1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổng quan về chứng khoán

59 287 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường này ít quen thuộc với công chúng đầu tư vì việc bán chứng khoán tới những người mua đầu tiên được tiến hành theo những thoả thuận riêng với sự trợ giúp chủ yếu của các định ch

Trang 1

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 1 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com MỤC LỤC MỤC LỤC - 1 -

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN - 3 -

I GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - 3 -

1 Bản chất và chức năng của thị trường tài chính - 3 -

2 Cấu trúc của thị trường tài chính - 4 -

3 Các công cụ của thị trường tài chính - 6 -

4 Các trung gian tài chính - 8 -

II CHỨNG KHOÁN - 11 -

1 Cổ phiếu - 11 -

3 Chứng chỉ quỹ - 18 -

4 Các chứng khoán phái sinh - 20 -

III THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN - 20 -

1 Cấu trúc và phân loại cơ bản TTCK - 20 -

2 Chức năng của các thị trường Chứng Khoán - 21 -

3 Các tổ chức liên quan - 22 -

IV CÔNG TY CHỨNG KHOÁN - 23 -

1 Giới thiệu về công ty chứng khoán - 23 -

2 Các chức năng cơ bản của công ty chứng khoán - 23 -

3 Nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán - 24 -

CHƯƠNG II: CÁCH THỨC GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN - 25 -

1 Thời gian giao dịch - 25 -

2 Phương thức giao dịch - 26 -

3 Lệnh giao dịch - 26 -

4 Nguyên tắc khớp lệnh - 29 -

5 Biên độ dao động giá: - 29 -

6 Giá tham chiếu - 29 -

7 Các chỉ số chứng khoán chính của Việt Nam - 30 -

8 Hình thức thanh toán - 30 -

ĐỌC THÊM - 30 -

CÁCH ĐỌC BẢNG GIÁ CHỨNG KHOÁN - 30 -

GIÁ THAM CHIẾU CỦA CỔ PHIẾU TRONG NHỮNG NGÀY ĐẶC BIỆT - 31 -

Trang 2

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 2 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH CƠ BẢN - 38 -

I TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH CHỨNG KHOÁN - 38 -

1 Quy trình phân tích cổ phiếu - 38 -

2 Cơ sở dữ liệu - 39 -

II PHÂN TÍCH KINH TẾ VĨ MÔ - 40 -

1 Phân tích môi trường chính trị- xã hội của đất nước - 40 -

2 Ảnh hưởng của môi trường pháp luật - 40 -

3 Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế và các cú sốc kinh tế - 41 -

4 Tác động của độ mở nền kinh tế và năng lực cạnh tranh - 41 -

5 Tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô - 42 -

III PHÂN TÍCH NGÀNH - 43 -

1 Chu kỳ kinh doanh của ngành: - 43 -

2 Mức độ rủi ro của ngành kinh doanh - 44 -

IV PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY - 45 -

1 Tổng quan về phân tích báo cáo tài chính - 45 -

2 Phân tích các nhóm chỉ số cơ bản - 50 -

3 Phương trình DuPont - 54 -

BÀI TẬP: - 56 -

Trang 3

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 3 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

I GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

1 Bản chất và chức năng của thị trường tài chính

1.1 Bản chất của thị trường tài chính

Thị trường tài chính là nơi diễn ra sự luân chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi tới những người thiếu vốn

Thị trường tài chính cũng có thể định nghĩa là nơi mua bán, trao đổi các công cụ tài chính

Hoạt động trên thị trường tài chính có những hiệu ứng trực tiếp tới sự giàu có của các cá nhân, tới hành vi của các doanh nghiệp và người tiêu dùng, và tới động thái chung của toàn bộ nền kinh tế

1.2 Chức năng của thị trường tài chính

a Dẫn vốn từ những nơi thừa vốn sang những nơi thiếu vốn

Đây là chức năng kinh tế chủ yếu của thị trường tài chính Thông qua hoạt động của các chủ thể trên thị trường, các nguồn tài chính được luân chuyển để cung và cầu về vốn gặp nhau Quá trình luân chuyển vốn trên thị trường tài chính làm tăng quá trình chuyển các nguồn tiết kiệm thành đầu tư

b Hình thành giá của các tài sản tài chính

Thông qua sự tác động qua lại giữa người mua và người bán, giá của các tài sản tài chính

được xác định, hay nói cách khác, lợi tức cần phải có trên một tài sản tài chính được xác định

Yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp gọi vốn chính là mức lợi tức mà các nhà đầu tư yêu cầu; và chính đặc điểm này của thị trường tài chính đã phát tín hiệu cho biết vốn trong nền kinh tế cần được phân bổ như thế nào giữa các tài sản tài chính Quá trình đó được gọi là quá trình hình thành giá

Trang 4

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 4 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

c Tạo tính thanh khoản cho tài sản tài chính

Thị trường tài chính tạo ra một cơ chế để các nhà đầu tư có thể bán tài sản tài chính của mình Chính nhờ vào đặc điểm này mà người ta nói rằng thị trường tài chính tạo ra tính thanh khoản cho nền kinh tế

d Giam thiểu chi phí tiếp kiêm và chi phí thông tin

Để cho các giao dịch có thể diễn ra, những người mua và những người bán cần phải tìm được nhau; muốn thế, họ cần phải tiêu tốn tiền và thời gian cho việc quảng cáo ý đồ của mình và tìm kiếm đối tác Đó là những chi phí tìm kiếm Bên cạnh đó là các chi phí thông tin gắn liền với việc nhận định các giá trị dầu tư của một công cụ tài chính, tức là khối lượng và tính chắc chắn của dòng tiền dự kiến thu được từ đầu tư Nhờ tính tập trung, khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch lớn, thông tin được cung cấp đầy đủ và nhanh chóng, thị trường tài chính cho phép giảm thiểu những chi phí này

e.Ổn định và điều hoà lưu thông tiền tệ

Bên cạnh các chức năng kể trên, thị trường tài chính còn có chức năng ổn định và điều hoà lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế

Thông qua việc mua bán các trái phiếu, tín phiếu chính phủ của ngân hàng trung ương trên thị trường tài chính, chính phủ có thể tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và kiểm soát lạm phát

Ngân hàng trung ương cũng có thể mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để điều chỉnh lượng cung và cầu ngoại tệ nhằm giúp chính phủ ổn định tỷ giá hối đoái

2 Cấu trúc của thị trường tài chính

Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân loại thị trường tài chính theo nhiều cách khác nhau:

2.1 Thị trường tiền tệ và thị trường vốn

Căn cứ vào thời hạn luân chuyển vốn, thị trường tài chính được chia thành thị trường tiền

tệ và thị trường vốn

Thị trường tiền tệ

Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán, trao đổi các công cụ tài chính ngăn hạn (thường

có thời hạn dưới 1 năm)

Trang 5

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 5 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

Thị trường tiền tệ có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Các công cụ của thị trường tiền tệ có thời gian đáo hạn trong vòng một năm nên có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp và hoạt động tương dối ổn định

- Hoạt động của thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu trên thị trường tín dụng do đó giá cả hình thành trên thị trường này được biểu hiện thông qua lãi suất tín dụng ngân hàng

Thị trường tiền tệ bao gồm thị trường liên ngân hàng, thị trường chứng khoán ngắn hạn, thị trường ngoại hối, thị trường tín dụng

Thị trường vốn

Thị trường vốn là thị trường mua bán, trao đổi các công cụ tài chính chung và dài hạn (thường có thời hạn trên 1 năm) So với các công cụ trên thị trường tiền tệ, các công cụ trên thị trường vốn có tính thanh khoản kém hơn và độ rủi ro cao hơn, do đó chúng có mức lợi tức cao hơn

Vai trò chủ yếu của thị trường vốn là cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của chính phủ, doanh nghiệp và hộ gia đình Thị trường vốn bao gồm thị trường chứng khoán, thị trường vay nợ dài hạn, thị trương tín dụng thuê mua, thị trường cầm cố, thị trường bất động sản…

Thị trường vôn cổ phần

Thị trường vốn cổ phần là thị trường mua bán các cổ phần của công ty cổ phần Đặc trưng của thị trường này là các công cụ trên thị trường này không có kỳ hạn mà chi có thời điểm phát hành, không có ngày mãn hạn

Trang 6

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 6 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

Người mua cổ phiếu chỉ có thể lấy lại tiền bằng cách bán lạn cổ phiếu trên thị trường hoặc khi công ty tuyên bố phá sản Khác với thị trường nợ, hoạt động của thị trường vốn cổ phần chủ yếu phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần

2.3 Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Căn cứ vào tỉnh chất của việc phát hành các công cụ tài chính, thị trường tài chính được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp

Thị trường sơ cấp là thị trường trong đó các công cụ tài chính được phát hành lần đầu và được bán cho người đầu tiên mua chúng Do là phát hành lần đầu nên thị trường này còn được gọi là thị trường cấp một

Thị trường này ít quen thuộc với công chúng đầu tư vì việc bán chứng khoán tới những người mua đầu tiên được tiến hành theo những thoả thuận riêng với sự trợ giúp chủ yếu của các định chế tài chính làm nhiệm vụ bảo lãnh phát hành

Thị trường thứ cấp hoạt động làm cho các công cụ tài chính có tính lỏng cao hơn và do

đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trên thị trường sơ cấp Vì vậy, có thể nói thị trường thứ cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường sơ cấp

3 Các công cụ của thị trường tài chính

3.1 Các công cụ của thị trường tiền tệ

Do có thời gian đáo hạn ngắn nên các công cụ tài chính giao dịch trên thị trường tiền tệ

có đặc điểm chung là dao động giá thấp và độ rủi ro thấp

Các công cụ chủ yếu của thị trường tiền tệ bao gồm:

Trang 7

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 7 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

Tín phiếu kho bạc

Là một công cụ vay nợ ngắn hạn của chính phủ do kho bạc nhà nước phát hành, thường được phát hành theo định kỳ 3 tháng, 6 tháng, hoặc 9 tháng Mặc dù lãi suất tín phiếu kho bạc thường thấp hơn các công cụ nợ khác nhưng nó rất được ưa chuộng trên thị trường tiền tệ do tính

an toàn và tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển nhượng trên thị trường thứ cấp

Tín phiếu kho bạc là công cụ nắm giữ chủ yếu của các ngân hàng thương mại Các ngân hàng này đầu tư nguồn vốn đóng băng vào tín phiếu kho bạc để thu lợi tức và quan trọng hơn, dùng nó như tiền dự trữ cấp hai, tức chuyển thành tiền mặt bất cứ lúc nào để giải quyết khó khăn tài chính của ngân hàng

Ngân hàng trung ương cũng có thể sử dụng công cụ này để thực hiện nghiệp vụ thị trường mở nhăm điều chỉnh lượng tiền cung ứng ra lưu thông và kiểm soát thị trường tín dụng

- Lệnh phiếu: là giấy nhận nợ do người mua hàng trả chậm ký phát trao cho người bán hàng trả chậm trong đó người mua cam kết trả một số tiền nhất định khi đến hạn cho người thụ hưởng

- Chứng chỉ lưu kho: là giấy do một công ty kinh doanh kho bãi ký phát, thừa nhận có giữ hàng hoá cho người chủ hàng ký gửi và cam kết giao hàng cho chủ hàng hay một người nào đó

do chủ hàng chỉ định bằng cách ký hậu

Các chứng chỉ tiên gửi có thể chuyển nhượng

Là giấy chứng nhận về việc gửi tiền và là một công cụ vay nợ của ngân hàng đối với người gửi tiền Trên chứng chỉ qui định người sở hữu nó sẽ nhận được một khoản tiền lãi định kỳ

và nhận đủ số vốn khi đáo hạn Người nắm giữ chứng chỉ này không được rút tiền trước khi đến hạn mà chỉ có thể thu hồi tiền bằng cách bán lại trên thị trường thứ cấp Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ quan trọng trong việc tạo nguồn vốn hoạt động và đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng

Trang 8

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 8 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

Chấp phiếu ngân hàng

Là giấy do một công ty phát hành, bảo đảm rằng một ngân hàng sẽ thanh toán vô điều kiện một khoản tiền nhất định vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người nắm giữ giấy này Công ty trước khi phát hành công cụ này buộc phải gửi vào tài khoản ngân hàng một khoản tiền tương ứng với lượng tiền ghi trên chấp phiếu Người nắm chấp phiếu ngân hàng cũng

có thể chiết khấu lại trên thị trường để thu tiền trước Lãi suất của công cụ này tương đối thấp do tính an toàn cao

3.2 Các công cụ trên thị trường vốn

Các công cụ trên thị trường vốn bao gồm các công cụ vốn và các công cụ nợ có thời gian đáo hạn trên một năm Loại công cụ này có biến động giá mạnh hơn và tính thanh khoản thấp hơn các công cụ trên thị trường tiền tệ và được coi là những khoản đầu tư khá rủi ro Những loại công cụ chính là cổ phiếu (công cụ vốn) và trái phiếu (công cụ nợ) Ngoài ra còn có các công cụ chuyển đổi hoặc các công cụ phát sinh

Cổ phiếu

Trái phiếu

Chứng chỉ quỹ đầu tư

Các khoản tín dụng cầm cố: là các khoản cho vay đối với các doanh nghiệp hoặc các hộ

gia đình để mua nhà ở, đất đai bất động sản và dùng chính các tài sản này làm thế chấp cho khoản vốn vay

Các khoản tín dụng thương mại: là các khoản cho vay trung, dài hạn của các ngân hàng

thương mại hoặc các công ty tài chính cho người tiêu dùng hoặc các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn Các khoản tín dụng này trường không được giao dịch mua bán trên thị trường thứ cấp nên tính thanh khoản rất thấp

Chứng chỉ quỹ đầu tư:

4 Các trung gian tài chính

Trung gian tài chính là những tổ chức làm cầu nối giữa những người cần vốn và những người cung cấp vốn trên thị trường Trung gian tài chính, dù thuộc loại hình nào đi nữa, đều có chung một đặc điểm là phát hành các công cụ tài chính để thu hút vốn Mức chênh lệch mà người trung gian nhận được giữa lãi suất cho vay (hay lợi tức đầu tư) với lãi suất huy động vốn chính là

Trang 9

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 9 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

chí phí trung gian hay hoa hồng trung gian Khi những người có vốn ký thác số vốn của mình vào các trung gian tài chính, khoản đầu tư của họ là đầu tư gián tiếp; còn khi trung gian tài chính đầu tư số vốn này, khoản đầu tư đó là đầu tư trực tiếp

Các tổ chức trung gian tài chính gồm ba nhóm chính: các tổ chức nhận tiền gửi (ngân hàng), các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng và các trung gian đầu tư

4.1 Các tổ chức nhận tiền gửi

Đây là các tổ chức tài chính trung gian lớn nhất trên thị trường tài chính xét theo phạm vi hoạt động và khả năng về vốn Các tổ chức này huy động vốn bằng cách mở tài khoản séc và tài khoản tiết kiệm cho khách hàng, đồng thời sử dụng số vốn huy động được để cho vay theo nhiều hình thức khác nhau hoặc đầu tư vào chứng khoán Thu nhập của các tổ chức này đến từ hai nguồn: thu nhập từ các khoản cho vay và mua chứng khoán; và thu nhập từ các khoản phí

Các tổ chức nhận tiền gửi bao gồm các ngân hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay (S&Ls), các ngân hàng tiết kiệm và các liên hiệp tín dụng

4.2 Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng

Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng như công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí là các trung gian tài chính huy động vốn dựa trên cơ sở hợp đồng theo định kỳ Các tổ chức này có thể dự đoán tương đối chính xác khoản tiền họ sẽ thanh toán trong những năm tới nên không phải lo lắng về việc thiếu vốn như các tổ chức nhận tiền gửi Do đó, các tổ chức này có thể đầu tư các loại chứng khoán dài hạn như trái phiếu, cổ phiếu công ty, các khoản cho vay cầm cố

Công ty bảo hiểm

Công ty bảo hiểm là những trung gian tài chính đảm nhận việc thực hiện một khoản thanh toán mỗi khi có một sự kiện xảy ra, với một khoản đóng góp trước đó của người muốn thụ hưởng quyền lợi này Công ty bảo hiểm huy động vốn từ các khoản đóng góp của những người tham gia hợp đồng bảo hiểm và sử dụng phần lớn số tiền huy động được để mua trái phiếu Các công ty bảo hiểm cũng có thể đầu tư vào cổ phiếu song số lượng rất hạn chế vì họ ngại tính rủi ro cao của cổ phiếu Thu nhập của công ty bảo hiểm chủ yếu là các khoản phí, ngoài ra còn có các khoản lợi tức đầu tư từ các công cụ tài chính

Quỹ hưu trí

Quỹ hưu trí được thiết lập để thanh toán những khoản lợi ích của những người lao động khi họ về hưu Thành lập ra những quỹ này là các doanh nghiệp tư nhân; các cơ quan nhà nước

Trang 10

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 10 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

hoặc địa phương; các nghiệp đoàn lao động nhân danh thành viên của mình, và cuối cùng là các

cá nhân có nhu cầu

Đặc điểm của quỹ này là nó liên quan đến việc đầu tư vào một tài sản rất kém tính thanh khoản, đó là hợp đồng về tiền hưu trí Tài sản này không được đem sử dụng, dù chỉ là để thế chấp cho một khoản vay cho đến khi về hưu Tuy nhiên, lợi thế của các quỹ này là các khoản đóng góp của các ông chủ, và một khối lượng nhất định đóng góp của người lao động, cũng như thu nhập từ tài sản của quỹ, được phép đóng thuế chậm Về thực chất, quỹ hưu trí là một hình thức trả công của ông chủ mà người làm công không bị đánh thuế cho đến khi rút số tiền này Nó

có tác dụng khuyến khích những người làm công ở lại với doanh nghiệp

4.3 Các trung gian đầu tư

Các trung gian đầu tư bao gồm các công ty tài chính, quỹ tương hỗ và quỹ tương hỗ thị trường tài chính

Công ty tài chính

Công ty tài chính huy động vốn băng cách bán các thương phiếu hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu Sau đó, công ty sử dụng số vốn này cho người tiêu dùng vay để mua sắm nhà cửa, trang thiết bị, xe hơi Một số công ty tài chính được một công ty mẹ thành lập để bán tài sản của công ty mình Chẳng hạn, công ty tín dụng Ford có thể cho khách hàng vay để mua ôtô Ford

Quỹ tương hỗ

Đây là một loại hình trung gian tài chính, huý động vốn bằng cách bán chứng chỉ quỹ cho các cá nhân và dùng vốn đó để đầu tư vào danh mục cổ phiếu và trái phiếu đã được đa dạng hoá Các quỹ tương hỗ thường được quản lý bởi một công ty quản lý quỹ Một công ty quản lý quỹ có thể quản lý nhiều quỹ khác nhau để đa dạng hoá đầu tư do mỗi quỹ thường chỉ tập trung đầu tư vào một số loại chứng khoán nhất định

Quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ

Thể chế tài chính tương đối mới này mang các đặc trưng của quỹ tương hỗ nhưng được phép mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng Giống như hầu hết các quỹ tương hỗ, tổ chức này được phép bán cổ phiếu để huy động vốn đồng thời sử dụng số vốn này để mua các công cụ an toàn và có tính thanh khoản cao trên thị trường tiền tệ Lãi suất của các tài sản này sẽ được thanh toán định kỳ cho cổ đông

Trang 11

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 11 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

II CHỨNG KHOÁN

Chứng khoán là hàng hoá của thị trường chứng khoán Đó là những tài sản tài chính vì nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể bán nó để thu tiền về Theo sự phát triển của thị trường hàng hoá ngày càng phong phú da dạng Nói chung, người ta phân chia chứng khoán thành 4 nhóm chính là cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh

1 Cổ phiếu

Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần

Khi mua cổ phiếu, những người đầu tư (các cổ đông) sẽ rở thành những người chủ sở hữu đối với công ty Mức độ sở hữu đó tuỳ thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà cổ dông nắm giữ Là chủ sở hữu, các cổ đông cùng nhau chia sẻ mọi thành quả cũng như tổn thất trong quá trình hoạt động của công ty Trong trường hợp xấu nhất là công ty phải thanh lý hay phá sản, cổ đông chỉ nhận dược những gì còn lại sau khi công ty đã trang trải xong các khoản nghĩa vụ khác (như thuế, nợ ngân hàng hay trái phiếu ) Cổ phiếu là công cụ không có thời hạn

Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ dông, có hai loại cổ phiếu

cơ bản: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi

1.1 Phân loại cổ phiếu

a Cổ phiêú phổ thông

Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu điển hình nhất Nếu một công ty chỉ được phép phát hành một loại cổ phiếu, nó sẽ phát hành cổ phiếu phổ thông cổ phiếu phổ thông mang lại những quyền sau cho các cổ đông:

Trang 12

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 12 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Quyền mua cổ phiếu mới

Khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn, các cổ đông hiện đang nắm giữ

cổ phiếu phổ thông có quyền được mua trước cổ phiếu mới, trước khi đợt phát hành được chào bán ra công chúng, trong một thời hạn nhất định Lượng cổ phiếu mới được phép mua theo quyền này tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu dang nắm giữ Như vậy, quyền này cho phép cổ đông hiện hữu duy trì tỷ lệ sở hữu của mình trong công ty sau khi công ty đã tăng thêm vốn

Mỗi cổ phiếu đang nắm giữ mang lại cho cổ đông một quyền mua trước Số lượng quyền

cần có để mua một cổ phiếu mới sẽ được quy định cụ thể trong từng đợt chào bán, cùng với giá mua, thời hạn của quyền mua và ngày phát hành cổ phiếu mới

Cổ phiếu bán theo quyền thường có mức giá thấp hơn so với giá thị trường hiện hành Khi cổ đông thực hiện quyền, công ty sẽ huy động được thêm vốn Nếu cổ đông không muốn thực hiện quyền thì họ có thể bán quyền trên thị trường

b Cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi dành cho cổ đông những ưu đãi so với cổ đông phổ thông Kiểu ưu dãi lâu đời nhất và phổ biến nhất là ưu dãi về cổ tức

Trang 13

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 13 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

Cổ phiếu ưu đãi cổ tức ấn định một tỷ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá, hay một mức cổ tức tuyệt đối tôi đa Trong điều kiện công ty hoạt động bình thường, cổ đông ưu dãi sẽ được hưởng mức cổ tức này, vì thế, thu nhập từ cổ tức của cổ phiếu ưu đãi nói chung là cố định Đổi lại điều đó, cổ đông ưu đãi không được tham gia bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của công ty

Trong trường hợp công ty không có đủ lợi nhuận để trả theo tỷ lệ đó công ty sẽ trả theo khả năng có thể Đặc biệt khi thua lỗ, công ty có thể không trả cổ tức ưu đãi, nhưng một khi cổ đông ưu đãi chưa dược trả cổ tức thì cổ đông phổ thông cũng chưa được trả

Trong trường hợp công ty thanh lý tài sản, cổ đông ưu đãi được ưu tiên nhận lại vốn trước cổ đông phổ thông nhưng sau người có trái phiếu

Cổ phiếu ưu đãi cũng có thể kèm theo đó những điều khoản để tăng thêm tính hấp dẫn

của nó Cổ phiếu ưu đãi cộng dồn quy định rằng nếu chưa trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi thì xem

như công ty còn mắc nợ cho dấn khi nào có đủ lợi nhuận để trả, và tất nhiên cho tới khi đó, cổ

đông phổ thông cũng mới được nhận cổ tức Cổ phiếu ưu đãi tham dự cho phép cổ đông ưu đãi

được chia sẻ thành quả hoạt động của công ty khi công ty làm ăn phát đạt Cố đông sẽ được nhận lượng cổ tức cao hơn mức tối đa đã quy định nếu cổ tức trả cho cổ đông thường vượt quá một

mức nhất định Cổ phiếu ưa đãi có thể chuyển đổi cho phép cổ đông, trong những điều kiện cụ

thể có thể chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường, thường là trong điều kiện công ty làm ăn phát đạt

Ngoài cổ phiếu ưu đãi về cổ tức, còn có thể có cổ phiếu ưu đãi về quyền bỏ phiếu (được nhiều phiếu bầu hơn) hay được quyền đòi lại vốn góp (theo Luật doanh nghiệp Việt Nam)

1.2 Lợi tức của cổ phiếu

Người nắm giữ cổ phiếu có thể kỳ vọng ở tài sản tài chính này hai nguồn lợi tức tiềm năng là cổ tức và lãi vốn

a Cổ tức

Như trên dã nói, cổ tức là một phần trong lợi nhuận của doanh nghiệp dành chia cho cổ đông, được gọi là,thu nhập của cổ đông Trừ trường hợp cổ phiếu ưu đãi, nói chung cổ tức là không cố định Tuy nhiên mức độ cao thấp của cổ tức cũng như tính chất ổn định tương đối của việc chi trả cổ tức giữa các ngành và các công ty trong từng ngành có sự khác nhau

Trang 14

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 14 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

b Lãi vốn

Lãi vốn là khoản chênh lệch giữa giá thu được khi bán cổ phiếu và giá đã mua vào Lãi vốn cấu thành một phần quan trọng trong tổng lợi tức mà cổ phiếu đem lại cho cổ đông Tuy nhiên, chỉ khi nào giá cổ phiếu tăng lên thì mới có lãi vốn Nếu giá cổ phiếu giảm xuống thì sẽ gây lỗ vốn Người đầu tư vì thế phải quan tâm tới khả năng tăng giá của cổ phiếu

Giữa mức cổ tức được chi trả và khả năng tăng giá của cổ phiếu không có mối liên hệ cố định Có loại cổ phiếu có mức trả cổ tức cao và ổn định, nhưng lại kém tiềm năng tăng giá Trái lại có loại cổ phiếu trả cổ tức thấp, thậm chí không trả cổ tức, nhưng lại hứa hẹn tiềm năng tăng giá mạnh

2 Trái phiếu

Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường

là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn

2.1 Đặc điểm của trái phiếu

Trái phiếu là một công cụ nợ đòi hỏi người phát hành (còn gọi là người đi vay hay con nợ) hoàn trả cho người cho vay (người đầu tư) khối lượng vốn đã vay cộng với tiền lãi trong một thời hạn nhất định

Những đặc trưng quan trọng của trái phiếu:

a Người phát hành

Bản chất của người phát hành là một đặc trưng quan trọng của trái phiếu Có hai loại người phát hành chính là chính phủ (trung ương và địa phương) và công ty Chính phủ là người phát hành đáng tin cậy nhất do có dược những điều kiện đảm bảo cao nhất cho việc hoàn trả gốc

và trả lãi Còn trong khu vực công ty thì người phát hành có nhiều loại, mỗi loại có khả năng khác nhau trong việc đáp ứng các nghĩa vụ đã thỏa thuận với người cho vay Nói cách khác, có thể coi rủi ro thanh toán của trái phiếu chính phủ là bằng 0, còn các trái phiếu công ty khác nhau

có mức độ rủi ro thanh toán khác nhau

Ngoài rủi ro thanh toán, trái phiếu chính phủ vẫn phải chịu các loại rủi ro khác giống như bất kỳ một trái phiếu công ty nào, như rủi ro lãi suất, rủi ro lạm phát

Trang 15

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 15 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

b Thời hạn

Thời hạn của trái phiếu là số năm mà theo đó người phát hành hứa hẹn đáp ứng những điều kiện của nghĩa vụ Thời hạn của một trái phiếu là ngày chấm dứt sự tồn tại của khoản nợ, người phát hành sẽ thu hồi trái phiếu bằng cách hoàn trả khoản vay gốc Thời hạn này cũng còn được gọi là thời gian đáo hạn của trái phiếu

Nói chung những trái phiếu có thời hạn từ 1 đến 5 năm dược gọi là trái phiếu ngắn hạn;

từ 5 đến 10 năm được gọi là trái phiếu trung hạn; trên 12 năm là những trái phiếu dài hạn

c Mệnh giá và lãi suất cuống phiếu

Mệnh giá của một trái phiếu là khối lượng tiền được ghi trên mặt trái phiếu, mà người phát hành đồng ý hoàn trả cho người nắm giữ trái phiếu tại thời điềm đáo hạn

Lãi suất cuống phiếu, còn gọi là lãi suất danh nghĩa, là lãi suất mà người phát hành đồng

ý trả mỗi năm Khối lượng lãi hàng năm được trả cho người sở hữu trái phiếu trong suốt thời hạn của trái phiếu được gọi là lãi cuống phiếu Lãi suất cuống phiếu đem nhân với mệnh giá trái phiếu sẽ cho lãi cuống phiếu

Thông thường tất cả các trái phiếu đều trả lãi cuống phiếu theo định kỳ, mỗi năm một hoặc hai lần, trừ loại trái phiếu không trả lãi định kỳ (zero-coupon bond) Người nắm giữ trái phiếu này nhận được tiền lãi do việc mua trái phiếu với giá thấp hơn nhiều so với mệnh giá của

nó Khi trái phiếu đáo hạn, lãi sẽ được trả, chính bằng khoản chênh lệch giữa mệnh giá trái phiếu

và giá đã trả để mua trái phiếu đó

Cũng có cả trái phiếu có lãi suất thả nổi với lãi suất cuống phiếu được định kỳ ấn định lại theo một chuẩn nào đó được định trước

Ngoài việc cho biết các khoản thanh toán lãi cuống phiếu mà người dầu tư có thể nhận được trong thời hạn của trái phiếu, lãi suất cuống phiếu còn chỉ ra mức độ mà theo đó giá của trái phiếu sẽ chịu tác động của những thay đổi của lãi suất Nếu các yếu tố khác không đổi, lãi suất cuống phiếu càng cao, giá trái phiếu càng ít thay đổi trước một thay đổi của lãi suất Kết quả là lãi suất cuống phiếu và thời gian đáo hạn có những hiệu ứng ngược chiều đối với tính biến động giá của một trái phiếu

Trang 16

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 16 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

2.2 Phân loại trái phiếu

a Trái phiêu vô danh

Là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành Những phiếu trả lãi đính theo tờ chứng chỉ, và khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàng nhận lãi, và khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới ngân hàng để nhận lại khoản cho vay

b Trái phiêu ghi danh

Là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên chứng chỉ và trên sổ của người phát hành Hình thức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi Dạng ghi danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính

c Trái phiếu chính phủ

Là những trái phiếu do chính phủ phát hành Chính phủ phát hành trái phiếu (hay các công cụ nợ nói chung) nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách; tài trợ cho các công trình công ích; hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ

Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái

phiếu có tính thanh khoản cao Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn

Trái phiếu công trình là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho những mục

đích cụ thể, thường là đê xây dựng những công trình cơ sở hạ tầng hay công trình phúc lợi công cộng Trái phiếu này có thể do chính phủ trung ương hoặc chính quyền địa phương phát hành

d Trái phiếu công ty

Là những trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn dài hạn Đặc điểm chung của trái phiếu công ty là:

- Người nắm giữ trái phiếu được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không được tham dự vào các quyết định của công ty (Cũng có những trái phiếu không trả lãi định kỳ, người mua được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại mệnh giá)

Trang 17

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 17 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Trái phiếu có bảo đảm

Trái phiếu không bảo đảm

Tuy nhiên có những trái phiếu có kèm theo những điều khoản đặc biệt, khiến cho người đầu tư không thể dự kiến chính xác được các khoản thu nhập:

- Trái phiếu có lãi suất thả nổi, trong đó quy định cứ định kỳ (6 tháng, một năm, hai

năm ) lại ấn định lại lãi suất theo thị trường Loại trái phiếu này được phát hành trong những khoảng thời gian có những biến động mạnh về lãi suất thị trường Để hạn chế thiệt hại cho hai bên tham gia việc vay mượn

-Trái phiếu có thể mua lại là loại trái phiếu cho phép người vay (người phát hành) trong

những điều kiện nhất định, có thể mua lại toàn bộ hay một phần những trái phiếu dã phát hành, tức là trả lại vốn cho người cho vay trước khi trái phiếu hết hạn Khi đó, các dòng thanh toán của trái phiếu sẽ kết thúc sớm hơn so với thời hạn của trái phiếu

- Trái phiếu có thể bán lại cho phép người mua trái phiếu trong những điều kiện nhất

định có thể bán lại trái phiếu cho người phát hành, thu hồi vốn trước khi trái phiếu đáo hạn Cũng như trường hợp trên, việc bán lại sẽ phá vỡ dự kiến về các dòng thanh toán nhận được từ trái phiếu trong điều kiện bình thường

- Trái phiếu có thể chuyển đổi cho phép người mua trái phiếu, trong những diều kiện nào

đó, có thể đổi trái phiếu lấy cổ phiếu thường, theo một tỷ lệ và mức giá đã ấn định

2.3 Những nguồn lợi tức tiềm năng của trái phiếu

Trái phiếu có thể đem lại ba khoản lợi tức tiềm năng:

Tiền lãi định kỳ thường trả nửa năm một lần, được quy định bởi lãi suất cuống phiếu

Khoản này dược ấn định từ đầu và không thay đổi cho đến khi trái phiếu đáo hạn

Chênh lệch giá khi trái phiếu đáo hạn, bị mua lại hoặc bị bán ra trước khi đáo hạn Đây

là khoản chênh lệch giữa mức giá mua trái phiếu và giá nhận được trong những trường hợp trên,

nó có thể là dương hoặc âm tuỳ theo chiều hướng biến động của giá trái phiếu Cần lưu ý rằng

Trang 18

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 18 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

giá trái phiếu biến động theo chiều hướng ngược 1ại với biến động của lãi suất mà thị trường đòi hỏi với trái phiếu đó

Lãi của lãi, do tái đầu tư các khoản thanh toán lãi định kỳ Bộ phận này của tổng lợi tức

phụ thuộc vào lãi suất tái đầu tư, tức là thay đổi theo lãi suất thị trường

Tổng lợi tức tiềm năng này chỉ có thể tính toán được chính xác với giả định về một mức lãi suất thị trường xác định và trái phiếu được nắm giữ cho tới khi đáo hạn Nếu trái phiếu bị bán

ra hay bị mua lại trước khi đáo hạn, và nếu lãi suất thị trường thay đổi trong quá trình nắm giữ hay tại thời điểm bán ra, thì lợi suất thực tế mà trái phiếu đem lại cho người nắm giữ nó sẽ cao hơn hoặc thấp hơn mức dự tính với những giả định trên Vì thế, để tính toán lợi tức của một trái phiếu cụ thể để so sánh với lợi tức của các phương án đầu tư khác, cần phải dựa trên những giả định về một kỳ đầu tư cụ thể với một mức thay đổi lãi suất cụ thể trên thị trường

Mặc dù là công cụ đầu tư an toàn hơn so với cổ phiếu,nhưng trái phiếu vẫn có rủi ro Những rủi ro điển hình thường gặp ở trái phiếu là:

-Rủi ro lãi suất: là rủi ro giá của trái phiếu thay đổi khi lãi suất thị trường dao

động Nếu trái phiếu được nắm giữ tới khi đáo hạn thì không có rủi ro này

- Rủi ro tái đầu tư: là rủi ro cũng bắt nguồn từ biến động của lãi suất thị trường,

nhưng tác động tới lợi tức của các khoản tái đầu tư tiền lãi nhận được từ trái phiếu

-Rủi ro thanh toán: xảy ra khi phía người phát hành trái phiếu mất khả năng

thanh toán (tạm thời hoặc do phá sản)

- Rủi ro lạm phát: xảy ra khi các khoản thanh toán cố định của trái phiếu bị

giảm sức mua do tình trạng lạm phát trong nền kinh tế

Tất cả những rủi ro này đều có nghĩa là khoản thu nhập dự kiến nhận được từ một khoản đầu tư vào trái phiếu là không chắc chắn

3 Chứng chỉ quỹ

3.1 Quỹ đầu tư chứng khoán

Theo ngôn ngữ thông thường, một khối lượng tiền do nhiều người góp lại vì một mục

đích chung nào đó được gọi là một quỹ Quỹ đầu tư chứng khoán cũng vậy, nó là quỹ hình thành

từ vốn góp của người đầu tư để đầu tư vào các chứng khoán

Trang 19

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 19 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

3.2 Phân loại quỹ

Dựa trên hình thái vận động của vốn, có thể phân loại thành quỹ đóng và quỹ mở

Trong quỹ đóng, các chứng chỉ hay cổ phần quỹ chỉ được phát hành một lần, với một số lượng xác định Sau khi phát hành lần đầu ra công chúng, quỹ không mua lại những chứng chỉ -

cổ phần khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại cũng không phát hành bổ sung Người đầu tư nào muốn mua hay bán cổ phần hay chứng chỉ của quỹ sẽ tiến hành giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung, giống như với bất kỳ một chứng khoán niêm yết nào khác.Thông qua những giao dịch trên thị trường thứ cấp như thế, vốn sẽ lưu chuyển giữa các nhà đầu tư với nhau mà không làm ảnh hưởng tới nguồn vốn của quỹ Quỹ đóng thích hợp cho việc kinh doanh các chứng khoán có mức độ biến động cao và ít được giao dịch

Trái lại, quỹ đầu tư dạng mở liên tục phát hành cổ phiếu hay chứng chỉ ra công chúng, số lượng cổ phần hay chứng chỉ có thể không hạn chế; và quỹ sẵn sàng mua lại cổ phiếu hay chứng chỉ mỗi khi người đầu tư có nhu cầu bán Cổ phiếu hay chứng chỉ của quỹ mở không giao dịch trên thị trường thứ cấp mà giao dịch thẳng với quỹ hoặc các đại lý được ủy quyền của quỹ

Thứ nhất, cổ phiếu là phương tiện huy động vốn của một công ty kinh doanh một vài ngành nghề cụ thể còn chứng chỉ quỹ là phương tiện để thành lập quỹ của một quỹ đầu tư chứng khoán mà ngành nghề hoạt động chính là " đầu tư chứng khoán"

Thứ hai, nếu người sở hữu cổ phiếu phổ thông có quyền biểu quyết hay quản lý công ty thì nhà đầu tư sở hữu chứng khoán quỹ không có quyền tương tự, mọi quyền hành đều do công

ty quản lý quỹ quyết định

Người chủ sở hữu chứng chỉ hay cổ phần quỹ đầu tư sẽ kiếm được tiền theo ba cách:

(l) Nhận cổ tức của quỹ Khoản cổ tức này được chi trả từ số thu nhập của các khoản đầu

tư của quỹ, ví dụ cổ tức của cổ phiếu, tiền lãi từ trái phiếu

Trang 20

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 20 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

(2) Nhận được khoản lợi vốn (hoặc lỗ vốn) khi nhà quản lý quỹ bán ra một phần trong danh mục đầu tư của quỹ để thu lợi nhuận

(3) Được hưởng lợi từ những thay đổi có lợi trong giá trị thị trường

Ngoài ra người ta cũng có thể tái đầu tư những khoản phân phối từ cổ tức hay lợi vốn vào quỹ, tức là có thêm cổ phần của quỹ và tiếp tục được hưởng những lợi ích như trên đối với những cổ phần mới này

4 Các chứng khoán phái sinh

1 Cấu trúc và phân loại cơ bản TTCK

1.1 Xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường, TTCK có hai loại:

- Thị trường sơ cấp (Primary market)

Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành

- Thị trường thứ cấp (Secondary market)

Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành

Trang 21

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 21 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

1.2 Căn cứ vào phương thức tổ chức giao dịch của thị trường có hai hình thức: thị trường phi tập trung và thị trường tập trung

a.Thị trường phi tập trung – Over the counter market - OTC

Định nghĩa: Thị trường OTC là thị trường không có trung tâm giao dịch tập trung, đó là

một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu

tư, các hoạt động giao dịch của thị trường OTC được diễn ra tại các quầy (sàn giao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán

Đặc điểm quan trọng nhất của thị trường OTC để phân biệt với thị trường chứng khoán tập trung là cơ chế xác lập giá bằng hình thức thương lượng và thỏa thuận song phương giữa người bán và người mua là chủ yếu, còn hình thức xác lập giá bằng đấu lệnh chỉ được áp dụng hạn chế và phần lớn các lệnh nhỏ Thời kỳ ban đầu của thị trường, việc thương lượng giá theo thỏa thuận trực tiếp-“mặt đối mặt” song cho đến nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc thương lượng có thể được thực hiện qua điện thoại và hệ thống mạng máy tính điện tử diện rộng

Thị trường OTC đóng vai trò của một thị trường thứ cấp, từc là thực hiện vai trò điều hòa, lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hóa các nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn để đầu tư phát triển kinh tế

b.Thị trường niêm yết tập trung (Exchanges)

Thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán): là thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch (trading floor) Các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch thông thường là chứng khoán của những công ty lớn, có danh tiếng, đã qua thử thách của thị trường Phương thức giao dịch tại Sở giao dịch là phương thức đấu giá, trong đó các lệnh mua, bán được ghép với nhau để hình thành giá

cả cạnh tranh tốt nhất

2 Chức năng của các thị trường Chứng Khoán

2.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn

Trang 22

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 22 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội

2.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và

sở thích của mình

2.3 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao

2.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

2.5 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ

để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế

3 Các tổ chức liên quan

- Cơ quan quản lý Nhà nước: Là các cơ quan nhà nước do Chính phủ các nước thành lập

để giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán, bảo vệ lợi ích người đầu tư và bảo đảm cho

Trang 23

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 23 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

thị trường hoạt động lành mạnh, suôn sẻ và phát triển vững chắc Tuỳ mỗi quốc gia mà cơ quan này có tên gọi khác nhau Ở Việt Nam, cơ quan chủ quản của thị trường là Uỷ ban Chứng khoán

Nhà nước, trực thuộc Bộ tài chính

- Sở giao dịch chứng khoán: Sở giao dịch chứng khoán là một hệ thống thực hiện vận

hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ cho giao dịch chứng khoán Sở giao dịch cũng ban hành những quy định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở, phù hợp với quy định của luật pháp và UBCK Ở Việt Nam, sở GDCK TP HCM và trung tâm GDCK HN1 đều thực thi các chức năng của một sở GDCK

- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: Là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng

lực thanh toán vốn gốc và lãiđúng thời hạn và theo những điều khoản cam kết của các công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể Các nhà đầu tư có thể căn cứ vào các hệ số tín nhiệm này để đưa ra lựa chọn đầu tư Hệ số này được biểu hiện bằng các chữ cái hay chữ số, tuý theo quy định của từng công ty xếp hạng Những công ty xếp hạng uy tín trên thế giới như S&P, Moody's thường ký hiệu các hệ số tín nhiệm là Aaa, Aa1, B1, hay AAA, AA, AA+, AA-,

IV CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1 Giới thiệu về công ty chứng khoán

Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh và bảo lãnh phát hành

2 Các chức năng cơ bản của công ty chứng khoán

- Tạo ra cơ chế huy động vốn linh họat giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng

vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)

- Cung cấp cơ chế giá cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh)

- Tạo ra tính thanh khỏan cho chứng khóan (hóan chuyển chứng khoán từ tiền mặt, và

ngược lại từ tiền mặt ra chứng khóan một cách dễ dàng)

- Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường thông qua họat động tự doanh hoặc vai trò nhà

tạo lập thị trường

1 Ở Việt Nam, Trung tâm giao dịch chứng khoán là mô hình bậc thấp của Sở giao dịch chứng khoán

Trang 24

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 24 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

3 Nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán

3.1 Môi giới chứng khoán

Là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua bán chứng khoán cho khách hàng

- Thực hiện khảo sát, đánh giá, xác định lại giá trị doanh nghiệp

- Xác định mức giá nhận bảo lãnh phát hành

- Tư vấn hồ sơ xin phép phát hành trình cơ quan có thẩm quyền (nếu có)

- Quảng bá, tổ chức các chương trình Roadshow giới thiệu về đợt phát hành

- Tìm kiếm và đàm phán với các nhà đầu tư, đối tác chiến lược

- Tổ chức đấu giá trực tuyến toàn quốc (nếu được yêu cầu)

3.4 Tư vấn đầu tư chứng khoán

Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán thực hiện các nghiên cứu phân

tích chứng khoán, cung cấp thông tin kịp thời và tin cậy kèm theo nhận định đánh giá giúp khách hàng đưa ra quyết định đầu tư phù hợp nhất Khách hàng được cung cấp bản tin ngày, tuần và tháng miễn phí qua email hoặc tại quầy giao dịch Ngoài ra, công ty chứng khoán còn thực hiện các phân tích chuyên sâu theo ngành, hàng, các nhóm cổ phiếu, trái phiếu, các công ty đặc thù theo yêu cầu

Trang 25

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 25 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

Ngoài các nghiệp vụ trên công ty chứng khoán còn thực hiện các nghiệp vụ sau:

- Lưu ký chứng khoán: là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho

khách hang, giúp khách hang thực hiện các quyền lien quan đến sở hữu chứng khoán

- Tư vấn niêm yết: Các chuyên viên tư vấn giàu kinh nghiệm của các công ty chứng khoán sẽ hỗ trợ khách hàng nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ, thủ tục pháp lý trình Uỷ Ban Chứng Khoán và Trung tâm Giao dịch Chứng khoán phê duyệt niêm yết chứng khoán

- Tư vấn tài chính doanh nghiệp: Công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính

cho các doanh nghiệp, tập đoàn đầu tư trong nước và nước ngoài Dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp bao gồm: Tư vấn cổ phần hóa; Tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp; Dịch vụ sáp nhập và chuyển nhượng doanh nghiệp (M&A); Các dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp khác

CHƯƠNG II:

CÁCH THỨC GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1 Thời gian giao dịch

1.1 Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư:

1.2 Đối với trái phiếu:

- Từ 8h30-11h00 : Giao dịch thỏa thuận

Trang 26

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 26 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

2.2 Phương thức thoả thuận:

Là phương thức giao dịch mà các thành viên tự thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch và được đại diện giao dịch của thành viên nhập thông tin vào hệ thống giao dịch để ghi nhận

- Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư được giao dịch theo phương thức khớp lệnh và thoả thuận

- Trái phiếu được giao dịch theo phương thức thoả thuận

3 Lệnh giao dịch

3.1 Các loại lệnh

a Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa (viết tắt là ATO) là lệnh

đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa

Lệnh ATO được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh

Lệnh ATO được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ

để xác định giá mở cửa và sẽ tự động bị hủy bỏ sau thời điểm xác định giá mở cửa nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết

b Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa (viết tắt là ATC) là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá đóng cửa

Lệnh ATC được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh

Trang 27

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 27 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

Lệnh ATC được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá đóng cửa và sẽ tự động bị hủy bỏ sau thời điểm xác định giá đóng cửa nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết

Ví dụ về lệnh LO (liên tục)

Cổ phiếu AAA

Trang 28

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 28 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

Giá tham chiếu: 99

Sổ lệnh như sau: (A) (B) (C) là thứ tự lệnh nhập vào hệ thống

- Nếu KL đặt lệnh của lệnh MP vẫn còn theo nguyên tắc ở trên và không thể tiếp tục khớp thì lệnh MP sẽ được chuyển thành lệnh LO mua (bán) tại mức giá cao (thấp) hơn một bước giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó

- Không nhập được khi không có lệnh đối ứng (No market price available)

Trang 29

Đoàn trường ĐH Ngoại Thương – Câu lạc bộ Chứng Khoán - 29 -

Địa chỉ: Tầng 6 nhà B – ĐH Ngoại Thương – 91 Chùa Láng, Hà Nội

Email: sic.ftu@gmail.com

4 Nguyên tắc khớp lệnh

4.1 Ưu tiên về giá:

- Lệnh mua có mức giá cao hơn được ưu tiên thực hiện trước;

- Lệnh bán có mức giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện trước;

4.2 Ưu tiên về thời gian:

Trường hợp các lệnh mua hoặc lệnh bán có cùng mức giá thì lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước;

5 Biên độ dao động giá:

a Biên độ dao động giá quy định trong ngày giao dịch đối với giao dịch cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư là 5% trên HSX và 7% trên HNX

b Biên độ dao động giá đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư được xác định như sau: Giá tối đa (Giá trần) = Giá tham chiếu + (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá) Giá tối thiểu (Giá sàn) = Giá tham chiếu – (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá)

c Không áp dụng biên độ dao động giá đối với giao dịch trái phiếu

d Biên độ dao động giá áp dụng cho cổ phiếu và chứng chỉ quỹ mới niêm yết trong ngày giao dịch đầu tiên là 20%

e Biên độ dao động giá không áp dụng đối với chứng khoán trong một số trường hợp sau:

- Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư được giao dịch trở lại sau khi bị tạm ngừng giao dịch trên 30 ngày;

- Các trường hợp khác theo quyết định của HSX và HNX

6 Giá tham chiếu

Trên HSX: Giá tham chiếu của cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư đang giao dịch là giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất trước đó trên HSX

Trên HNX:

Ngày đăng: 12/09/2016, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w