Đó là đỉnh cao sự phát triển của trí tuệ loài người, là một kết quả hợp quy luật khách quan của sự phát triển của khoa học, là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác; đồng thời là
Trang 1SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂNCỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN Ý NGHĨA VÀ SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG TRONG LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNGCHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
Sự hình thành triết học Mác-Lênin là một thể thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng (CNDVBC) và chủ nghĩa duy vật lịch sử (CNDVLS) Đó là đỉnh cao sự phát triển của trí tuệ loài người, là một kết quả hợp quy luật khách quan của
sự phát triển của khoa học, là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác; đồng thời là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của toàn bộ chủ nghĩa Mác trong xem xét, đánh giá, cải tạo và làm chủ mọi sự vật hiện tượng, làm chủ thế giới khách quan, cũng như làm cơ sở đánh giá trong các lĩnh vực khoa học khác Triết học Mác khác hẳn về chất so với tất cả các học thuyết triết học trước đó, vì vậy
Lênin đã viết: “… Đã là học thuyết vạn năng vì đã là một học thuyết chính xác, đã
là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ đã cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thoả hiệp với bất cứ một sự mê tín nào nào, một thế lực phản động nào" ( 1)
Sự hình thành và phát triển của triết học Mác là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học Triết học Mác ra đời chính là do những đòi hỏi cấp thiết của điều kiện kinh tế, chính trị trong xã hội tư bản đầu thế kỷ XIX , cùng với sự nhận thức và khái quát thiên tài của Mác-Ăngghen lúc bấy giờ đã làm rõ những cơ sở khoa học, đó là những di sản quý báu trong kho tàng lý luận của nhân loại Triết học Mác ra đời trong những điều kiện cả khách quan
và chủ quan ở thế kỷ XIX
Về nhân tố khách quan Điều kiện kinh tế-xã hội những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất (PTSX) tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu đã được xác lập, nhất là ở Anh và Pháp; nước Anh đã trở thành cường quốc tư bản chủ nghĩa (TBCN) với ngành công nghiệp hùng hậu ở Pháp cũng hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp, đã làm biến đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị,
xã hội ở phạm vi nhiều nước Từ chỗ lực lượng sản xuất có sự biến đổi về chất, đã chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp là chủ yếu, lao động máy móc thay cho lao động thủ công, từ đó làm cho năng xuất lao động tăng vọt
Sự tiến bộ và tính chất ưu việt của PTSX TBCN đã ngày càng khẳng định rõ nét
Trang 2hơn Điều đó đã tất yếu làm nảy sinh một nền đại công nghiệp, đồng thời cũng xuất hiện 2 giai cấp đối đầu trong xã hội, đó là giai cấp tư sản (GCTS) và giai cấp
vô sản (GCVS) phát triển ngày càng nhanh và hùng mạnh
Chính sự phát triển của CNTB đã làm cho những mâu thuẫn vốn có trong xã hội tư bản bộc lộ rõ nét và ngày càng gay gắt Những mâu thuẫn ấy có nguồn gốc
từ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất, mà biểu hiện cụ thể là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX), biểu hiện của
nó về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa GCTS và GCVS Sự bóc lột của GCVS đối với giai cấp công nhân đã dẫn đến giai cấp công nhân nổi dậy, tuy nhiên lúc đầu vẫn chỉ là những cuộc đấu tranh tự phát, tiêu biểu như: Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Lyông (Pháp) từ 1831 đến 1834; Phong trào hiến chương ở Anh vào cuối những năm 30 của thế kỷ XIX ở Đức nửa đầu thế kỷ XIX về cơ bản là công trường thủ công và đang trong quá trình phát triển TBCN, kinh tế còn kém so với Anh và Pháp, vẫn là một nước nông nghiệp, bộ phận chủ yếu trong dân cư vẫn là những nông dân và GCTS thành thị, số lượng công nhân còn ít, chưa thực sự đủ lực để tiến hành một cuộc cách mạng Tuy nhiên, từ 1835 nền công nghiệp Đức bắt đầu phát triển, cách mạng công nghiệp đã dần chuyển nghề thủ công và công trường thủ công sang nền công nghiệp TBCN Công nhân là những người bị bóc lột tàn bạo trong các công xưởng TBCN, hàng loạt công nhân bị thất nghiệp do sự phát triển của máy móc, mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX TBCN ngày càng phát triển sâu sắc Đến cuối thập kỷ 40 của thế kỷ XIX thì phong trào cách mạng thế giới chuyển về Đức Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa tự phát của thợ dệt Xilêdi - 1844, GCTS Đức mới được hình thành nên còn non yếu, không những không chống lại
mà còn thoả hiệp với nhà nước phong kiến, dựa vào nhà nước phong kiến để chống GCVS
Cuộc đấu tranh giữa GCTS và GCVS ở nhiều nước trên thế giới ngày càng gay gắt, những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng có tổ chức hơn và mang tính tự giác, tính chính trị rõ rệt và ngày càng khẳng định là một lực lượng độc lập về chính trị Những phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đặt ra đòi hỏi cấp thiết phải có một lý luận cách mạng, khoa học dẫn đường nhằm lý giải một cách khoa học về địa vị và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, sự cần thiết phải đánh đổ chế độ TBCN và mọi thế lực phản động, vạch ra con đường mới để
Trang 3hướng đến một xã hội văn minh hơn Mác-ăngghen đã sống và chiến đấu trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân Hai ông đã nghiên cứu, tiếp thu và khái quát thành những kinh nghiệm đấu tranh của phong trào công nhân thế giới,
từ đó xây dựng học thuyết về chủ nghĩa cộng sản khoa học, trong đó triết học Mác
là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận chung nhất
Bên cạnh đó, tiền đề khoa học tự nhiên thế kỷ XIX cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển triết học Mác Vào những năm
40 của thế kỷ XIX khoa học tự nhiên phát triển rất mạnh, đã đem lại nhiều thành tựu rực rỡ với những phát minh "vạch thời đại" Từ đó đặt ra đòi hỏi phải có sự khái quát về mặt triết học để vạch ra mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các quá trình xảy ra trong tự nhiên và chứng minh một cách biện chứng sự phát triển của tự nhiên Tuy nhiên, sự khái quát đó không thể có được nếu đứng trên lập trường duy tâm, và cũng không thể đứng trên lập trường duy vật siêu hình; mà chỉ khía quát được trên lập trường triết học DVBC Điển hình là 3 phát kiến vĩ đại có tác dụng to lớn đối với sự hình thành triết học Mác
Thứ nhất, Học thuyết về cấu tạo tế bào do hai nhà bác học người Đức
Slâyđen và Svan xây dựng năm 1838-1839 Nó chứng minh rằng, cơ thể của thực vật và động vật đều do các tế bào tạo nên, các tế bào có chung cùng một cấu trúc như nhau, nhưng cùng một chức năng sinh lý cùng sự phát triển của cơ thể sống diễn ra bằng còn đường nhân đôi và phân hoá của tế bào, tạo nên sự biến đổi không ngừng trong quá trình trưởng thành và diệt vong của cơ thể sinh vật Học thuyết đã khẳng định sự thống nhất của tất cả những cơ thể sống và chúng có cùng nguồn gốc Qua đó có thể nhìn vào bản chất sự sống theo quan điểm về mối liên
hệ, về sự thống nhất các hình thức của nó và sự phát triển của các hình thức ấy, về
sự phát triển nhảy vọt trong quá trình tồn tại và phát triển của các sinh vật sống
Thứ hai, Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng do Rmayerơ (Đức)
khái quát 1842-1845 Rmayero đã chứng minh, vận động trong tự nhiên là khách quan và phổ biến, nó được biểu hiện bằng nhiều hình thức khác nhau và có thể chuyển hoá cho nhau Trong quá trình chuyển hoá giữa các hình thức vận động, năng lượng của sự vật luôn được bảo toàn, không mất đi; sau đó đã được nhà vật lý học Anh M.Pharađây chứng minh bằng thực nghiệm Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng đã xác định rõ căn cứ khoa học trong quan niệm triết học về tính
Trang 4vĩnh viễn và không thể bị tiêu diệt của vật chất, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức tồn tại đa dạng của vật chất
Thứ ba, Học thuyết tiến hoá của nhà bác học người Anh ĐácUyn đã chứng
minh sự phát triển của thế giới hữu cơ, diễn ra từ hình thức cũ cho đến sự xuất hiện hình thức mới, đó là từ hình thức ít phức tạp đến hình thức phức tạp nhiều hơn ông khẳng định, giữa các giống loài đều có mối liên hệ chung và phát triển theo quy luật nhất định Đặc tính chung của các cơ thể là biến dị và di truyền, những biến đổi nào có lợi cho động vật và thực vật trong cuộc đấu tranh sinh tồn thì được củng cố và tích luỹ để di truyền lại và quyết định sự xuất hiện của những dạng động vật và thực vật mới Học thuyết tiến hoá chính là minh chứng về tính đúng đắn và vai trò của quan niệm phát triển trong nhận thức khoa học, cũng như trong lĩnh vực triết học
Ba phát kiến vĩ đại trên đã góp phần xác nhận nguyên tắc về tính thống nhất vật chất của thế giới trong tư duy triết học Những phát minh đó đã đặt ra đòi hỏi phải có sự khái quát về mặt triết học, nhằm vạch ra những mối liên hệ lẫn nhau giữa các quá trình xảy ra trong tự nhiên, biện chứng sự phát triển của tự nhiên Đồng thời, kết quả những phát minh ấy đã giáng một đòn chí tử vào chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và phương pháp đánh giá, xem xét siêu hình trong quan niệm về thế giới Hơn thế, chính những kết quả đó đã tạo điều kiện cho Mác-ăngghen khái quát những luận điểm cơ bản của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử sau này
Cùng với tiền đề về kinh tế xã hội, khoa học tự nhiên, tiền đề về lý luận có vai trò quan trọng trong sự hình thành triết học Mác Mác-Ăngghen đã đánh giá rất cao tư tưởng biện chứng trong triết học Hêghen C.Mác chỉ ra: "… ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí"(1) Đồng thời, Mác-ăngghen
đã chỉ ra hạn chế lớn nhất trong triết học Hêghen đó là sự mâu thuẫn sâu sắc giữa
hệ thống triết học duy tâm và phương pháp biện chứng, từ đó hai ông đã rút ra "hạt nhân hợp lý" là phép biện chứng và cải tạo chúng trên cơ sở duy vật Trong khi phê phán chủ nghĩa duy tâm (CNDT) của Hêghen, Mác dựa toàn bộ truyền thống chủ nghĩa duy vật (CNDV) triết học mà trước hết là CNDV Phoiơbắc; 2 ông đánh giá
Trang 5cao triết học duy vật của Phoiơbắc nhưng đồng thời cũng lên án phê phán những sai lầm như: tính siêu hình trực quan, duy tâm về mặt xã hội, chỉ nói đến con người chung chung trừu tượng, siêu giai cấp, tách con người khỏi các mối quan hệ xã hội, vứt bỏ "hạt nhân hợp lý" là phép biện chứng của Hêghen Trong tư tưởng triết học của mình, Mác-ăngghen đã tiếp thu những hạt nhân cơ bản của Phoiơbắc và cải tạo, phát triển lên một chất lượng mới trong nội dung tư tưởng triết học sau này Mác-ăngghen đã phê phán, kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những mặt tiến bộ của phép biện chứng Hêghen và CNDV Phoiơbắc Từ đó sáng lập ra một học thuyết triết học mới mà trong đó, CNDV và phép biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau, khái quát nên CNDVBC và CNDVLS Bên cạnh đó, Mác-Ăngghen còn kế thừa những yếu tố hợp lý trong kinh tế chính trị Anh và CNXH không tưởng Pháp để khía quát nên CNDVLS, tiêu biểu là quan niệm về lý luận giá trị trong kinh tế chính trị của Ađamxmit và Ricácđô, sự tuyệt đối hoá vai trò của quy luật giá trị dưới hình thức đặc thù của xã hội tư bản và không đi tới nghiên cứu nguồn gốc giá trị thặng dư của 2 tác giả này Từ đó, Mác-ăngghen đã cải tạo kinh tế chính trị Anh
và đi tới quan niệm DVLS
Về nhân tố chủ quan Triết học Mác xuất hiện không chỉ là kết quả của sự vận động và phát triển có tính quy luật của các nhân tố khách quan, mà còn được hình thành trong sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Đó
là thiên tài của Mác-ăngghen, lập trường GCVS và tình bạn vĩ đại của hai ông Trước Mác do hạn chế về lập trường giai cấp và lịch sử, về thế giới quan và phương pháp luận nên không một nhà triết học nào thực hiện được cuộc cách
mạng trong triết học Lênin chỉ ra rằng: "Thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã
giải đáp được những vấn đề tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra"( 1) Sở dĩ Mác-Ăngghen làm nên bước ngoặt cách mạng trong lý luận và đã xây dựng được một khoa học triết học mới là vì, ở hai ông có sự kết hợp nhuần nhuyễn và sâu sắc những phẩm chất tinh tuý và uyên bác của nhà bác học và nhà cách mạng, chiều sâu của tư duy triết học, chiều rộng của nhãn quan khoa học, quan điểm sáng tạo trong việc giải quyết những nhiệm vụ do thực tiễn đặt ra là những phẩm chất đặc biệt nổi bật của hai ông
Trang 6Mác-Ăngghen sống trong phong trào công nhân và là người trực tiếp chỉ đạo phong trào, tình bạn của hai ông đã làm cho lý tưởng XHCN của phong trào công nhân từ không tưởng trở thành hiện thực Như vậy, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì nó phản ánh thực tiễn xã hội đương thời, nhất là thực tiễn cách mạng của phong trào công nhân, mà còn là sư phát triển hợp quy luật tư tưởng của nhân loại và vạch ra con đường sáng cho nhân loại
Giai đoạn hình thành triết học Mác 1841-1848 Sự ra đời và phát triển một thế giới quan mới - thế giới quan cách mạng của GCVS trong những năm đầu hoạt động chính trị và khoa học của Mác-Ăngghen cho đến cách mạng tư sản 1848 Trước 1841, quan điểm lập trường triết học Mác là duy tâm, quan điểm chính trị theo lập trường dân chủ cách mạng Duy tâm được biểu hiện đó là hai ông đều là học trò của Hêghen, tôn thờ triết học Hêghen và đều thừa nhận tinh thần sản sinh
ra mọi vật Mác nói: "Tôi coi cuộc sống là biểu hiện hành vi của tinh thần" ăngghen nói: "Tôi quay về thượng đế, tất cả con tim tôi hướng về người" Mặt khác, 2 ông đều thừa nhận nhà nước Phổ là hiện thân sinh động của “ý niệm tuyệt đối" như Hêghen, các ông cũng đấu tranh chống CNDV, tuyệt đối hoá vai trò cá nhân trong lịch sử, lập trường chính trị theo phái “Hêghen trẻ”
Trước hết là sự quá độ từ CNDT và chủ nghĩa dân chủ cách mạng đến CNDVBC của chủ nghĩa cộng sản khoa học của Mác- Ăngghen (1841-1844)
C.Mác sinh ra và lớn lên tại tỉnh Ranh nước Phổ và chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng tư sản Pháp Ngay từ khi học phổ thông, Mác đã tỏ rõ chí hướng và khát khao làm giầu trí tuệ, ham học hỏi Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Mác vào học đại học luật ở Bon, sau 1 năm chuyển sang nghiên cứu lịch sử và triết học ở BécLin Tốt nghiệp đại học đầu 1841, đến giữa 1841 bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Sự khác biệt giữa triết học tự nhiên của Đmôcrít và Eopiquya Sau đó, Mác có ý định làm phó giáo sư tại trường đại học tổng hợp Bon, nhưng do một loạt những nhà bác học tiến bộ ở đây bị gạt ra khỏi công tác giảng dạy ở trường này, nên Mác từ bỏ ý định đó và đến với báo chí để tổ chức diễn đàn và tuyên truyền quan điểm dân chủ cách mạng của mình Đến đầu 1842, Mác bắt đầu cộng tác với tờ báo "Nhật báo tỉnh Ranh" và đến 10/1842 là tổng biên tập của báo này Dưới sự lãnh đạo của Mác tờ báo ngày càng có xu hướng DCCM rõ rệt, tham
Trang 7gia đấu tranh cho lợi ích quần chúng nghèo khổ Đây chính là thời kỳ chuyển đổi TGQ của Mác
C.Mác là học trò của Hêghen, nghiên cứu triết học Hêghen và chủ yếu là PBC của Hêghen Lúc đầu Mác thừa nhận Hêghen, nhưng sau khi làm việc ở tờ báo tỉnh Ranh, với thực tiễn hoạt động và nhất là khi tờ báo này bị đóng cửa 1.4.1843 vì quan điểm trì trích chính phủ, thì sự nghi ngờ về sự "tuyệt đối đúng đắn" của học thuyết Hêghen về mối quan hệ xã hội và nhà nước, sự nảy sinh khuynh hướng duy vật từ sự khát vọng muốn cắt nghĩa hiện thực, xác lập tư tưởng
tự do trong thực tế và sự không dung hợp giữa tinh thần dân chủ cách mạng sâu sắc với triết học duy tâm tư biện đã khiến Mác đi sâu nghiên cứu và tiến hành phê phán triết học duy tâm của Hêghen Mác kết luận: Pháp luật không phải của chung cho mọi người, mà nó chỉ bảo vệ lợi ích kinh tế của giai cấp thống trị Và chính lĩnh vực kinh tế nó quyết định cơ cấu xã hội; cơ cấu xã hội, nhất là cơ cấu giai cấp
nó quyết định nhà nước Chức năng của nhà nước là bảo vệ giai cấp tổ chức ra nó,
từ đó Mác đi đến kết luận tổng quát: kinh tế quyết định chính trị Đồng thời, đây là
cơ sở xuất phát cho những quan niệm về DVLS của Mác sau này và giáng một đòn mạnh mẽ vào quan điểm của những người theo phái “Hêghen trẻ”
Giữa 1843, Mác viết tác phẩm "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen" Mở đầu tác phẩm Mác viết: "Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng rạo ra con người" Thông qua đây đã chứng tỏ lập trường của Mác đã có sự chuyển biến sang duy vật Cuối 1843, Mác cùng Gienni sang Pari và
ở đay ông đã chuyển sang CNDV và CNCS, rời bỏ hẳn CNDT và chủ nghĩa dân chủ cách mạng Mác đã viết nhiều bài để khẳng định điều đó; tiếp đó Mác bắt đầu nghiên cứu về CNXH, CNCS, hệ thống hoá những vấn đề về kinh tế chính trị và phong trào công nhân ở châu âu Đến đầu 1844, Mác hợp tác với nhà xuất bản Rugơ xuất bản tạp chí "Niên giám Pháp Đức" Các tác phẩm đăng trên tạp chí này
đã chỉ ra sai lầm của chủ nghĩa xã hội không tưởng, đồng thời Mác khẳng định, giải phóng chính trị chính là một trong những cải cách dân chủ tư sản, đó là một bước tiến bộ nhưng chỉ giới hạn trong chế độ tư bản, chỉ có giải phóng nhân loại mới là sự giải phóng chân chính của con người Đồng thời, Mác đã hình thành tư tưởng về vai trò lịch sử quốc tế của giai cấp công nhân, vai trò của cách mạng vô sản
Trang 8Mùa hè 1844, Mác viết "Bản thảo kinh tế chính trị" Trong tác phẩm này, Mác đưa ra những khái quát đầu tiên về kinh tế chính trị học, thông qua việc phê phán kinh tế chính trị học cổ điển Anh và những quan điểm triết học thông qua việc tiếp tục phê phán triết học Hêghen, nhất là PBC với những "hạt nhân hợp lý" của nó Những quan điểm mới của Mác được thể hiện trong việc phân tích sự tha hoá của lao động và phạm trù "lao động bị tha hoá" Thuật ngữ "tha hoá" đã được sử dụng rộng rãi hồi ấy trong các sách báo triết học, ở Hêghen là sự tự tha hoá của “ý niệm tuyệt đối" thành giới tự nhiên; ở Phoiơbắc là sự tha hoá của bản chất tộc loại của con người trong chúa Mác cắt nghĩa sự tha hoá của con người từ chính điều kiện sống
và các quan hệ xã hội của con người, từ chính hoạt động thể hiện năng lực bản chất của nó là lao động; đi từ nghiên cứu con người và cho rằng bản chất của con người
là hoạt động lao động, chính hoạt động lao động là phương thức tồn tại của con người
C.Mác đưa ra cơ chế của hoạt động con người đó là, quá trình lao động là quá trình di chuyển một phần năng lượng bản chất của mình vào vật thể là sản phẩm lao động Sau đó con người lại tiêu dùng vật phẩm đó, đó chính là quá trình vật phẩm hoàn toàn trả lại con người, để con người tái sản xuất sức ra lao động và
từ đó làm cho con người ngày càng phong phú hơn; chứ không như trong xã hội tư bản tách rời giữa lao động và sở hữu và đã làm phá vỡ cơ chế hoạt động trên Theo Mác, để thiết lập được sở hữu với lao động thì phải xoá bỏ hiện tượng lao động bị tha hoá và cụ thể là xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân, giải phóng con người Đó cũng
là sự luận chứng cho tính tất yếu của CNCS trong sự phát triển xã hội Đồng thời, Mác luận giải theo quan điểm DVBC về vai trò quyết định của yếu tố vật chất,
khẳng định vai trò của lý luận và triết học C.Mác viết: "Vũ khí của sự phê phán
không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí; lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng"( 1), "Cũng giống như triết học thấy
giai cấp vô sản là vũ khí của mình, giai cấp vô sản thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình"( 2).
Trang 9Đó là quan niệm thiên tài của Mác về duy vật lịch sử, quan điểm duy vật về
sự thống nhất biện chứng của ý thức xã hội với tồn tại xã hội
Ph.Ăngghen sinh ra trong một gia đình chủ xưởng sợi ở tỉnh Ranh nước Phổ (Đức), ông chỉ được gia đình cho học hết trung học và muốn ông trở thành nhà kinh doanh Sau này ông đã vừa làm vừa tự học và tham gia hoạt động khoa học và chính trị và tự chọn con đường cách mạng cho cuộc đời mình Việc nghiên cứu triết học trong thời gian ở BécLin khi làm nghĩa vụ quân sự 2 năm đã dẫn ông đi xa hơn Sống ở Anh từ cuối 1842, ông đã nghiên cứu đời sống kinh tế và sự phát triển chính trị của nước Anh, trực tiếp tham gia phong trào công nhân, do đó đã dẫn đến bước chuyển biến căn bản trong thế giới quan của Ph.ăngghen sang CNDV và CNCS Các tác phẩm của Ph.ăngghen đăng trong "Niên gián Pháp-Đức" như: phác thảo góp phần phê phán kinh tế chính trị; tình cảnh giai cấp công nhân Anh; Tô mát Các Lây, quá khứ và hiện tại, đã chứng tỏ ông đã hoàn thành việc chuyển từ CNDT sang CNDV, từ CNDCCM sang CNCS Ph.ăngghen đã đứng trên lập trường quan điểm duy vật và lập trường của CNXH để phê phán kinh tế chính trị học của AđamXmit, Ri các đô, vạch trần quan điểm chính trị phản động trên lập trường giai cấp quý tộc phong kiến của CácLây Sự nhất trí về tư tưởng đã dẫn đến tình bạn vĩ đại của C.Mác và Ph.ăngghen, gắn liền với tên tuổi của 2 ông với sự ra đời và phát triển một thế giới quan mới mang tên Mác - TGQ cách mạng của giai cấp công nhân
C.Mác-Ph.ăngghen từng bước xây dựng những nguyên lý triết học DVBC và DVLS Tác phẩm "Gia đình thần thánh" là công trình khoa học đầu tiên do 2 ông viết chung, được xuất bản tháng 2 năm 1845 Trong tác phẩm Mác-ăngghen đã lý giải nhiều vấn đề theo quan điểm duy vật trong triết học mang tính chiến đấu như: tập trung phê phán CNDT của phái “Hêghen trẻ" đứng đầu là anh em nhà Bauơ và toàn bộ CNDT nói chung, đồng thời đề xuất một số nguyên lý cơ bản của triết học mác xít và CNCS khoa học như: cuộc đấu tranh của CNDV và CNDT trong lịch sử; vấn đề cơ bản của triết học; vấn đề nhận thức luận; biện chứng của sự thống nhất và đấu trang giữa các mặt đối lập; các phạm trù của CNDVBC…
Đầu 1845, Mác đã đề xuất một quan điểm về CNDVLS với tư cách là cơ sở triết học của CNCSKH thông qua "bản luận cương về Phoiơbắc" với tư tưởng chính là vai trò quyết định của thực tiễn cách mạng, của vật chất trong đời sống xã
Trang 10hội C.Mác khẳng định, thực tiễn là cơ sở, là tiêu chuẩn và là mục đích của nhận thức, kể cả nhận thức triết học mới; chỉ có trong quá trình thực tiễn cách mạng, con người mới làm thay đổi hiện thực xung quanh mình, cũng như thay đổi bản thân mình Đồng thời, Mác phê phán quan niệm siêu hình, phi lịch sử của Phoiơbắc về con người và đưa ra luận điểm quan trọng của CNDVLS: "…Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội", con người trong xã hội bao giờ cũng là sản phẩm của một hình thái xã hội nhất định, "các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới"
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” của 2 ông viết đầu 1846 đã thể hiện nghệ thuật luận chiến tuyệt vời Chương mở đầu tập 1 "Phoiơbắc, sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm" được 2 ông đã trình bày có hệ thống quan điểm duy vật về lịch sử cũng như học thuyết của CNCSKH Còn các chương khác hai ông chủ yếu phê phán những địch thủ của mình như: Bauơ, Sti-éc-nơ… Từ đó các ông
đã làm sáng tỏ một hệ thống phạm trù của CNDVLS; kết quả chủ yếu của quan điểm DVLS là kết luận về tính tất yếu của cuộc CMVS Mác- Ăng ghen đã chỉ ra mối quan hệ giữa TTXH và YTXH, TTXH quyết định YTXH, YTXH chẳng qua là
sự phản ánh TTXH và mối quan hệ này trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau chúng được biểu hiện khác nhau, vai trò của YTXH ngày càng tăng Mác-Ăng ghen đã chỉ
ra "Đối với chúng ta chủ nghĩa cộng sản Không phải là một trạng thái cần phải
sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà là hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xoá bỏ trạng thái hiện nay "( 1).
Đến 1847, Mác viết tác phẩm "Sự khốn cùng của triết học", trong đó Mác chỉ
rõ những sai lầm của Bruđông và cho rằng những khái niệm là do con người đặt ra
để phản ánh hiện thực Đến 1848, Mác-ăngghen viết "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" đây là văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa Mác, trong đó cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác được trình bày một cách thiên tài, thống nhất với các quan điểm kinh tế và các quan điểm chính trị, xã hội; những cơ sở của chủ nghĩa Mác lần đầu tiên được trình bày dưới dạng hoàn chỉnh hệ thống với sự thống nhất hữu cơ giữa các bộ phận của nó Nội dung của “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” chủ yếu đưa ra học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp Trong xã hội có giai cấp đối