- Thời gian này, Đỗ Phủ từ quan nhưng không về lại quê nhà Hà Nam lúc ở Thành Đô, lúc ở Quý Châu nỗi nhớ quê hương... Lời thơ thể hiện nỗi lòng trước thời thế vì tình cảm nhớ thương đ
Trang 2Đọc văn
Trang 4Trung Quốc mệnh danh là “Thi thánh” (Thánh thơ)
2 Vị trí và hoàn cảnh sáng tác bài thơ :
- Là bài thơ mở đầu cho chùm thơ thu gồm 8 bài của Đỗ Phủ
- Thời gian này, Đỗ Phủ từ quan nhưng không về lại quê nhà (Hà Nam) lúc ở Thành Đô, lúc ở Quý Châu nỗi
nhớ quê hương
Trang 61 Bốn câu đầu : Cảnh thu
-Khung cảnh thu ở Quỳ Châu
+ Hình ảnh : Sương móc trắng xóa
tiêu điều, tang thương cả rừng phong
Núi Vu, Kẽm Vu
+ Không gian : 3 chiều
Chiều dài, rộng : rừng phong
Chiều cao : núi Vu
Chiều sâu : Hẽm Vu
Sự tiêu điều, hiu hắt, bi thương lan tỏa khắp không gian khác với không khí êm dịu mơ màng của mùa thu trong thơ ca truyền thống.
hơi thu hiu hắt, ảm đạm
Trang 7-Hình ảnh đối lập :
Giang giang ba lãng Thiên địa phong vân
(Cao)
(Thấp)
Cảnh thu chuyển động dữ dội tạo nên một cảnh tượng vừa hùng vĩ vừa bi tráng
Sự chuyển động chao đảo của cảnh vật cũng là sự chao đảo của xã hội tao loạn lúc bấy giờ Lời thơ thể hiện nỗi lòng trước thời thế vì tình cảm nhớ thương
đến tuyệt vọng của nhà thơ
Tóm lại :Cảnh sắc thu mang dấu ấn của địa phương Quỳ Châu( vừa âm u, vừa hùng vĩ).Cảnh sắc ấy mang
phong cách thơ Đỗ Phủ: trầm uất, bi tráng.
><
Trang 82 Bốn câu sau : Tình thu
-Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
-Cô chu nhất hệ cố viên tâm
hình ảnh ẩn dụ liên tưởng -
sự đồng nhất cùng lúc nhiều sự vật, hiện tượng
Nhà thơ đã thể hiện một cách sinh động sâu lắng và
hàm xúc tình cảm thương nhớ quê hương da diết.
+Đồng nhất giữa tình và cảnh(nhìn hoa cúc nở trông như xoè ra những cánh hoa bằng nước mắt)
+Đồng nhất giữa hiện tại và quá khứ(giọt lệ hiện tại cũng
là giọt lệ của quá khứ gần, quá khứ xa)
+Đồng nhất giữa sự vật và con người(dây buộc thuyền
cũng là dây thắt lòng người)
Trang 9-Hàn y xứ xứ thôi đao xích
-Bạch đế thành cao cấp mộ châm
+ Âm thanh : tiếng chày đập (giặt) áo cũ
từ ngữ vừa gợi âm thanh, vừa gợi hình ảnh
Cảnh nhộn nhịp của người dân nơi đất khách đang
chuẩn bị cho mùa đông sắp đến làm nao lòng người tha hương, gợi cho nhà thơ nỗi nhớ quê hương quay quắt
Trang 101 Đỗ Phủ từng nói: "Làm người tính thích câu văn đẹp - Đọc chẳng kinh người chẳng chịu thôi" Đọc bài "Thu
hứng" này, ta cảm nhận cái hay của áng thơ thất ngôn bát
cú, mà mỗi câu, mỗi chữ đều mang cái "thần" của nó, phô diễn cảnh và tình bằng nhiều hình tượng cảm động Rừng phong phương Bắc trong khí thu mờ, con thuyền lẻ loi
vườn xưa với những hàng lệ của kẻ xa quê làm ta thổn thức và nhớ mãi
Trang 112 Nỗi nhớ quê nhà, ước mơ được trở về vườn cũ, thăm ngôi nhà xưa nơi chôn rau cắt rốn không chỉ là tình cảm riêng, ước mơ riêng của Đỗ Phủ mà còn là tình cảm và ước mơ chung của hàng triệu
con người trong loạn lạc chiến tranh, xưa và nay
Vì thế, "Thu hứng"chan chứa tình đời có giá trị
nhân văn tuyệt đẹp
Trang 12Bài thơ miêu tả bức tranh thiên nhiên
hùng vĩ mà hiu hắt, sôi động mà nhạt nhòa trong sương khói mùa thu; đồng thời hiện diện một tâm trạng buồn xót xa với nỗi nhớ quê hương của nhà thơ.
Trang 13Đọc thêm
Trang 141 Tác giả : Thôi Hiệu (704 – 754)
- Người Biện Châu, tỉnh hà Nam, Trung Quốc
- Đỗ tiến sĩ năm 21 tuổi, để lại 40 bài thơ
2 Bài thơ : viết về lầu Hoàng Hạc, một thắng cảnh đẹp
nổi tiếng của Hồ Bắc( Trung Quốc)
3 Văn bản :
- Quan hệ giữa xưa và nay, giữa xa và gần, giữa thời
gian và không gian, giữa thực và hư, giữa cảnh và tình
Biểu hiện suy tư sâu lắng đầy triết lí nhưng vẫn
hướng về hiện tại Đó là “hướng quan”
Trang 15- Cảnh xưa-nay, cảnh
xa-gần, cảnh thực- hư tất cả
đều đẹp nhưng tất cả đều
“mĩ nhân sầu” (khiến người
buồn)
Nỗi lòng của kẻ tha hương xa xứ : lòng thương nhớ quê hương vời vợi
Trang 16* Tóm lại : Bài thơ Lầu
Hoàng Hạc thể hiện một tâm hồn nhạy cảm trước cái đẹp
và trân trọng cái đẹp của nhà thơ
Trang 171 Tác giả : SGK
2 Văn bản :
-Khuê trung- bất tri sầu Ngây thơ, vô tư, không biết buồn
Tâm trạng rất bình thường của người phụ nữ dưới thời phong kiến
- Ngưng trang - thướng thúy lâuvẫn tiếp tục làm những công việc bình thường cũa người phụ nữ khuê các
Tâm trạng bình yên, không buồn, không hề lo âu
a Hai câu đầu
Trang 18b) Hai câu cuối :
- Hốt : giật mình, thảng thốt
- Sắc dương liễu : sắc xuân trong thơ ca cổ Trung Quốc
(Theo phong tục Trung Quốc, khi tiễn đưa người ta thường
bẻ cành dương liễu để tặng người lên đường sự li biệt)
Mùa xuân và tuổi trẻ, màu của biệt li
Sức sống mùa xuân tác động đến tâm trạng suy nghĩ của người chinh phục, khiến nàng nhận thức rõ sự lẻ loi, cô
độc, tuổi trẻ đang trôi qua một cách vô vọng
- Hối Hối tiếc cho tuổi xuân trôi qua một cách hoài phí
Hối hận vì đã động viên chồng ra trận
Oán “ấn phong hầu”, oán cuộc chiến tranh phi nghĩa,
chiến tranh là tai họa
Trang 19* Tóm l iại : Bằng lối phản đề độc
Trang 201.Tác giả : Vương Duy (701-706)
là sự hoà quyện giữa con người và thiên nhiên
+ Hình ảnh gợi nên âm thanh, âm thanh gợi nên hình ảnh gắn bó
Trang 21* Tóm lại : Bài thơ thể hien một
tâm hồn thi sĩ nhàn tản đồng cảm trước khung cảnh thiên nhiên thơ mộng Đó là một tâm hồn bình yên trong thiên nhiên tĩnh lặng