần có sự trợ giúp của công nghệ thông tin
Ngòai khía cạnh công nghệ, ta thấy có sự tham gia ngày càng nhiều của công nghệ thông tin ở nhiều dạng : các chip vi xử lý ở khắp nơi, các hệ thống tự điều hòa… 3.Sự tăng độ phức tạp
Các sản phẩm và dịch vụ không những sữ dụng công nghệ và các tiến trình ngày càng tinh vi hơn, mà chúng còn phải trở nên phức tạp hơn Như ta đã biết, độ bền và
độ tin cậy của một hệ thống phức tạp có liên quan đến hiệu năng của mắt xích yếu nhất Mọi phần tử của tiến trình có khuynh hướng trở nên quan trọng Hơn nửa, trong hầu hết các lĩnh vực, những hậu quả do thiếu sót gây ra ngày càng trở trầm trọng (chế tạo máy bay, nhà máy điện,…) Như một minh họa đáng tiếc, ta hãy nhớ lại một thảm họa hàng không đã từng xảy ra ở Amsterdam do gãy một chiếc đinh ốc
4.Sự tăng cường quản lý bằng pháp luật về an toàn lao động, về bảo vệ môi trường
Với doanh nghiệp, điều này có nghĩa là thế giới đang chuyển đổi từ ổn định thành biến động Sự cạnh tranh càng rộng mở thì khách hàng càng trở nên khó tính Những khái niệm về sự hòan thiện, về giá cả, về quy mô sàn xuất lớn không còn đáp ứng nữa Thay vào đó phải xác định chiến thuật nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm với việc đưa những lợi điểm rõ ràng và không thể bàn cãi : đổi mới và chất lượng Dựa vào kế họach thực tế , có ba chỉ báo chủ yếu cần quan tâm : tình hình sản xuất, tính cạnh tranh, lợi nhuận Trong nền kinh tế bị chi phối bởi thị trường, mối liên hệ giữa các chỉ báo này không được xác định rõ ràng
Mặt khác, nếu môi trường là biến động, doanh nghiệp lại là cấu trúc vững mạnh, với khả năng linh hoạt Đặc biệt,doanh nghiệp cần có một thời kỳ ôn định để và đạt được mức hòan thiện mong muốn Một thời kỳ để phát triển đều đặn và đạt được sự thành thạo
là cần thiết nhằm hướng đến một nền sản xuất tin cậy và ổn định Các kiến thức về cung ứng sẽ rút ra được sau 1 thời gian họat động (kỳ hạn, chất lượng) Việc thâm nhập những thị trường mới (đặc biệt là xuất khẩu) hoặc những hiểu biết về sở thích của khách hàng đều cần có sự đầu tư về thời gian Ta thấy ở đây tồn tại 2 logic mâu thuẫn nhau Vì vậy, doanh nghiệp thường phải đúng trước hai lựa chọn sau đây:
Trang 26thiện đủ
_ đảm bảo sự ổn định với nguy cơ bị thị trường đào thải
20/02/06
1.5 LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP
Mô hình tổng quát sau đây không áp dụng một cách giống nhau cho mọi doanh nghiệp; các doanh nghiệp gia công nhỏ phụ thuộc vào các đơn hàng thường phải chọn những quyết định có tính chiến thuật ngắn hạn hơn là trung hạn Vì thế, hãy thử rút ra vài tiêu chuẩn để phân lọai doanh nghiệp và phân biệt các vấn đề có liên quan
Năm 1965, dựa theo mẫu gồm 92 doanh nghiệp South Essex, Joan Woodward đã đề nghị một kiểu mẫu mà sau này đã trở thành mẫu tham khảo Tiêu chuẩn đặc trưng của mô hình này chính là sự liên tục hay gián đoạn công nghệ trong quy trình sản xuất
Ta có thể chia loại hình thành ba loại sau:
1 Doanh nghiệp “xử lý” : là doanh nghiệp trong đó quá trình chế biến lý và hóa tính cho phép biến đổi liên tục từ những vật chất ban đầu thành sản phẩm cuối cùng
2 Doanh nghiệp sản xuất theo “dây chuyền” : là doanh nghiệp trong đó vật chất trở thành sản phẩm cuối cùng thông qua một chuỗi liên tiếp các thao tác.Nếu ta chỉ xét đến công nghiệp dây chuyền, hai loại hình tổ chức và sản xuất mà ta quan tâm nhất là phân xưởng truyền thống và dây chuyền sản xuất.Ta sẽ khảo sát trong chương 14 những khác biệt lớn tạo của hai loại hình này
3 Doanh nghiệp hoạt động theo dự án đơn vị (sản xuất đơn chiếc).Ở thời điểm nhất định, các doanh nghiệp này hoạt động theo một hay một vài dự án chuyên biệt Ví
dụ điển hình là các xưởng đóng tàu,doanh nghiệp xây dựng các công trình công cộng (như Eurotunnel,các khuôn đập,…).Nhưng cũng có thể là trường hợp của những nhà doanh nghiệp vừa và nhỏ (PME), chuyên sản xuất máy móc,đồ nghề chuyên dụng họac các lô nhỏ,các sản phẩm theo yêu cầu (thẻ điện tử), các công ty
tư vấn hay phần mềm.Ở đây ta sẽ nhắc lại định nghĩa của V.Giard và chú ý
đến,trong loại hình này,các công ty huy động các nguồn lực chủ yếu trong thời gian khá dài để hoàn thành một số lượng giới hạn các dự án sản xuất
Sau đó, P.M Gallois đã đưa ra một loại hình dựa trên tập hợp gồm bốn tiêu chuẩn Loại hình gồm nhiều tiêu chuẩn này bổ sung và hoàn thiện các loại hình khác nhau (thường là loại hình chỉ có một tiêu chuẩn) trong đó gồm cả tiêu chuẩn mà loại hình của
Trang 27cho thị trường” và có bốn giá trị có nghĩa:
1 Doanh nghiệp nghỉ ra và thực hiện các sản phẩm chuyên dụng được yêu cầu bởi khách hàng Đơn hàng trong trường hợp này thường chi tiết các chỉ tiêu yêu cầu
Ví dụ: Một khách hàng muốn đặt 300kg tôn, độ dày là 2mm với dung sai là 2 micromet, bề rộng 1m, với trạng thái bề mặt và độ cứng cho trước Khi nhận được đơn đặt hàng, phòng nghiên cứu sẽ xem xét tính khả thi, nếu câu trả lời là
có, họ sẽ lập ra bảng kê giá và kỳ hạn giao hàng Thông thường có nhiều sự trao đổi giữa phòng nghiên cứu, phòng thương mại và khách hàng trước khi đơn hàng được ký
2 Các công ty tạo ra sản phẩm theo đơn đặt hàng.Việc nghĩ ra các sản phẩm cũng đã được thực hiện Điều này tương ứng với ba trường hợp lớn sau:
- Công ty có sẵn một danh mục các sản phẩm mà công ty đã nghĩ ra, khi đó mối quan hệ giữa kỳ hạn hạn sản xuất và kỳ hạn tung ra thị trường cho phép công ty đi vào hoạt động sản xuất theo đặt hàng (đối với các vật có trọng tải lớn)
- Công ty thuộc dạng công ty gia công và chỉ thực hiện những sản phẩm mà khách hàng đã nghĩ ra trước đó
- Công ty là nhà sản xuất và tạo ra các sản phẩm mà khách hàng đã nghĩ ra trước đó và khách hàng cũng là người cung cấp các nguyên vật liệu và phụ kiện
3 Sản phẩm được hoàn thành theo đơn đặt hàng dựa trên các linh kiện rời hay các mođun chuẩn Sự hoàn thành này hay còn gọi là sự cá biệt hóa tính chất sản phẩm
có thể cần đến các giai đoạn phát minh(máy móc – dụng cụ), cung cấp và chế tạo (xe hơi)
4 Công ty có sẵn 1 lượng thành phẩm và cung cấp cho khách hàng, cùng với các dịch vụ nếu cần thiết (vận chuyển,cài đặt,giúp đỡ,huấn luyện) Ta có thể tìm thấy
ở đây các sản phẩm thường dùng (lốp xe,đồ điện gia dụng)
Khái niệm trên vừa có nghĩa là số lượng sản xuất và còn là tần suất
1 Sản xuất đơn chiếc hay tổng quát hơn là sản xuất tính chất không lặp lại :từ khâu phát minh đến khâu giao nộp sản phẩm, mỗi sản phẩm hay mỗi chuỗi sản xuất là đơn nhất
2 Sản xuất có tính chất lặp lại: sản phẩm đa dạng, tài nguyên dùng cho nhiều hoạt động khác nhau, và các chu trình sản xuất thường phức tạp Độ lớn các lô được xác định chủ yếu theo nhu cầu, nhưng lượng sản xuất chạy ở từng giai đoạn khác
Trang 28lợi ích về giá cả
3 Sản xuất với số lượng lớn, lập lại hoặc theo nhịp với tiến trình gián đoạn
4 Sản xuất với số lượng lớn, lập lại theo tiến trình liên tục
Tổ chức hay cấu trúc sản phẩm/quy trình có thể được miêu tả bởi tổ hợp ba thành
phần cơ bản sau
1 Biến đổi phân tán (hình 1.2):
Dạng ET (phân kỳ theo cách gọi tên) : xuất phát từ vật liệu khởi đầu, ta đi
đến sản xuất đồng thời nhiều sản phẩm (ví dụ,quá trình chế tạo sản phẩm khác
nhau xuất phát từ một sản phẩm cơ sở:lọc dầu, chế biến sữa)
Dạng OU (phân kỳ theo thang) : trong tiến trình sản xuất tồn tại nhiều điểm
cho phép tạo ra các thành phẩm khác nhau Đó là trường hợp của ngành luyện
kim, ngành sản xuất giấy,…
Hình 1.2 : Biến đổi phân tán
nguyên
vật liệu
thành phẩm
sản phẩm trung gian
sản phẩm trung gian
sản phẩm trung gian
thành phẩm
thành phẩm
thành phẩm
2 Biến đổi tập trung (hình 1.3): các thành phẩm được tạo từ việc kết hợp các phần
tử, có thể là bằng lắp rắp (đồ đạc,máy móc), hoặc bằng pha trộn (chế biến nông
sản,hóa học)
Trang 29Hình 1.3 : Biến đổi tập trung
Sản phẩm Thành phần
Thành phần
Thành phần
Thành phần
Thành phần
3 Biến đổi tuyến tính (hay “đơn dòng”): xuất phát từ một phần tử, sẽ tạo ra một sản
phẩm đơn nhất (thành phẩm hay bán thành phẩm) Ví dụ : xưởng luyện kim
Các dạng cơ bản trên thường biểu diễn hoạt động của xưởng có quy mô nhỏ hay một
phần của tiến trình chế biến Một tiến trình tổng quát là sự kết hợp của cả ba dạng trên
Trong đó phải kể đến
Dạng cuộn chỉ (diabolo) hay còn gọi là dạng chữ X : thường thấy trong các ngành
sản xuất có giai đoạn lắp rắp (xe hơi)
Sản phẩm trung gian
Trang 30Nguyên liệu thô
Sản phẩm trung gian
Thành phẩm
Dạng chữ T :
Sản phẩm trung gian Thành phẩm
Nguyên liệu thô
Tiêu chuẩn này được nêu ra nhằm làm rõ những cách biệt tương đối giữa các công ty trong bồi cảnh kinh tế xã hội, do đó nó ít tập trung đến các thao tác sản xuất hơn so với các tiêu chẩn trước đó P.M.Gallois nêu ra bốn thành phần có nghĩa của giá trị gia tăng :
1 thành phần lao động trực tiếp
2 Vốn tri thức liên quan đến khả năng đổi mới, sáng tạo
3 Khả năng thành thạo kỹ thuật nghiệp vụ đặc biệt là tay nghề
Trang 31vào sản phẩm và tri thức
Giá trị gia tăng của một doanh nghiệp được xác định dựa vào bốn thành phần trên, nhưng đối với một doanh nghiệp, ta chỉ quan tâm đến thành phần có nghĩa nhất
Trang 321 Tòan bộ hàng hoá có sẳn trên thị trường họăc trong cửa hàng
2 Tập hợp tất cả hàng hoá, nguyên liệu ban đầu, sản phẩm trung gian, hay sản phẩm cuối cùng … thuộc quyền sở hửu của một xí nghiệp
Nếu chúng ta thu hẹp trong một xí nghiệp, thì định nghĩa đầu tiên có liên quan đặc biệt đến các xí nghiệp có chức năng phân phối sản phẩm (siêu thị, các xí nghiệp bán hàng qua điện thọai hoặc thư tín … ) Các xí nghiệp này cũng có các vấn đề quản trị như những xí nghiệp khác, nhưng chúng có tầm quan trọng hơn :
- Quan hệ đối người cung ứng hàng hoá: xác định phương thức mua hàng , kỳ hạn sản xuất và giao hàng, thương lượng giảm giá (theo số lượng)
- Chính sách bán hàng: siêu thị được bán giảm giá một số tuần trong năm, quãng cáo qua catalogue , cam kết kỳ hạn giao hàng ( trong vòng 48h ), phương thức hậu mãi (dịch vụ sau khi bán )
- Vấn đề phân phối (tổ chức hậu cần): bố trí các kho trung chuyển, chọn phương tiện chuyên chở và phân phối (dịch vụ bưu điện, chyên chơ bằng đường sắt hay đường bộ …), xác định chu trình giao hàng (hằng ngày, hàng tuần hay mỗi khi có đơn hàng)
Định nghĩa thứ hai liên quan đến các xí nghiệp sản xuất hay chế biến Trong các xí nghiệp này, có 4 loại hàng tồn kho ( stock ):
1 Hàng tồn kho đầu nguồn, là giao diện giữa người cung ứng và xí nghiệp (hàng cung ứng), gồm nguyên vật liệu , thành phần cung cấp cho dây chuyền sản xuất
2 Hàng tồn kho sản phẩm trung gian (tồn kho đệm hay đang dang dở): tồn kho các sản phẩm đang trong quá trình sản xuất giửa các máy hoặc phân xưởng
3 Hàng tồn kho cuối nguồn: thành phẩm, sẳn sàng để đợi được chuyển đi, như đến với khách hàng , đến với các người đặt hàng
4 Hàng tồn kho của những chi tiết, phụ tùng thay thế của máy móc, các dụng cụ hay những vật liệu để bảo trì …
2.1.1 Chi phí tồn kho :
Những chuyên gia ước định rằng hàng tồn kho chiếm từ 25% đến 35% vốn không được sử dụng của một xí nghiệp sản xuất Chi phí sinh ra do sự không sử dụng được vốn này chỉ là 1 phần của tổng chi phí Thông thường, để quyết định chính sách quản lý, người ta chia chi phí thành ba loại: chi phí mua hàng, chi phí tồn kho và chi phí do sự thiếu hụt Chú ý rằng tồn kho có thể có giá trị âm hoặc dương Thông thường, người ta hay nói sự thiếu hụt (hết hàng hay thiếu hàng) hơn là tồn kho âm
Trang 33gồm tất cả những chi phí liên quan đến đặt hàng và giao hàng, gồm:
- Chi phí đặt hàng: chi phí hành chánh, phí cho những các nhân viên thu mua,
- Chi phí chuyên chở và giao hàng giữa nơi cung ứng và xí nghiệp
- Chi phí trong việc nhận hàng: kiểm tra giấy tờ, chất lượng hàng , sắp xếp lên các
kệ hàng …
Chi phí này tương ứng một cách tổng quát đến số lượng đơn đặt hàng đã được đáp ứng Chúng ta ký hiệu Cc là chi phí cho một đơn đặt hàng
2 Chi phí liên quan đến việc sở hữu lượng hàng tồn kho:
Chi phí này phụ thuộc vào hai nguồn chính : Đầu tiên là phương tiện cần thiết để tồn trữ , thứ hai là các sản phẩm đựoc tồn kho
Một mặt hàng tồn kho cần diện tích để sắp xếp và lưu trử, điều này có liên quan đến chi phí kho bãi (mua hoặc thuê), nhân sự (kiểm kho và bảo vệ ), trang thiết bị (sắp xếp, vận chuyển , máy nâng chuyển) Thêm vào đó là chi phí bảo hiểm và bảo trì ( nhà sưởi , phòng lạnh cho vật liệu dễ hỏng , nơi tồn trữ chất nguy hiểm , … ) Mặt khác, một sản phẩm được tồn kho nghĩa là 1 số tiền không được lưu chuyễn
Số tiền này có thể được đầu tư và mang lại lợi nhuận Những lợi nhuận mất đi này gọi là chi phí cơ hội Một sự ước lượng tối thiểu chi phí này được tính nếu đầu tư vào SICAV hoặc mua công trái Những sự đầu tư này, thật sự không rủi ro, có lợi tức khõang 4% - 6% Một nhà tài chính tốt có thể dùng để đầu tư với lợi tức cao hơn Hơn nửa, còn tồn tại một rủi ro tài chính liên quan đến tồn kho: sản phẩm tồn kho có thể bị hư hỏng (điều kiện bảo quản kém, tai nạn vận chuyển), hoặc mất giá trị thương mại vì lỗi thời (hàng thời trang, thiết bị điện tử … ) Những chi phí do sở hửu hàng tồn kho được ước lượng tỷ lệ với số lượng hàng hoá tồn kho và thời gian tồn kho Chúng ta ký hiệu Cp là chi phí tồn kho của một sản phẩm trong một khoảng thời gian
3 Chi phí do sự thiếu hụt ( hay ngưng hàng)
Chi phí này ngược lại với chi phí trước, rất khó tính tóan Trong trường hợp tốt nhất, việc thiếu hụt là ngoại lệ, nó kéo theo sự lở dịp bán hoặc hụt một đơn hàng, điều này kéo theo sự mất lợi nhuận Khi việc giao hàng chỉ bị chậm trể, có thể dẩn đến tiền phạt và dù sao nó cũng làm hại nhản hiệu của một công ty mà hậu quả thật khó lường Một sự giao hàng chậm trễ không gây thiệt hại nhưng nhiều sự chậm trễ sẽ làm mất khách hàng
Nhiều kỹ thuật được sử dụng để hạn chế việc chậm trễ và thiếu hụt như:
- Tháo lấy bộ phận đang cần từ những thành phẩm
- Thực hiện quá trình cung ứng đặc biệt ( khẩn cấp )
- Thay thế một linh kiện bằng một linh kiện khác mắc hơn nhưng không tăng giá (giảm lợi nhuận)
Khi việc thiếu hụt trở nên quá quan trọng sẽ dẩn đến ngừng họat động ở một bộ phận công ty hay việc dừng sản xuất
Chúng ta ký hiệu Cr là chi phí ngừng sản xuất Tùy trường hợp, chi phí này tỷ lệ với :
- số lần thiếu hụt
- số sản phẩm thiếu nhân với thời gian
- số ngày ngừng họat động
Trang 34nghiệp và việc giảm hay lọai bỏ hàng tồn kho cần được cân nhắc kỹ
“khi cần mới mua” (flux tendu) nhưng điều đó đồng nghĩa với sự hiểu biết hoàn chỉnh giữa nhu cầu và thời hạn giao hàng của bộ phận cung ứng
22/02/06
2 Tồn kho thành phẩm:
Theo định nghĩa , tồn kho thành phẩm là nhiệm vụ của những công ty chuyên bán hang được tồn kho Đối với những công ty khác, tồn kho loại này cho phép thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của khách hàng Rất hiếm khi nhu cầu này được đều đặn Để đáp ứng chúng ta có những cách sau :
- Sẳn sàng đáp ứng với nhu cầu bằng cách các trang thiết bị phải dư khả năng sản xuất và nhân lực có thể huy động dể dàng (nhân công tạm thời)
- Co thể sản xuất sau đơn hàng, điều này cũng có nghĩa là phải có hàng tồn kho Một lý do khác giải thích tồn kho thành phẩm hoàn chỉnh là khõang thời gian nghỉ việc tháng 8
- Dự phòng trường hợp máy hư và phế phẩm ( kho đệm)
4 Tồn kho dụng cụ và linh kiện:
Kho dụng cụ được dùng trong các hoạt động của xí nghiệp ( thiết bị , dụng cụ cắt đối với xí nghiệp cắt, các khuôn trong kỹ thuật chế biến chất dẻo ) và kho chi tiết cần thiết cho việc bảo trì và dịch vụ hậu mãi
2.1.3 Những chức năng của tồn kho:
Chúng ta có thể phân biệt bốn chức năng chính của kho:
1 Vai trò đầu tiên của kho là đối phó với các yếu tố bất ngờ và sự rối loạn có thể xảy đến từ đầu vào Kho cho phép giải quyết tạm thời sự gián đọan cung cấp đến
từ các nhà cung ứng (sự chậm trễ, sự hư hỏng , sự bãi công …) hoặc do sự gián đoạn về vận chuyển (đường xá bị chặn) Kho sản phẩm trung gian giửa các máy
Trang 35Nhắc lại một phép ẩn dụ từ Nhật Bản, kho đóng vai trò cuỉa cái đập nước đối với một cái hồ nước chứa đầy đá cuội Một mặt , sự dự trữ nước của cái đập cho phép bảo đảm phân phối nước dù cho có sự biến đổi lượng nước của dòng sông trên thượng lưu như thế nào đi nữa Mặt khác, nếu mực nước phía sau đập lên cao , chúng ta có đủ nước để đi qua mà không gặp vấn đề gì Nếu mực nước thấp , những hòn đá cuội mấp mé và tàu sẽ bị nguy hiểm Trong trường hợp của chúng
ta , những hòn đá cuội chính là những yếu tố bất ngờ có thể xảy ra
2 Vai trò thứ hai của kho là để bù trừ sự không nhất quán về thời gian và số lượng giửa sản xuất và yêu cầu Khoảng cách địa lí chia cách nhà cung ứng và khách hàng ( khoảng cách xa ) là lý do đầu tiên Một lý do khác là nhà cung ứng, dù ở trong hay ngoài xì nghiệp, đều không có khả năng đáp ứng tức thì các yêu cầu Họ
có những ưu tiên riêng
3 Chức năng kinh tế: chi phí đặt hàng không tỷ lệ với số mặt hàng hoặc số lượng hàng được mua Đặc biệt chi phí hành chính chuyễn giao của một đơn đặt hàng thì xấp xỉ nhau, dù là cho một hoặc nhiều mặt hàng, hay dù chúng ta đặt 1 hay 10 hộp cho một mặt hàng Để khấu hao những chi phí này, chúng ta sẽ đặt hàng với một lượng nào đó Ngoài ra , việc đặt hàng theo số lượng đáng kể cho phép hưởng lợi từ sự hoàn lại của nhà cung ứng (lợi ích do quy mô )
4 Chức năng tiên đoán: hàng tồn kho là không thể thiếu được khi sản xuất và tiêu thụ mang tính thời vụ Mặt khác , có những hàng tồn kho mang tính đầu cơ, từ những dự đoán sẽ có sự tăng giá vật liệu hoặc do nguy cơ chính trị ( kho rượu nguyên chất đối với chủ nhà máy tinh chế …)
Nếu giảm bớt quy mô hàng tồn kho là quan trọng, thì việc quan trọng hơn đó là nhận thức được vai trò mà kho đảm nhận trước khi huỷ bỏ nó Quan điểm này sẽ được phát triển tiếp ở chương 19 4 Cũng cần có ý thức rằng sự giảm bớt kho làm phức tạp hệ thống sản xuất và tồn kho cho phép “bẽ gãy” hệ thống sản xuất thành những hệ thống con, những hệ thống con này một mặt có thể hoạt động độc lập với những hệ thống khác, mặt khác lại được quản lý đơn giản hơn
2.2 Khía cạnh thông tin về quản lý hàng tồn kho:
Trang 36sự thiếu thốn thời gian
H 21 Sự thayđổi hàng tồn kho theo thời gian
Ở mọi thời điểm, hàng tồn kho là một hàm theo thời gian n(t) Đối với đa số hàng thì
sự hiểu biết về số lượng này tương đương với sự hiểu biết về kho Đặc biệt ( xem hình 2.1)
- n(t) là một hàm giảm dần giữa các điểm giao hàng
- thòi kỳ thiếu hàng tương ứng lúc n(t) < 0
- Chi phí sở hữu giữa hai thời điểm t1 và t2 tỷ lệ với tổng số lượng được tích lũy những mặt hàng tích lũy và tỉ lệ với khoảng thời gian [t1,t2] : vì vậy nó tỷ lệ với diện tích giữa n(t) và trục thời gian ( phần nét gạch trên sơ đồ ) , nói cách khác là
t t t
dt t n
Nhưng có những ngoại lệ :
1 Khi các sản phẩm được đưa ra sẽ trở nên lỗi thời (thực phẩm, vật liệu không bền), cần biết thời hạn hủy bỏ
2 Trong trường hợp đối với các dụng cụ, chúng ta không chỉ quan tâm đến số lượng
mà còn phải quan tâm đến tình trạng hao mòn, mức độ bảo trì … Do đó, một hệ thống quản lý dụng cụ không chỉ trả lời duy nhất cho câu hỏi : Có công cụ sẵn không? Nhưng còn câu hỏi: trong tình trạng nào và trong bao nhiêu thời gian nó
sẽ vẫn còn hoạt động có hiệu lực? Người ta tìm thấy trên thị trường rất nhiều phần mềm chuyên biệt về sự quản lý này
Tiếp theo đó, người ta sẽ hạn chế việc nghiên cứu những mặt hàng mà chỉ cần sự hiểu biết về n(t) là đủ Lý tưởng là ta phải biết n(t) vào mọi lúc để đảm bảo một sự quản lý tối
ưu về dự trữ Trên thực tế không bao giờ có thể biết một cách chính xác số lượng kho vì
Trang 37và ổn định Thực tế, sự hiểu biết về dự trữ không bao giờ tòan vẹn vì nó đòi hỏi một sự ghi dữ liệu ở mỗi nghiệp vụ (vào hay ra) được thực hiện trên hàng tồn kho Điều đó hiến
khi xảy ra Trong thực tế, có ba phương pháp phổ biến cho phép ghi dữ liệu về dự trữ :
1 Ghi lập tức dữ liệu khi nhập hàng và xuất hàng bởi mã vạch, nhận dạng không dây (identificationsans fil),… ghi chú ngay vào hồ sơ lưu Điều đó, về mặt lý thuyết cho phép một sự kiểm kho thường xuyên (tuy nhiên, cũng có thể xảy ra một vài vấn đề nhỏ trong việc ghi dữ liệu và kiểm tra thông tin) Chi phí của phương pháp này cao và trong những doanh nghiệp, nó được dành riêng cho những bộ phận đắt tiền
2 Kiểm kho sau từng thời kỳ đều đặn (kiểm kê định kỳ) hoặc không đều (kiểm tra xoay vòng)
3 Khi xảy ra một số biến cố (sử dụng lượng hàng dự trữ, giao hàng trễ…)
2.3 Quản trị cung ứng
2.3.1 Giới thiệu :
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét một cách chi tiết hơn quản lý dự trữ nhưng giới hạn một cách chuyên biệt hơn về quản lý cung ứng Chính lượng dự trữ này đã gây được sự quan tâm hàng đầu đối với các nhà lý thuyết về quản lý và rất nhiều sự quan sát và kết luận được rút ra từ lượng hàng dự trữ có thể được áp dụng ở nhiều nơi khác nhau Các từ vựng được sử dụng:
- Mặt hàng: đối với 1 doanh nghiệp, những mặt hàng có thể là nguyên vật liệu, thành phẩm, linh kiện, bộ phận tùy theo trường hợp
- Sự đặt hàng: về việc đặt mua hàng, người ta không sử dụng cùng những thuật ngữ như nhau mà tùy theo nhà cung cấp ở bên trong doanh nghiệp (một phân xưởng) hoặc bên ngòai doanh nghiệp Trong trường hợp đầu tiên, sẽ là lệnh sản xuất, trong trường hợp thứ 2 sẽ là đơn đặt hàng
- Cầu bị hõan: đối với người bán, cầu bị hoãn khi khách hàng chấp nhận chờ đợi lần giao hàng sau để nhận được mặt hàng bị thiếu Đối với doanh nghiệp, điều đó
có nghĩa là người ta sẽ sản xuất những hàng hóa thiếu để giao vào đợt hàng sau (ví dụ như nếu thiếu một vài linh kiện của xe ô tô, như ống thóat hơi, người ta sẽ tiếp tục sản xuất và cuối cùng những linh kiện thiếu sẽ được lắp tại bải chờ xuất hàng)
- Cầu bị mất: đối với người bán, việc bán hàng bị mất nếu khách hàng đi tìm kiếm
ở nơi khác mặt hàng bị thiếu Đối với doanh nghiệp, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp không tiến hành việc giao hàng để bù đắp cho sự thiếu hụt (chẳng hạn như nếu thiếu một bộ phận chủ yếu, họ sẽ tung ra một qui trình cung ứng khẩn cấp
Trang 38• Đảm bảo một tỷ lệ dịch vụ tối thiểu: tỷ lệ này được tính bằng số lượng mặt hàng cung cấp so với số lượng mặt hàng yêu cầu (cung so với cầu), hay bằng số ngày hoạt động bình thường so với tổng số ngày
Để làm được điều đó, người ta dựa trên những thông tin liên quan đến cầu và tình trạng lượng hàng dự trữ Những thông tin liên quan đến cầu có thể được thu thập bẳng nhiều cách
1 Khi nghiên cứu quá khứ cho phép kết luận rằng cầu có thể được dự đoán theo thồng
kê, người ta sẽ tìm cách ườc tính nó bằng qui luật xác suất Tùy theo trường hợp, người ta
sẽ sử dụng qui tắc không liên tục (gián đọan), hay người ta ước lượng nó bằng qui tắc liên tục, dạng qui tắc thông thường trong trường hợp mức cầu cao, nếu cầu thấp ta sẽ áp dụng qui tắc Poisson Mặc dù 2 qui tắc này được sử dụng phổ biến nhất nhưng những qui tắc khác có thể vẫn được áp dụng Chương 3 & 5 sẽ đề cập đến tính gần đúng này
2 Cầu được tính từ dự đoán lượng hàng bán ra trong tương lai, tất nhiên là phải chú ý đến độ lệch thời gian giữa thời gian giao hàng và thời gian sản xuất: cách tính này gọi là tính những nhu cầu và sẽ được đề cập ở chương 10 thông qua phương pháp MRP
2.3.2 Hệ thống ra quyết định :
Vì lượng dự trữ được xác định bởi mức hàng và sự biến động của nó theo thời gian, câu hỏi chính được đặt ra cho quản trị dự trữ là :
- Khi nào phải tiến hành cung ứng ?
- Cung ứng bao nhiêu ?
Một số câu trả lời cho 2 câu hỏi trên đã được đưa ra Nó tương ứng với sự thỏa hiệp giữa quản trị tối ưu, tính dễ sử dụng và có khả năng thực hiện được
Trả lời câu hỏi : Khi nào phải cung ứng :
1, Mổi khoảng thời gian đều T (quản lý theo lịch)
2, Khi mức hàng dự trữ thấp hơn mức s được xác định trước (quản lý theo điểm đặt hàng)
3, Người ta mua hàng nếu sau 1 thời gian T, lượng hàng dự trữ thấp hơn mức s
4, Khi người ta có thời gian ( khó mà định nghĩa, nhưng thực tế là có)
Trả lời câu hỏi : Phải cung ứng 1 lượng là bao nhiêu ?
1 Sản lượng q được xác định bởi sự tính toán hoặc bằng kinh nghiệm thực tiễn Giá trị q sẽ không đổi nếu cầu không thay đổi, q sẽ thay đổi nếu cầu biến động (sản lượng kinh tế)
2 Sản lượng cần thiết để làm đầy lại lượng dự trữ ở mức s vào ngày giao hàng (làm đầy)
Trang 39hóa sẽ thấy 4 sự phân loại trong bảng 2.1 sau :
Thời kỳ cố định Thời kỳ biến động
Số lượng
cố định M1 số lượng kinh tế của hàng đặt mua : mô hình Wilson
Cầu không đổi
M3 quản trị theo điểm đặt hàng:
Việc thực hiện những phương thức này phụ thuộc sự am hiểu của người ta về cầu :
1 Cầu không đổi: cầu đều đặn (biến động xung quanh 1 giá trị trung bình với 1 độ lệch chuẩn nhỏ) và ổn định theo thời gian
2 Cầu thống kê: cầu biến động nhưng có thể dự báo được bằng cách thống kê từ việc nghiên cứu những cầu trong quá khứ
3 Cầu dự đóan: là cầu được xác định căn cứ vào sự hiểu biết về lượng hàng bán ra trong tương lai, dù lượng hàng bán này hoặc là chắc chắn hoặc là được dự báo chứ không được xác định bằng việc căn cứ vào lượng hàng tiêu thụ trong quá khứ
Chúng ta sẽ quay lại, trong phần tiếp theo của bài học, những mô hình chính dược
sơ đồ hóa trong bảng trên và được sắp xếp theo thứ tự tính phức tạp tăng dần
3 Những sản phẩm khác đòi hỏi một sự quan tâm, chú ý lớn -> mô hình 4
Sự xếp vào lọai hình cung ứng nào là tùysự ý thức của người sử dụng Người ta cũng có phương pháp ABC hay phương pháp Pareto được trình bày dưới đây, được xem là những công cụ đơn giản phục vụ cho việc phân loại
Phương pháp ABC hay phương pháp Pareto :
Phương pháp này bàn về việc sắp xếp hàng hóa thành 3 nhóm A, B, C theo một tiêu chuẩn xác định với tầm quan trọng giảm dần Những hàng hóa nhóm A đòi hỏi giám sát, bảo quản kỹ lưỡng nhất Phương pháp này gọi là phương pháp Pareto hay phương pháp 80-20 Pareto là một nhà kinh tế người Ý ở cuối thế kỷ 19, người đã chỉ ra rằng 80% của cải trong xã hội là do 20% dân số nắm giữ Ông đã chứng minh điều này dựa vào đồ thị (về sau gọi là biểu đồ Pareto) Ngoài việc phân loại lượng hàng tồn kho, trong công nghiệp, phương pháp này cũng có thể được sử dụng để phân loại nguyên nhân của sự hư
Trang 40sự kiện được nghiên cứu là do 20% nguyên nhân có thể gây ra
Ứng dụng vào hàng tồn kho:
Có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau để phân loại : giá trị hàng tồn kho, lượng hàng
tiêu thụ hàng năm, nơi tiêu thụ, thời gian vận chuyển hàng hóa đòi hỏi, chi phí biến đổi…
Lựa chọn tiêu chuẩn là một công việc của sự định hướng đúng và sự hiểu biết hiện
trường Việc sử dụng nhiều tiêu chuẩn có thể làm xuất hiện một đặc tính chung cơ bản
của một số mặt hàng thuộc cùng nhóm A Người ta sẽ đặt sự chú ý đặc biệt về mặt hàng
này
Ví dụ :
Một doanh nghiệp quản lý 10 mặt hàng có mã số từ A đến J Giá trị của nó được
được đưa ra ở cột 2 của bảng 2.2 Trong một thời kỳ cố định, số lần mà mặt hàng đó được
lấy ra khỏi kho (cột 3) và số mặt hàng tồn kho trung bình (cột 5) Bằng cách nhân những
số này với giá trị của mỗi mặt hàng, ta có giá trị hàng xuất ở cột 4 (giá vốn hàng bán) và
giá trị trung bình của lượng hàng tồn kho ở cột 6 ( tiền không sử dụng được):
Mã hàng Đơn giá Số lần xuất Giá trị hàng
xuất
Tồn kho trung bình
Giá trị hàng tồn kho
625
600 7.200
252 1.260
Người ta muốn phân loại lượng hàng tồn kho theo hai tiêu chuẩn: giá trị hàng xuất
và giá trị hàng tồn kho Đối với mỗi tiêu chuẩn, người ta xếp loại những mặt hàng bởi
tổng giá trị giảm dần và người ta kẻ bảng % lũy kế Kết quả của việc xếp loại lượng hàng
xuất được đưa ra ở hình 2.2 và sự xếp loại lượng hàng tồn kho được thể hiện ở hình 2.3
Ta nhận thấy rằng những mặt hàng B, E, A chiếm 85,36% lượng hàng xuất và được xếp ở vị trí cao trong bảng lượng hàng tồn kho Vì vậypa\hải rất quan tâm khi quản
lý mặt hàng này