Chương 2 CHẤT LƯỢNG NƯỚCNước là thành phần quan trọng hàng đầu của tầng sinh quyển. Khả năng phục vụ của tầng sinh quyển đối với cuộc sống cũng như sức khỏe và chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào chất lượng nước. Việc được cung cấp đầy đủ nguồn nước sạch đóng vai trò quan trọng sống còn đối với nông nghiệp, dân sinh, các hoạt động giải trí, cuộc sống tự nhiên, các hoạt động sản xuất, khai thác… Do sự cạnh tranh nguồn nước tăng lên, việc quản lý và bảo vệ hợp lý nguồn nước trở nên quan trọng. Trong lịch sử, nhiệm vụ cơ bản của phát triển nông nghiệp đã được xác định là sản lượng, tức là tối đa hóa khả năng trồng trọt và năng suất. Khi sản lượng được coi là mục tiêu hàng đầu thì chất lượng môi trường dần trở nên xấu đi. Sự suy giảm môi trường sống tự nhiên đã kích thích những thay đổi lớn trong các hoạt động khoa học và sản xuất. Hiện nay, các mục tiêu duy trì và cải thiện chất lượng môi trường đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển các chiến lược thiết kế và quản lý. Nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng… và những lĩnh vực phát triển khác đều chịu sự điều hành của chính quyền địa phương và trung ương về các vấn đề liên quan đến sử dụng nước, quản lý dòng chảy, và sự vận chuyển các chất ô nhiễm.
Trang 1Chương 2 CHẤT LƯỢNG NƯỚC
Nước là thành phần quan trọng hàng đầu của tầng sinh quyển Khả năng phục vụ
của tầng sinh quyển đối với cuộc sống cũng như sức khỏe và chất lượng cuộc sống phụ
thuộc vào chất lượng nước Việc được cung cấp đầy đủ nguồn nước sạch đóng vai trò
quan trọng sống còn đối với nông nghiệp, dân sinh, các hoạt động giải trí, cuộc sống tự
nhiên, các hoạt động sản xuất, khai thác… Do sự cạnh tranh nguồn nước tăng lên, việc
quản lý và bảo vệ hợp lý nguồn nước trở nên quan trọng
Trong lịch sử, nhiệm vụ cơ bản của phát triển nông nghiệp đã được xác định là
sản lượng, tức là tối đa hóa khả năng trồng trọt và năng suất Khi sản lượng được coi là
mục tiêu hàng đầu thì chất lượng môi trường dần trở nên xấu đi Sự suy giảm môi
trường sống tự nhiên đã kích thích những thay đổi lớn trong các hoạt động khoa học và
sản xuất Hiện nay, các mục tiêu duy trì và cải thiện chất lượng môi trường đóng vai trò
quan trọng trong sự phát triển các chiến lược thiết kế và quản lý Nông nghiệp, lâm
nghiệp, xây dựng… và những lĩnh vực phát triển khác đều chịu sự điều hành của chính
quyền địa phương và trung ương về các vấn đề liên quan đến sử dụng nước, quản lý
dòng chảy, và sự vận chuyển các chất ô nhiễm
Rất nhiều trường hợp điển hình trên thế giới cho thấy các hoạt động theo hướng
chú trọng vào sản lượng đã gây ra những mối đe dọa hoặc sự suy giảm đối với môi
trường Dưới đây là một số ví dụ:
Tại thung lũng San Joaquin, bang California, Mỹ, hàm lượng selen trong hồ
Kesterson tăng lên đến mức gây ra những dị tật nghiêm trọng cho các loại
chim cư trú tại đây Selen tồn tại trong tự nhiên đã bị thấm rỉ từ các vùng được
tưới và chảy theo kênh tiêu San Luis vào trong hồ Do hồ này không có cửa
thoát nước, nó hoạt động như một bể bốc hơi và các chất hòa tan bị cô đặc cho
đến khi đạt tới nồng độ nhiễm độc Hồ này và mương tiêu đã bị yêu cầu đóng
lại Bộ Nội vụ Mỹ đã không cho phép mương tiêu hoạt động từ năm 1986 Vấn
đề tiêu cho vùng San Luis của Thung lũng Trung tâm vẫn chưa được giải
quyết
Hoạt động sản xuất chăn nuôi tập trung tại một số vùng ở Mỹ đã gây ra sự mất
cân bằng dinh dưỡng khi các chất dinh dưỡng được hấp thụ qua thức ăn (và
sau đó thải ra thành chất thải) vượt quá lượng có thể sử dụng hiệu quả đối với
cây trồng Sự sử dụng quá mức các loại chất thải của động vật vào đất canh tác
gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm Các chất phụ gia trong thức ăn
như đồng, kẽm có thể tích tụ trong đất đến giới hạn gây nhiễm độc đối với cây
trồng Ngoài ra còn có cả sự gia tăng của các hoóc môn kích thích và chất
kháng sinh trong thức ăn
Một dự án tưới lớn của Liên Xô (cũ) được xây dựng nhằm chuyển một lượng
nước lớn từ hai con sông Amu Darya và Syr Darya để tưới cho vùng biển Aral
trên biên giới giữa Kazakhstan và Uzbekistan Tổn thất do bốc hơi hiện nay
vượt quá lượng nước lấy vào Diện tích bề mặt của biển đã bị giảm xuống gần
một nửa và dung tích giảm khoảng ¾ kể từ đầu những năm 1960 cùng với
Trang 2đường bờ biển bị lùi vào khoảng 10 km Một vùng biển giàu sản lượng cá đã
bị biến thành vùng nước quá mặn, ít thích hợp cho các loài có thể sống sót
Việc khai thác một lượng lớn nước của sông Colorado ở miền Tây Mỹ và
Mexico đang làm thay đổi môi trường sinh thái của các nhánh hạ lưu và các
lưu vực của nó ở khu vực vịnh California Lượng nước này được sử dụng cho
cả mục đích tưới và cấp nước đô thị Do sự khai thác quá mức, hiện nay mực
nước sông Colorado chỉ có thể đạt tới cao trình cửa cống thoát ra tại vịnh
California trong những năm mưa nhiều
Những trang trại lớn ở miền Trung nước Mỹ tập trung hàng ngàn con gia súc
trong những khu vực tương đối nhỏ Nước thải từ những khu vực này rất giàu
dinh dưỡng và sẽ gây ra các tác động rất xấu nếu để chúng xâm nhập vào
nguồn nước mặt Việc tập trung dòng chảy và áp dụng các biện pháp xử lý có
thể giảm được phần lớn lượng dinh dưỡng thải ra từ các hoạt động trang trại
chăn nuôi
Rất nhiều các loại thuốc diệt cỏ được sử dụng phổ biến và được tìm thấy trong
các nguồn nước, đôi khi hàm lượng của chúng vượt quá ngưỡng cho phép đối
với sức khỏe Mặc dù được sử dụng không thường xuyên nhưng việc bảo quản
không tốt các hóa chất và nước rửa dụng cụ thường bị cho là nguyên nhân gây
nhiễm bẩn nguồn nước Sự quan tâm đến vấn đề này đã dẫn tới một số thay đổi
lớn trong các loại hóa chất được phép sử dụng Các quy định về mức có thể
chấp nhận được trong việc hòa tan hóa chất và rửa dụng cụ đã được đề xuất để
ngăn chặn những nguồn ô nhiễm trực tiếp
Rất nhiều trạm xử lý chất thải đô thị, nước thải mặt đất, và bùn cát có chứa
một lượng ít kim loại nặng Độ pH của đất ở những vùng này cần được quản lý
chặt chẽ trong nhiều năm để có thể đảm bảo rằng lượng kim loại tồn tại ở dạng
không bị hòa tan và không hoạt động Nếu để xảy ra sai sót trong việc này có
thể khiến cho kim loại thấm vào nguồn nước ngầm
Những ví dụ trên cho thấy rằng nhiều hoạt động dù được chú ý cẩn trọng vẫn có
thể có gây ra những tác hại không dự tính được cho những khu vực thường ở xa những
vùng mà các hoạt động đó được thực hiện Tác động của một hoạt động riêng biệt tại
một khu vực nhỏ có thể không quan trọng, nhưng tác động tích lũy của chúng ảnh
hưởng rất lớn Nhiều tổ chức có trách nhiệm quản lý hệ sinh thái hiện đang được trao
quyền điều hành các hoạt động này trong phạm vi địa phương, nhà nước, khu vực, hoặc
lưu vực sông
Tác động của con người đã làm cho hệ sinh thái thay đổi rất nhiều, và rất có thể
sẽ còn tiếp diễn Sức ép của sự tăng dân số và yêu cầu cải thiện tiêu chuẩn cuộc sống
tiếp tục ảnh hưởng đến quá trình phát triển Các nhà khoa học có trách nhiệm vừa phải
đáp ứng các nhu cầu xã hội vừa phải bảo vệ các lợi ích xã hội từ việc duy trì, cải thiện
chất lượng môi trường và chất lượng nguồn tài nguyên Để đối phó với những thách
thức đó, các nhà khoa học cần phải có kinh nghiệm trong rất nhiều lĩnh vực để có khả
năng sử dụng nguồn tài nguyên nhằm đạt được mục đích sử dụng tối đa với những tác
động tối thiểu đến môi trường Họ phải có kinh nghiệm trong việc đề xuất các chính
sách nhằm hạn chế, ngăn chặn, hoặc yêu cầu những hoạt động có tính chắc chắn Các
nhà khoa học có thẩm quyền cần có tiếng nói trong việc thay đổi các chính sách và điều
luật công cộng
Trang 3Các vấn đề chất lượng nước
Các thông số chất lượng nước được đo trực tiếp gồm có hàm lượng của các chất ô
nhiễm sinh học, hóa học và vật lý Chất lượng của môi trường sống thủy sinh còn bao
gồm thêm các thông số khác như nhiệt độ, đặc điểm dòng chảy, độ đục, và ôxy hòa tan
Tiêu chuẩn chất lượng nước thay đổi tùy theo mục đích sử dụng Các tiêu chuẩn
và quy định đã được ban hành đối với nước uống, nước xả từ các trạm xử lý nước thải
công nghiệp và dân sinh, nước xả trên bề mặt từ các hoạt động nông nghiệp, các hoạt
động lâm nghiệp và một lượng ít nước thải trên mặt đất Tổ chức điều hành cao nhất ở
Mỹ là Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA), nhưng rất nhiều các tổ chức hành pháp địa
phương và nhà nước cũng áp đặt các tiêu chuẩn Hầu hết các tiêu chuẩn hiện tại của các
tổ chức này được công bố trên mạng internet
Rất nhiều yếu tố có thể liên quan đến tình trạng chất lượng nước: pH, nhiệt độ, ô
xy hòa tan, độ đục, chất lắng cặn, chất dinh dưỡng, các chất vô cơ khác, độ cứng, chất
hữu cơ, độ mặn, thuốc trừ sâu, chất lỏng không hòa tan nước, hoặc các chất ô nhiễm từ
các hoạt động của con người như các chất hòa tan, PCB (Polychlorinated biphenyl: hợp
chất hữu cơ có từ 1 đến 10 nguyên tử clo gắn vào biphenyl, một phân tử bao gồm hai
vòng benzen), và chất độc dioxin Để xác định một cách chính xác tình trạng chất lượng
nước cần chú ý các vấn đề sau:
Nguyên nhân hoặc nguồn gây ô nhiễm: tự nhiên, nguồn gốc con người, hay cả
hai? Độ lớn hoặc cường độ của các nguồn ô nhiễm?
Hàm lượng: (1) không gây tác hại, (2) có thể chịu được, (3) nhiễm độc do các
hoạt động lâu dài, (4) nhiễm độc tức thời
Tác động đến môi trường đất, thực vật, hay các loài thủy sinh
Độ hòa tan, độ bay hơi, tỷ trọng Các dạng lý tính hoặc hóa tính chiếm ưu thế
Cơ chế vận chuyển, lưu chuyển, khuyếch tán
Các phản ứng, sinh học hay hóa học, trong nước ngầm hoặc nước mặt Mức độ
Xử lý, xả tháo? Các phương pháp có sẵn Hiệu quả Giá thành Tính thực tế
Các yêu cầu và kiểm soát quy định Cơ quan nào có quyền?
Các vấn đề chất lượng nước là không hề đơn giản Danh sách kể trên cho thấy rất
nhiều yếu tố như vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế, xã hội, và chính trị… có thể đóng vai
trò quan trọng Trong khuôn khổ giới thiệu một số vấn đề về chất lượng nước, một số
chủ đề chính sẽ được thảo luận kỹ dưới đây
Trang 42.1 Tình trạng dinh dưỡng
Nước có thể được phân loại dựa trên điều kiện dinh dưỡng (liên quan đến hàm
lượng chất dinh dưỡng) hay hiệu suất sử dụng Việc phân loại dinh dưỡng dựa trên một
tỷ lệ thay đổi liên tục từ dinh dưỡng thấp (tương ứng với tình trạng nghèo dinh dưỡng
và hiệu suất thấp) cho đến trung dưỡng (hàm lượng chất dinh dưỡng vừa phải và hiệu
suất trung bình) và phú dưỡng (giàu dinh dưỡng và hiệu suất cao) Sức sản xuất cao
không phải lúc nào cũng cần thiết Rất nhiều loài cá sống tốt trong nước có điều kiện
dinh dưỡng thấp, nơi nước có xu thế trong hơn (độ sâu trung bình của đĩa Secchi – Hình
2.1 - khoảng 3 m) Nước ở tình trạng phú dưỡng (hay nước trương nở) có xu thế bị đục
(độ sâu trung bình của đĩa Sechi thấp hơn 1 m) Hàm lượng lớn các chất hữu cơ làm cho
các hệ thống phú dưỡng (Hình 2.2) có xu thế bị thiếu ôxy Bảng 2.1 giới thiệu một số
tiêu chuẩn xác định các tình trạng dinh dưỡng khác nhau
Cùng với sự phát triển của tự nhiên, điều kiện dinh dưỡng của các hồ chứa thay
đổi từ nghèo dinh dưỡng đến phú dưỡng thông qua sự tích tụ các chất hữu cơ và chất
lắng cặn Quá trình này diễn ra trong hàng nghìn năm Tác động của con người có thể
làm tăng rất nhanh quá trình này, nhưng đôi khi tạo ra quá trình ngược lại thông qua các
hoạt động nhằm cải thiện sự quản lý dinh dưỡng và điều chỉnh xói mòn (xem thêm các
Chương 7 đến 10 và 12 đến 14)
Hình 2.1 Đĩa Secchi Đĩa
được thả sâu xuống nước
cho đến khi không thể nhìn
thấy nó nữa Độ sâu đo
được là một chỉ số về độ
trong suốt của nước
Hình 2.2 Tảo trong một hồ chứa nước ở Iowa (Nguồn: Lynn Betts, NRCS)
Trang 5Bảng 2.1 Phân loại tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng Đặc điểm xác định
Dinh dưỡng thấp Nước trong, hàm lượng chất hữu cơ và chất lắng cặn
thấp, hoạt động sinh học ở mức tối thiểu
Trung dưỡng Nước giàu dinh dưỡng hơn, do đó năng suất sinh học
cao hơn
Phú dưỡng Nước quá giàu dinh dưỡng với năng suất sinh học cao
Một số loài có thể không thở được
Trương nở (Siêu phú dưỡng) Nước đục, tối, năng suất cao, gần đạt tới tình trạng như
đất ngập nước Một số loài sinh vật nước trong không sống được
Loạn dưỡng (không nhất thiết là
một phần trong chuỗi dinh
dưỡng)
Nghèo dinh dưỡng, nhiều màu sắc bởi các chất hữu cơ hòa tan
Nguồn: Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (Environmental Protection Agency - EPA, 2004)
Mức độ phú dưỡng của nước có thể đánh giá định lượng bằng cách sử dụng chỉ
số tình trạng dinh dưỡng (TSI - Trophic State Index) liên quan đến sự kết hợp của độ
sâu đĩa Secchi và hàm lượng tổng nitơ, tổng phốtpho và chất diệp lục a (ví dụ: Carlson,
1997) Một số chỉ số như vậy đã được phát triển để áp dụng cho các loại nước và tình
trạng nguồn nước khác nhau
2.2 Ô xy hòa tan (DO)
Chất lượng nước tự nhiên, môi trường sống của các loài thủy sinh, có mối quan
hệ mạnh mẽ với lượng ôxy trong nước Do có bề mặt tiếp xúc với khí quyển, sự trao đổi
khí giữa nước và không khí thường đủ để cung cấp cho số lượng lớn các loài Tuy
nhiên, trong một số điều kiện, sự trao đổi khí không đủ nhanh để cung cấp đủ cho tất cả
nhu cầu Khi đó, những sinh vật có nhu cầu về hàm lượng ôxy hòa tan thấp mới tồn tại,
trong khi những sinh vật có nhu cầu ôxy hòa tan cao sẽ bị chết ngạt Hiện tượng cá chết
là kết quả của sự cạnh tranh như vậy
Lượng ôxy hòa tan thay đổi trong nước tự nhiên theo chiều sâu cột nước Trong
các suối nước nông và chảy nhanh, sự pha trộn theo phương thẳng đứng mang ôxy
xuống đến tầng đáy Trong các dòng chảy chậm và các đầm lầy, sự pha trộn này yếu
hơn Trong những nguồn nước có nhu cầu ôxy cao hơn so với lượng cung cấp do hòa
tan và khuyếch tán thì các tầng gần đáy có thể bị thiếu hụt ôxy
2.3 Các nguồn gây ô nhiễm
Bất kỳ một vật chất hay sinh vật nào tồn tại dưới dạng số lượng hoặc hàm lượng
mang tính có hại hoặc không được chấp nhận đều có thể bị xem là chất gây ô nhiễm
Trong một số trường hợp, các chất gây ô nhiễm xảy ra tự nhiên, nhưng sự lây lan ảnh
hưởng của chúng chịu ảnh hưởng của các hoạt động của con người, như trường hợp xảy
ra đối với selen ở hồ Kesterson đã đề cập ở trên Ngoài ra, nhiều chất gây ô nhiễm được
Trang 6tạo ra và phân bố trực tiếp bởi các hoạt động của con người Các nguồn không tính được
từ công nghiệp, đô thị và nông nghiệp gây ra ô nhiễm cho cả nguồn nước mặt và nước
ngầm
Các nguồn gây ô nhiễm quan trọng tại các vùng nông thôn bao gồm phân bón,
thuốc trừ sâu, chất thải động vật, và nước thải dân sinh, nông nghiệp Sự phát sinh khói
gas từ các ống khói hay các phương tiện giao thông có thể lan ra trong một diện rộng
trong khí quyển trước khi ảnh hưởng đến mặt đất
Ô nhiễm sinh học
Vi sinh vật trong nước uống là một vấn đề được quan tâm mang tính toàn cầu
Chúng bao gồm vi rút, vi khuẩn, tảo, và động vật nguyên sinh (động vật đơn bào) Mặc
dù hầu hết các vi sinh vật đều vô hại hoặc thậm chí có lợi nhưng cũng có nhiều mầm
bệnh Trẻ em, người già, hoặc người có sức đề kháng yếu… rất nhạy cảm với nguồn
nước gây bệnh Nguồn phổ biến nhất của các mầm bệnh này là từ chất thải của người và
động vật Hình 2.3 giới thiệu các kích cỡ của các chất gây ô nhiễm sinh học và sẽ được
đề cập ở phần dưới đây
2.4 Động vật nguyên sinh (đơn bào)
Nang động vật nguyên sinh thay đổi từ 2 đến 15 µm Những loại phổ biến nhất
gồm có Giardia lamblia, Entamoeba histolytica, và Cryptosporidium, chúng gây ra
bệnh tiêu chảy và viêm dạ dày Schistosomiasis được tìm thấy tại các bờ sông suối vùng
nhiệt đới và là nguyên nhân chính gây ra bệnh dịch ở các vùng đó (Mc Cutcheon và
nnk, 1992).
Hình 2.3 Kích cỡ tương đối của các chất gây ô nhiễm sinh học
Trang 72.5 Vi khuẩn
Vi khuẩn có kích cỡ từ 0,2 đến 0,6 µm Chúng có thể gây ra bệnh tả (Vibrio
cholerae), sốt thương hàn (Sahnottella), và dịch lỵ (lỵ Shigella tuýp 1) Các nguồn nước
bị nhiễm vi khuẩn thường kết hợp với sự nghèo nàn của điều kiện vệ sinh và hệ thống
bảo vệ sức khỏe cộng đồng Trực khuẩn Escherichia bao gồm rất nhiều trực khuẩn
đường ruột và hầu hết u bướu lành ở ruột của các loài động vật máu nóng Xét nghiệm
trực khuẩn phân thường được sử dụng phổ biến để đưa ra chỉ số của nhiễm khuẩn trong
cấp nước Trong những thập kỷ gần đây, một vài trạng thái nhiễm độc đã được phát
hiện là nguyên nhân của bệnh tiêu chảy và thậm chí là suy giảm chức năng thận (Mead
& Griffin, 1998) Sự nhiễm khuẩn thường thông qua các thực phẩm bị ô nhiễm còn tươi
sống hoặc chưa được nấu chín, hoặc thông qua tiếp xúc trực tiếp với cá thể bị nhiễm
bệnh
2.6 Vi rút
Vi rút là vi sinh vật nhỏ nhất, có kích thước chỉ khoảng 0,01 đến 0,03 µm Vi rút
thương hàn gây nhiễm khuẩn dạ dày của động vật có vú được bài tiết qua phân Khi
nguồn cấp nước bị ô nhiễm, sự lây nhiễm rất dễ xảy ra Nước chứa các vi khuẩn cần
quan tâm bao gồm viêm gan A, vi rút tuýp Norwalk, vi rút rota, vi rút V.A, vi rút đường
ruột, vi rút Reo (AWWA, 1990), hầu hết chúng gây nhiễm khuẩn đường ruột hoặc
đường hô hấp Vi rút cũng gây ra viêm màng não vô khuẩn, viêm não, nhiễm khuẩn tủy,
và viêm cơ tim Phương pháp phòng chống hiệu quả nhất là cần có một hệ thống vệ sinh
và chăm sóc y tế tốt
Ô nhiễm hóa học
2.7 Các đơn vị nồng độ
Có một số phương pháp thể hiện lượng chất tan trong một đơn vị khối lượng hay
thể tích của dung dịch Mỗi phương pháp phù hợp với từng trường hợp ứng dụng cụ thể
Nồng độ phân tử lượng là số phân tử gam chất tan trong 1 kg dung môi.
Nồng độ phân tử gam là số phân tử gam chất tan trong 1 lít dung dịch.
Nồng độ tiêu chuẩn là số đương lượng gam của chất hòa tan trong 1 lít dung
dịch Đương lượng gam được xác định bằng cách lấy trọng lượng phân tử
gam chia cho đương lượng hydro (hóa trị) của chất đó
Nồng độ khối lượng là khối lượng của chất tan trong một đơn vị thể tích
dung dịch Hầu hết các tiêu chuẩn chất lượng nước và các báo cáo của các
phòng thí nghiệm sử dụng đơn vị nồng độ là mg/l hoặc µg/l
Đương lượng trên lít là số phân tử gam của chất tan nhân với hóa trị của chất
tan đó trong một lít dung dịch
Phần triệu (ppm) là số gam chất tan trong 1 triệu gam dung dịch Những
nồng độ rất nhỏ có thể biễu diễn bằng phần tỷ (ppb) hoặc phần nghìn tỷ
Trong dung dịch nước, nếu tổng hàm lượng chất tan nhỏ hơn 10.000 ppm và
nhiệt độ dung dịch khoảng 4 °C, nồng độ phân tử gam và phân tử lượng có thể coi như
Trang 8bằng nhau và 1 ppm bằng 1 mg/l Tương tự như vậy, 1 ppb bằng 1 µg/l Với hầu hết các
trường hợp trong thực tế, sự tương đương này có thể được sử dụng cho tổng chất tan
nhỏ hơn 10.000 ppm và nhiệt độ thấp hơn 100 °C Đối với những nồng độ cao hơn cần
có sự hiệu chỉnh tỷ trọng (Freeze và Cherry, 1979)
Do nồng độ đo bằng mg/l (hay ppm) được sử dụng trong tính toán hóa học,
chúng có thể được chuyển đổi sang phân tử gam hoặc phân tử lượng:
W
l mg M
Kali brôm (KBr) được sử dụng trong một thí nghiệm KBr được đưa vào một
bình phun nhằm hiệu chỉnh để sử dụng cho 200 lít nước trên một hécta Bao nhiêu dung
dịch 0,1N KBr cần phải pha với nước để có 200 l dung dịch 8 g/ha chất Br?
Lời giải: Dung dịch 0,1N chứa 0,1 phân tử gam chất tan trên 1 lít dung dịch
Phân tử gam của brôm là 79,9 g, do đó dung dịch chứa 0,1 × 79,9 = 7,99 g Br/l Để có
8g Br, trộn 1 lít brôm 0,1N với 199 lít nước
2.8 Dinh dưỡng đa lượng: Nitơ và phốtpho
Nitơ (N) và phốtpho (P) là những thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất được
quan tâm khi xét đến chất lượng nước Cả N và P đều có trong nước tự nhiên Khi tồn
tại một lượng đáng kể N hoặc P, sự bùng phát của tảo và thực vật thủy sinh có thể xảy
ra Tảo cạnh tranh mạnh mẽ cho dinh dưỡng thủy sinh và phản ứng rất nhanh với những
thay đổi của điều kiện dinh dưỡng Sự phong phú bất thường của của các chất dinh
dưỡng dẫn đến sự phát triển rất nhanh của tảo (nở hoa), có thể gây ra mùi và vị rất khó
chịu Khi tảo chết và bị phân hủy, ô xy hòa tan trong nước có thể bị suy giảm, làm chết
cá và các quần thể động vật thủy sinh
Trong môi trường nước ngọt, vi khuẩn xyano (tảo lục lam) có khả năng tổng hợp
nitơ từ khí quyển, do đó phốtpho thường là yếu tố hạn chế Trong môi trường nước cửa
sông, nitơ thường là yếu tố hạn chế Nồng độ thấp khoảng 0,1 mg/l nitrát nitơ (NO3-N)
có thể đủ để gây ra sự bùng phát của tảo trong môi trường cửa sông (Mallin, 1994)
Sự giàu lên của các chất dinh dưỡng đa lượng trong các sông, hồ, cửa sông, và
vùng ven biển, từ các nguồn nước thải nông nghiệp và đô thị, thường được gọi là hiện
tượng phú dưỡng (Carpenter và nnk, 1998) và được khuyến cáo như là nguyên nhân của
sự tăng số lượng của các vi sinh vật, ví dụ như Pfisteria piscicida (Glasgow &
Burkholder, 2000) Sự xuất hiện thường xuyên của tảo có hại nở hoa (thường được gọi
không đúng là “thủy triều đỏ”) tương ứng với sự tăng của mức độ ô nhiễm tại rất nhiều
vùng trên thế giới, tuy nhiên vẫn còn những bất đồng về mối liên hệ của các nguyên
nhân
Nitơ chiếm khoảng 78% trong khí quyển, nhưng thể khí (N2) không thể sử dụng
trực tiếp cho hầu hết các loại cây trồng Nitơ được cung cấp thông qua các phân bón hóa
Trang 9học (như u rê (NH2)2CO, amoni-nitrát NH4NO3, hay amoni khan NH3), hoặc trong các
dạng hữu cơ trong nước thải hay chất thải động và thực vật, để tăng sự sinh trưởng của
cây trồng Các chất vô cơ chỉ có thể sử dụng được khi chúng tan trong nước của đất
Các chất hữu cơ trước hết phải được khoáng hóa (chuyển đổi sang dạng vô cơ) Khi các
chất hữu cơ phân hủy, chúng sản sinh ra amoni (hoặc amonium) Trong điều kiện háo
khí, với độ ẩm và lượng carbon đầy đủ, amoni (hoặc amonium) có thể nhanh chóng bị
chuyển đổi thành nitrít và sau đó là nitrát, một dạng anion có khả năng hòa tan cao và
rất dễ biến đổi N ở dạng nitrát dễ bị thấm lọc qua đất và gây nên nguy cơ ô nhiễm đối
với nước ngầm Nitrát có thể di chuyển với khoảng cách đáng kể trong nước ngầm mà
không bị suy giảm về nồng độ Các vùng đệm ven sông có thể có hiệu quả trong việc
loại bỏ nồng độ nhất định nitrát từ nước ngầm chảy ra (Gilliam và nnk, 1997) Quản lý
nước lưu vực và điều chỉnh hệ thống tiêu (Chương 14) có thể giảm thiểu lượng nitơ từ
nước thải nông nghiệp Hình 2.4 mô tả tuần hoàn nitơ
Nitrát là dạng của N có liên quan nhiều nhất đến các nguy cơ về sức khỏe Nồng
độ cao nitrát trong nước uống gây ra hiện tượng methemoglobenemia (hội chứng em bé
xanh), trước hết ảnh hưởng đến các em bé và có liên quan đến sự xảy thai tự phát (đối
với cả người và động vật) Mức độ gây ô nhiễm tối đa (Maximum Contaminant Level -
MCL) theo tiêu chuẩn của EPA là 10 mg/l nitrát-N MCL đối với nitrít-N là 1 mg/l
nhưng hàm lượng nitrít trong tự nhiên là rất thấp do vi khuẩn trong đất nhanh chóng
chuyển hóa nitrít thành nitrát
Hình 2.4 Tuần hoàn nitơ (SCS, 1992)
Trang 10Nitơ cũng có thể xâm nhập vào mặt nước dưới dạng hơi Amoni thể khí được
sản sinh từ các chất thải động vật và xâm nhập vào khí quyển Các ôxít nitơ được sinh
ra do quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch trong các nhà máy điện, chất thải hỏa táng,
hay các động cơ đốt trong Lơ lửng trong khí quyển và xâm nhập vào đất hay nước
thông qua quá trình trầm lắng hay hòa tan trong nước mưa Các ôxit nitơ và điôxit lưu
huỳnh là những nguyên nhân cơ bản của hiện tượng mưa axit
Phốtpho có trong tự nhiên ở các dạng hợp chất vô cơ, dần biến đổi bởi quá trình
phong hóa hóa học Các trầm tích giàu phốtphát được khai thác để sản xuất phân bón và
các sản phẩm phốtphát khác Phốtpho cũng được tìm thấy trong các chất hữu cơ
Phốtpho được cung cấp cho đất ở cả dạng hữu cơ và phân bón hóa học (ví dụ:
supephốtphát Ca(H2PO4)2·H2O) Hình 2.5 trình bày vòng tuần hoàn phốtpho rút gọn tại
một vị trí xả thải Phốtphát hòa tan được hấp thụ trong đất hoặc kết hợp với sắt hoặc
nhôm để hình thành các hợp chất không hòa tan P không di chuyển cùng với nước
trong đất, ngoại trừ trường hợp lượng P xâm nhập vào đất cao đến mức vượt quá khả
năng hấp thụ của đất Kiểu vận chuyển chủ yếu là xói mòn do nước, mang P bám ở các
hạt đất vào nước mặt Các biện pháp chống xói mòn (các Chương 7 đến 10) và đất ướt
(Chương 12) có hiệu quả cao trong việc giới hạn lượng P trong nước
Nếu chất thải chứa phốtpho xâm nhập vào bề mặt đất mà không có sự hấp thụ,
chúng có thể dễ dàng bị tách ra và trôi theo nước P hòa tan có thể xâm nhập vào nước
bề mặt theo cách này
Không có MCL đối với phốtpho trong nước uống Lượng phốtpho vượt quá sẽ bị
thải ra và thường không gây ra các mối đe dọa về sức khỏe
Kali thường kết hợp với N và P thành các dinh dưỡng đa lượng, nhưng không
liên quan đến các vấn đề về sức khỏe và chất lượng nước Không có MCL về lượng kali
trong nước uống
Hình 2.5 Cân bằng lượng phốtpho tại một vị trí xả thải với sự biến đổi trong đất (tuần hoàn
phốtpho rút gọn – SCS (1992))
Trang 112.9 Các chất hóa học vô cơ
Có hàng nghìn chất hóa học trong nước với sự hòa tan và hàm lượng độc tố thay
đổi rất lớn Một vài chất phổ biến nhất được quản lý ở cấp liên bang ở Mỹ gồm có
Asen, bari, berili, cátmi, crôm, đồng, xyanua, florua, chì, thủy ngân, selen, và tali
Nguồn của các chất này gồm có chất thải từ kim loại và nhà máy lọc dầu, nước thải
công nghiệp và hệ thống ống dẫn trong quá trình phân rã Sự tích tụ khoáng chất tự
nhiên cũng có thể gây ra nồng độ cao ở một vài vị trí Một số khác được tìm thấy trong
phân bón hoặc bổ sung trong thức ăn động vật
Khái niệm kim loại nặng thường được sử dụng rộng rãi để chỉ các chất như
antimon, thạch tín, cátmi, crôm, đồng, chì, thủy ngân, và kẽm Thuật ngữ này được sử
dụng để chỉ các nguyên tố có trọng lượng nguyên tử thay đổi từ trọng lượng nguyên tử
của đồng đến thủy ngân (Kennish, 1992) hoặc có trọng lượng riêng lớn hơn 4,0
(Connell & Miller, 1984) Phần nhiều trong số đó là các chất dinh dưỡng thiết yếu Các
nguyên tố không thiết yếu có thể làm ảnh hưởng đến các sinh vật khi thay thế các
nguyên tố hóa học tương tự Một vài nguyên tố (ví dụ như asen, chì, hay thủy ngân)
được sử dụng trong thuốc trừ sâu, nhưng hiện không còn tiếp tục được sử dụng do sự
tồn tại của những nguyên tố này và nồng độ của chúng trong chuỗi thức ăn
Các kim loại nặng thường bám dính vào các khoáng chất trong đất hay chất hữu
cơ, hoặc hình thành nên các hợp chất phức tạp Nồng độ hòa tan thường thấp Sự tăng
độ mặn, tăng lượng ôxy sẵn có hay giảm pH có xu hướng đẩy các ion kim loại vào trong
dung dịch, làm cho chúng cơ động hơn (Connell & Miller, 1984)
Các chất vô cơ bao gồm các hợp chất có chứa các ion phổ biến như natri, canxi,
magiê, và clorua Độ cứng của nước thường được xác định bằng tổng nồng độ của các
cation kim loại (phổ biến nhất là canxi và magiê) trong dung dịch có phản ứng với xà
phòng natri để sinh ra thể rắn hoặc chất lắng dạng bọt có thể phản ứng với các anion
Độ cứng được thể hiện bằng mg/l đương lượng gam CaCO2 Bảng 2.2 trình bày sự thay
đổi nồng độ tương ứng với phân hạng độ cứng của Tổ chức Khảo sát Địa chất Mỹ
Độ cứng là một vấn đề phổ biến trong nước ngầm ở các vùng có nền là đá
carbonat như đá màu vàng cam Nước mưa tự nhiên có độ axit nhẹ và hòa tan dần
những khoáng chất này khi thấm qua chúng Độ cứng quá mức cản trở các chất tẩy và
có thể gây ra sự tích tụ trong các hệ thống đốt nóng hoặc thiết bị tưới Lượng natri quá
mức (liên hệ chặt chẽ đến canxi và magiê) trong đất có xu hướng phân tán đất sét và hạn
chế chuyển động của không khí và nước trong đất Clorua vượt quá mức 250 mg/l, với
sự tồn tại của natri, gây ra vị mặn trong nước Các cây trồng có sức chịu đựng khác
nhau đối với nồng độ muối của nước trong đất (Chương 15)
Bảng 2.2 Phân loại độ cứng của nước
Trang 12Các MCL hiện nay đối với các chất vô cơ được trình bày trong Bảng 2.3 Danh
mục đầy đủ hơn có thể tham khảo tiêu chuẩn của EPA và các tổ chức quản lý khác
2.10 Các chất hóa học hữu cơ
Hóa chất hữu cơ bao gồm hàng nghìn hợp chất, cả tự nhiên và nhân tạo Các chất
được chú ý nhất đối với chất lượng nước gồm thuốc trừ sâu (ví dụ: alachlor, atrazine,
carbofuran, lindane) và các hóa chất công nghiệp, các dung môi đặc biệt (ví dụ: benzen,
toluen, xylene, tetra-clorua carbon) Rất nhiều trong số đó đã được xác nhận hoặc bị
nghi ngờ là các tác nhân gây ung thư
Xu thế sản xuất thuốc trừ sâu hiện đang theo hướng đặc hữu và có chu kỳ bán
phân rã ngắn trong môi trường Đây là một tiến bộ đáng kể so với các loại thuốc trừ sâu
bền vững như thạch tín, thủy ngân, và hydrocacbon khử trùng (ví dụ: DDT) Các MCL
hiện nay đối với các chất vô cơ được trình bày trong Bảng 2.3 Danh mục đầy đủ hơn có
thể tham khảo tiêu chuẩn của EPA và các tổ chức quản lý khác tại địa phương
Rất nhiều rắc rối về ô nhiễm nước ngầm có thể được chỉ ra như việc đổ thuốc trừ
sâu pha loãng không sử dụng và nước rửa thiết bị trực tiếp trên mặt đất gần giếng cấp
nước Hoạt động quản lý tốt nhất hiện nay cần một miếng lót bê tông với một hầm chứa
- đặt xa giếng - nơi tiến hành làm sạch thiết bị và pha loãng hóa chất Tập trung nước
hợp lý trong các hầm chứa sẽ ngăn ngừa ô nhiễm trực tiếp tới đất và nước ngầm
Bảng 2.3 Một số tiêu chuẩn chất lượng nước uống
Cryptosporidium 0 TT3 Bệnh dạ dày, đường
ruột (tiêu chảy, nôn mửa, chuột rút)
Chất thải rắn từ người và động vật
Giardia lamblia 0 TT3 Bệnh dạ dày, đường
ruột (tiêu chảy, nôn mửa)
Chất thải rắn từ người và động vật
khuẩn, thường gọi là viên phổi
Tìm thấy trong nước tự nhiên, tăng lên nhiều lần trong các hệ thống làm nóngTổng coliform
vi khuẩn có hại khác5
Coliform tự nhiên
; coliform chất thải rắn và Ecoli trong chất thải rắn của người và động vật
Vi rút (đường ruột) 0 TT3 Bệnh dạ dày, đường
ruột ( tiêu chảy, nôn Chất thải rắn từ người và động vật