1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

84 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

15 CHƯƠNG 2 : CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CHAEBOL TRONG QÚA TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 18 2.1 Đặc điểm của các chaebol Hàn Quốc……….. Đánh gi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

NGUYỄN THỊ CẨM VÂN

Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh

nghiệm cho Việt Nam

LUÂN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Phương Thảo

Hà nội – 2005

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN

KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI VIỆC

HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TẬP ĐOÀN

KINH TẾ 9

1.1.Những vấn đề chung về tập đoàn kinh tế……… 9

1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế …….……… 9

1.1.2 Các phương thức hình thành tập đoàn kinh tế ……… 12

1.1.3 Vai trò của các tập đoàn kinh tế đối với sự phát triển kinh tế của nền kinh tế quốc dân……… 13

1.2 Vai trò của Chính phủ với sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế……… 15

CHƯƠNG 2 : CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CHAEBOL TRONG QÚA TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 18

2.1 Đặc điểm của các chaebol Hàn Quốc……… 18

2.1.1 Đặc điểm về qui mô ……… 20

2.1.2 Đặc điểm về cơ cấu sở hữu ………

21 2.1.3 Đặc điểm về lĩnh vực và thị trường hoạt động kinh doanh … 21 2.1.4 Đặc điểm cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý ……… 22

2.2 Các chính sách của chính phủ và tác động của chúng đến sự hình thành và phát triển của các chaebol trong quá trình phát

Trang 3

triển công nghiệp ……… 23

2.2.1.Khái quát quá trình phát triển công nghiệp của

Hàn Quốc ……… 23 2.2.2 Các chính sách của chính phủ đối với các chaebol………… 34

2.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1997

……… 34

2.2.2.2 Giai đoạn sau 1997 đến nay……….41

2.2.3 Tác động của chính sách đối với sự hình thành và phát triển của các chaebol ……… 43

2.2.3.1 Giai đoạn trước năm 1997

………43

2.2.3.2 Giai đoạn 1997 đến nay ……….………50

2.3 Đánh giá những bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc đối

với việc hình thành và phát triển của các chaebol ……….54

CHƯƠNG 3 : VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC

VÀO VIỆC XÂY DỰNG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM 58

3.1 KháI quát về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam……… ………… 58 3.2 Những nét tương đồng của Việt Nam và Hàn Quốc và

Quan điểm vận dụng các bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc… 62

3.2.1.Những nét tương đồng của Việt Nam và Hàn Quốc …………

62

3.2.2.Quan điểm vận dụng các bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc 67

3.3 Một số giải pháp về chính sách nhằm thúc đẩy quá trình

hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam …… 69

Trang 4

KẾT LUẬN……… …… 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chaebol là tên của các tổ hợp công nghiệp có quy mô lớn thuộc sở

hữu của các gia đình hoặc nhóm gia đình ở Hàn Quốc Các chaebol Hàn Quốc là các conglomerat gia đình trong đó các thành viên của gia đình giữ vai trò là chủ sở hữu đồng thời là người quản lý Về bản chất, các chaebol là các doanh nghiệp gia đình kiểu phong kiến phát triển dưới chế độ tư bản chủ nghĩa Khác với các tập đoàn kinh tế ở một số nước khác trên thế giới, các chaebol Hàn Quốc ra đời và phát triển chủ yếu nhờ vào những hỗ trợ của chính phủ, đặc biệt là chính sách tín dụng ưu đãi trong thời kỳ công nghiệp hoá Các chaebol đã đạt được những thành công trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế Chúng đã có những tác động tích cực đến

sự phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc Những thành công của các chaebol khẳng định sự cần thiết và vai trò của chính phủ đối với của sự hình thành

và phát triển của các tập đoàn kinh tế Tuy nhiên, từ sau khủng hoảng kinh tế năm 1997 với sự phá sản hàng loạt của các chaebol, mặt trái của những chính sách ưu đãi của của chính phủ đối với các chaebol trở thành vấn đề

được giới nghiên cứu quan tâm Trên diễn đàn lý luận, có nhiều tác giả cho

rằng bên cạnh những tác động tích cực, sự hỗ trợ của chính phủ dù được thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp đã tạo ra những hậu quả xấu đối với bản thân các chaebol cũng như toàn bộ nền kinh tế và quan hệ đặc biệt giữa chính phủ và giới Chaebol là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của nhiều chaebol vào cuối những năm 1997

Trong xu thế hội nhập và phát triển, để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, việc sớm hình thành các tập đoàn kinh

té được coi là một trong những biện pháp quan trọng để phát triển và nâng

Trang 6

cao năng lực cạnh tranh của của nền kinh tế Việt Nam Từ sau đại hội 7, Đảng và chính phủ Việt Nam chủ trương xây dựng các tập đoàn kinh tế mạnh trong các ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân Thực hiện chủ chương này hàng loạt các tổng công ty 90 &91 theo mô hình tập đoàn kinh tế đã ra đời Hiện nay, chính phủ Việt Nam đang chỉ đạo làm thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước trên cơ sở các tổng công ty

90 & 91 Đây được xem là một trong những định hướng cơ bản của cải cách doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam Việc xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước là một vấn đề mới mẻ đối với Việt Nam cả trên giác

độ lý luận và thực tiễn Do đó, nghiên cứu về vai trò của nhà nước đối với

sự hình thành và phát triển của tập đoàn kinh tế, để từ đó định hướng cho những giải pháp của chính phủ nhằm xúc tiến việc hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước là một trong những yêu cầu bức xúc hiện nay của Việt

Nam Việt Nam và Hàn Quốc có những điểm tương đồng, đặc biệt là Việt

Nam và Hàn Quốc có điểm xuất phát khi chuyển bước sang thời kỳ thực hiện chính sách công nghiệp hoá hướng ngoại gần giống nhau nếu xét trên phương diện trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội nên những kinh nghiệm của Hàn Quốc có thể là những gợi ý tốt cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sụ hình thành và phát triển của các chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính

trị xã hội chủ nghĩa

2 Tình hình nghiên cứu

Ở Hàn Quốc, vấn đề vai trò của chính phủ đối với việc hình thành và phát triển các Chaebol Hàn Quốc hay mối quan hệ của chính phủ và giới Chaebol đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều công

Trang 7

trình được công bố trên các các tạp chí và các hội thảo Từ sau khủng hoảng kinh tế năm 1997, vấn đề này lại một lần nữa được giới nghiên cứu đặt ra và tranh luận với mục đích tìm một đơn thuốc thích hợp để điều trị những căn bệnh của các Chaebol trong quá trình cải tổ Trên diễn đàn lý luận ở Hàn Quốc hiện nay, tồn tại các quan điểm đối lập nhau về vấn đề này Boo (2001) cho rằng chính những ưu ái của chính phủ đối với các chaebol là nguyên nhân của sự phá sản của các chaebol Vì vậy, để giải quyết những vấn đề của chaebol cần xoá bỏ cái gọi là “chủ nghĩa tư bản thân quen”, chuyển mạnh sang định hướng thị trường Một số tác giả khác lại cho rằng các biện pháp cải tổ mà hiên nay chính phủ đang thực hiện đối với các chaebol là sai lầm Chính phủ cần tiếp tục duy trì quan hệ giữa chính phủ

và các chaebol như trước đây

Ở Việt Nam hiện nay chưa có những công trình nghiên cứu sâu về các chaebol Hàn Quốc nói chung và mối quan hệ của chaebol đối với chính phủ trong qua trình phát triển công nghiệp nói riêng Vấn đề chính phủ Việt Nam cần làm gì và làm như thế nào để thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước trên cơ sở các tổng công ty 90 và 91 đã được Viện Quản lý kinh tế Trung Ương thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu trong khuôn khổ dự án VIE 01/025 về hình thành và phát triển kinh tế ở Việt Nam Các tác giả của dự án này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng tập đoàn kinh tế nhà nước từ các doanh nghiệp nhà nước có qui mô lớn ở Trung Quốc Vấn đề quan hệ của Nhà nước và các tập đoàn kinh tế Nhà nước hay các cơ chế hỗ trợ cho các tổng công ty để các tổng công ty này có thể trở thành các tập đoàn kinh tế Nhà nước có năng lực cạnh tranh mạnh chưa được đề cập một cách cụ thể

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 8

- Luận giải trên phương diện lý luận và thực tiễn về vai trò của chính phủ

đối với quá trình hình thành và phát triển của các chaebol Hàn Quốc

- Nghiên cứu các chính sách của chính phủ đối với các chaebol qua các thời kỳ phát triển công nghiệp và đánh giá tác động của những chính sách này đến sự hình thành và phát triển của các chaebol cũng như sự phát triển của kinh tế Hàn Quốc

- Trên cơ sở những kinh nghiệm của chính phủ Hàn Quốc trong việc hỗ trợ cho sự ra đời và phát triển của các Chaebol, đưa ra những gợi ý cho các nhà hoạch định chính sach Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước từ các tổng công ty 90 và 91

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các chính sách của chính phủ đối với các chaebol qua từng giai đoạn trong thời kỳ từ khi bắt đầu thực hiện quá trình công nghiệp hoá cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, tác giả

sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến được áp dụng trong nghiên cứu khoa học kinh tế như phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, phương pháp phân tích so sánh Các dữ liệu được sử dụng đề phân tích là các

dữ liệu thứ cấp

6 Những đóng góp chính của luận văn

- Khẳng định vai trò của chính phủ đối với quá trình hình thành và phát triển của các Chaebol Hàn Quốc

Trang 9

- Làm rõ thực chất của các chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với các Chaebol qua các thời kỳ và đánh giá những tác động của chúng đối với sự hình thành và phát triển của các chaebol

- Đề xuất một số bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể áp dụng được trong việc hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 : Những vấn đề chung về tập đoàn kinh tế và vai trò của

chính phủ đối với việc hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế

Chương 2 : Chính sách của chính phủ đối với sự hình thành và phát

triển của các chaebol trong qúa trình phát triển công nghiệp

Chương 3 : Vận dụng kinh nghiệm của Hàn Quốc vào việc xây dựng

các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam

Trang 10

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI VIỆC

HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TẬP ĐOÀN

KINH TẾ

1.1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế

Tập đoàn kinh tế xuất hiện từ cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang độc quyền Cho đến nay các Tập đoàn kinh tế trên thế giới tồn tại dưới nhiều hình thức kinh doanh theo kiểu các nhóm công ty, xí nghiệp lớn hoạt động trên phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia Chúng là những công ty có tiềm lực tài chính mạnh mẽ với doanh số hàng năm từ vài trăm triệu đến vài chục tỷ USD

Các tập đoàn này có nhiều chi nhánh, gồm các công ty con, cháu và

có thể hoạt động trong một hoặc nhiều lĩnh vực ngành nghề đa dạng Tùy từng quốc gia và giai đoạn lịch sử mà chúng được gọi bằng những tên khác nhau như : Cartel, Holding company, Chaebol, Zaibatsu

Mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau song có thể khái quát rằng tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các liên kết pháp nhân kinh doanh thông qua nhiều mô hình và phương thức họat động khác nhau nhằm phát triển khoa học công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng lợi thế về tập trung sản xuất và tính chất độc quyền trong khuôn khổ luật pháp Nó hoạt động ở một hay nhiều ngành khác nhau trong phạm vi một nước hoặc nhiều nước,

Trang 11

trong đó có “công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các

“công ty con” về mặt tài chính và chiến lược phát triển

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh rằng khi phân công lao động xã hội phát triển thì qui mô sản xuất kinh doanh trong các thực thể công ty ngày càng cao Đến cuối thế kỷ XIX qui mô sản xuất kinh doanh đã phát triển đến mức rất lớn, hình thành các tổ chức kinh tế mang tính tập đoàn Cho đến nay, Tập đoàn kinh tế vẫn luôn phát triển không ngừng và trở thành một xu thế tất yếu của lịch sử và thời đại vì những nguyên nhân cơ bản sau :

Tích tụ và tập trung sản xuất ngày càng cao tất yếu đưa đến sự hình thành các Tập đoàn kinh tế

Tập đoàn kinh tế ra đời là kết quả phát triển lâu dài của nền sản xuất

xã hội, của chế độ trao đổi thị trường và của quan hệ kinh tế quốc tế Chúng bắt nguồn từ tích tụ và tập trung sản xuất cao độ dẫn đến việc hình thành độc quyền trong nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa Sự phát triển dần lên của hiệp tác giản đơn, từ các xưởng thợ thủ công đến công trường thủ công, từ công xưởng công nghiệp đến xí nghiệp công thương hiện đại, đến các loại hình công ty với nhiều hình thức khác nhau, trong đó Tập đoàn kinh tế ra đời và phát triển

Xí nghiệp công thương hiện đại được hình thành vào nửa sau của thế

kỷ XIX, bởi sự kết hợp giữa quá trình sản xuất qui mô khu vực quốc gia và quốc tế vào trong một công ty đơn nhất (trong xí nghiệp bao gồm nhiều hoạt động từ sản xuất công nghiệp đến thương mại, dịch vụ, tài chính, tín dụng)

Nó hình thành và phát triển qua hai kiểu liên kết dọc và ngang : xí nghiệp liên kết theo chiều ngang, phần lớn là những xí nghiệp qui mô tương đối nhỏ của gia tộc hay cá nhân Để khống chế sản lượng, nâng cao giá cả, các xí nghiệp này cùng tiến hành hợp nhất hoặc liên kết với nhau Xí nghiệp liên

Trang 12

kết theo chiều ngang phần lớn thuộc các ngành khác nhau Xí nghiệp liên kết dọc, thường là những xí nghiệp dùng phương thức sản xuất hàng loạt các xí nghiệp dịch vụ phân phối, tiêu thụ sản phẩm đặc thù, tức là các xí nghiệp theo ngành dọc Thực tế cho thấy, để tiếp tục phát triển về qui mô thì cần thiết phải gia tăng liên kết dọc cả hướng lên trên và xuống dưới, do vậy liên kết dọc là con đường chủ yếu hình thành xí nghiệp công thương hiện đại Xí nghiệp công thương hiện đại có khả năng chuyển một bộ phận phân công xẫ hội do thị trường tổ chức, thành phân công trong nội bộ xí nghiệp để khắc phục sự mất hiệu quả của thị trường do dùng kỹ thuật mới hoặc sản xuất sản phẩm mới gây nên

Xí nghiệp công thương hiện đại đã từng bước thay thế cho tổ chức xí nghiệp đơn nhất truyền thống và trở thành hình thức điển hình, thích ứng với

sự phát triển kỹ thuật hiện đại và đặc điểm thị trường được quốc tế hóa ngày càng mở rộng

Về qui mô, mức độ phức tạp trong quản lý và phạm vi phân công trong nội bộ xí nghiệp công thương hiện đại thì không có bất cứ loại xí nghiệp nào trước đó có thể so sánh được Phạm vi phân công lao động của

nó ngày càng mở rộng sang rất nhiều lĩnh vực sản xuất sản phẩm có liên quan hoặc không có liên quan với nhau, thậm chí trái ngược nhau hình thành một cơ cấu phân công nội bộ theo kiểu đa ngành, hỗn hợp Từ đó có thể khẳng định : xí nghiệp công thương hiện đại là cơ sở hình thành và phát triển các Tập đoàn kinh tế

Khi phạm vi địa lý của sự phân công nội bộ xí nghiệp công thương hiên đại vượt quá biên giới quốc gia thì hình thành nên các Tập đoàn Kinh tế xuyên quốc gia khổng lồ và có tác động rất lớn đến nền kinh tế quốc gia và thế giới

Trang 13

Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác dẫn đến sự hình thành các

xí nghiệp công thương hiện đại và phát triển các Tập đoàn kinh tế :

Một là, cạnh tranh, liên kết, tối đa hóa lợi nhuận

Cạnh tranh vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận dẫn đến hai xu hướng: Thứ nhất, các doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh sẽ thu hút các doanh nghiệp bị dánh bại làm cho qui mô của doanh nghiệp ngày càng

mở rộng về mọi mặt Hiện trạng này diễn ra thường xuyên liên tục trong suốt tiến trình phát triển của Chủ nghĩa Tư Bản và đặc biệt phát triển mạnh

từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay Các công ty họat động có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh thực hiện các biện pháp mua lại, sáp nhập các công ty gặp khó khăn về tài chính hoặc có nguy cơ phá sản Quá trình đó tất yếu hình thành các mô hinh kinh doanh kiểu tập đoàn ngày càng lớn mạnh về mọi mặt

Thứ hai, nếu cạnh tranh kéo dài mà không phân thắng bại thì các doanh nghiệp sẽ liên kết với nhau hoặc tìm kiếm các đối tác khác liên kết nhằm tăng khả năng cạnh tranh Quá trình liên kết giữa các thực thể kinh tế

có thể diễn ra theo các hình thức liên kết ngang, liên kết dọc hoặc liên kết hỗn hợp

1.1.2 Các phương thức hình thành tập đoàn kinh tế

Qua nghiên cứu các hình thức tập đoàn kinh doanh như đã phân tích ở trên, ta thấy có 3 phương thức thành lập truyền thống là :

- Hình thành do mở rộng quy mô và chia nhỏ công ty

Đây là các thức hình thành tập đoàn dựa trên sự mở rộng quy mô của công ty tiến tới tách ra thành một số công ty hoạt động trên một lĩnh vực nhất định Giữa các công ty mới được thành lập và công ty ban đầu (công ty

Trang 14

mẹ) tồn tại các mối liên kết kinh tế – tài chính chặt chẽ Nhiều tập đoàn của Nhật Bản được hình thành theo phương thức này

- Các công ty lớn, mạnh thôn tính các công ty nhỏ, yếu thông qua sáp nhập, mua lại Nhờ hoạt động có hiệu quả, công ty lớn thôn tính các công ty khác dưới hình thức mua các công ty con Họ có thể mua toàn bộ hoặc mua cổp hần với khối lượng lớn đủ để nắm quyền kiểm soát trong Hội đồng quả trị công ty và buộc các công ty bị thôn tính đi theo quỹ đạo của minh Lúc này các công ty con phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh theo phương hướng chiến lược của tập đoàn và của các công ty mẹ Hầu hết các tập đoàn kinh doanh tư bản được hình thành theo kiểu “ cá lớn nuốt cá bé” như vậy Thực tế này diễn ra thường xuyên liên tục trong suốt quá trình phát triển của Chủ nghĩa tư bản đặc biệt là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai

- Các công ty tự nguyện đàm phán, tự nguyện sáp nhập, hợp nhất thành một công ty mới lớn hơn hoặc liên kết xung quanh một công ty lớn hơn được tôn sùng là công ty đầu đàn Trong sự hợp nhất, sáp nhập này có

sự tham gia góp vốn lẫn nhau giữa các công ty thành viên và công ty đầu đàn Có thể nói đây là quá trình sáp nhập tự nguyện do tác động của nhiều nguyên nhân Các công ty thành viên nhận thấy nguy cơ bị thôn tính do sức

ép cạnh tranh của các công ty lớn hơn khác nếu tồn tại một cách biệt lập, vì vậy họ phải tự ngồi lại với nhau để đàm phán ký kết hợp đồng hoặc thoả ước liên kết dưới các hình thức bên ngoài Có thể là các thoả ước về phân chia thị trường sản phẩm, nguyên liệu, qui định giá cả hoặc cùng góp vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Các thoả thuận có thể lá thoả thuận ngầm hoặc công khai Thực trạng trên thế giới cho thấy sự đa dạng phong phú trong việc hình thành các tập đoàn kinh doanh Ví dụ như : hình thành các tập đoàn kinh doanh tại Nhật Bản bao gồm các công ty mẹ và hàng chục công ty con được hình thành trên cơ sở tư nhân hoá Hoặc hầu hết các tập

Trang 15

đoàn mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối ở Trung Quốc được hình thành trên

cơ sở các tổng công ty Nhà nước

1.1.3 Vai trò của các tập đoàn kinh tế đối với sự phát triển kinh tế của nền kinh tế quốc dân

Có thể nói trải qua thực tế hoạt động, các tập đoàn kinh tế đã và đang giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của nhiều nước cũng như của nền kinh tế toàn cầu Xét về mặt lịch sử, từ khi xuất hiện cho đến nay, mức độ ảnh hưởng và vai trò của các tập đoàn có những thay đổi nhất định

do điều kiện kinh tế-xã hội của từng thời kỳ Xét về mặt địa lý, ở các nước khác nhau vai trò của những tập đoàn cũng khác nhau, tùy theo cấu trúc kinh

tế, hệ thống chính trị xã hội của mỗi nước và những yếu tố khác Tuy nhiên

có thể đánh giá tổng quan vai trò của Tập đoàn kinh tế như sau :

- Làm tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của cả tập đoàn cũng như từng công ty thành viên Tập đoàn kinh tế cho phép các nhà kinh doanh huy động được nguồn lực vật chất cũng như con người và vốn trong

xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sự hỗ trợ trong việc cải tổ cơ cấu sản xuất, hình thành những công ty hiện đại, qui mô lớn có tiềm lực kinh

tế lớn Việc hình thành tập đoàn một mặt sẽ cho phép hạn chế đến mức tối

đa sự cạnh tranh giữa các công ty thành viên, mặt khác nhờ mối liên kết chặt chẽ giữa các công ty sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chúng thống nhất phương hướng chiến lược trong phát triển kinh doanh chống lại cạnh tranh của các tập đoàn khác, đặc biệt là các tập đoàn tư bản nước ngoài Thực tế cho thấy các Tập đoàn kinh doanh có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế đất nước, khi đạt tới qui mô hoạt động nhất định, nó còn có tác động trực tiếp đến cả chính sách đối nội, đối ngoại và chiến lược phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, quốc gia

Trang 16

- Thành lập tập đoàn kinh doanh còn là giải pháp hữu hiệu, tích cực

cho đẩy mạnh việc nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh của các công ty thành viên Do là hoạt động, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ mới đòi hỏi một khối lượng lớn tiền vốn

mà mỗi một công ty riêng rẽ không có khả năng huy động được Tập trung điều hoà vốn sẽ có tác động tích cực trong việc tạo điều kiện cần thiết cho triển khai, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất Đồng thời các đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ lớn cũng đòi hỏi phải có sự hợp lực của đội ngũ cán bộ nghiên cứu lớn và thiết bị phong phú Trên cơ sở liên kết các công ty sẽ tạo ra tiềm năng nghiên cứu khoa học

đó Sự hợp tác nghiên cứu này cũng cho phép các công ty thành viên có khả năng đưa ra nhanh những kết quả nghiên cứu, ứng dụng và thu hồi vốn nhanh

1.2 VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

Có thể thấy rằng, có hai tác nhân chính tham gia vào quá trình tăng trưởng là Nhà nước và doanh nghiệp, mỗi tác nhân đều có quyền lợi và trách nhiệm của mình về theo đuổi mục tiêu tăng trưởng Lợi ích của Nhà nước được đảm bảo bằng sự tăng trưởng của nền kinh tế Với tư cách quản lý vĩ

mô nền kinh tế, Nhà nước phải xác định được tầm nhìn dài hạn cho quốc gia phát triển có hiệu suất cao, giữ vai trò chủ đạo xúc tác trong việc thiết lập môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả Các chính sách của Nhà nước cũng giống như các đầu vào về vốn và lao động, là một yếu tố quyết định tăng trưởng bằng nội lực của đất nước

Xét tổng thể, trong mọi giai đoạn phát triển của các nền kinh tế trên thế giới, ở những mức độ khác nhau đều có vai trò Nhà nước trong hướng

Trang 17

dẫn, điều tiết quá trình kinh tế và sự hoạt động của doanh nghiệp trong đó có Tập đoàn kinh tế nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế-xã hội, duy trì phát triển kinh tế ổn định và bền vững Vai trò đó được thể hiện ở những khía cạnh sau

- Tạo tiền đề cho sự ra đời các Tập đoàn kinh tế bằng cách “cấy” các

“tác nhân” kinh tế, tạo lực hút tự nhiên liên kết các doanh nghiệp, những tác nhân này trở thành những vật cản mà các doanh nghiệp đơn lẻ hoặc qui mô nhỏ không thể vượt qua Ví dụ : những qui định, những sắc lệnh của Chính phủ : lệnh cấm, lệnh trừng phạt, xung quanh vấn đề giấy phép xuất nhập khẩu, bản quyền phát minh sáng chế để hình thành các tập đoàn kinh tế đủ sức mạnh vượt qua các rào cản đó

- Duy trì ổn định xã hội, ban hành luật pháp, xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô, dảm bảo môI trường bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau

- Can thiệp vào các hoạt động tác nghiệp của các tập đoàn kinh tế ở những mức độ nhất định với vai trò như là “bà đỡ” cho sự ra đời và lớn mạnh của các tập đoàn nội địa, đủ sức đương đầu với các tập đoàn kinh tế hùng mạnh trên thế giới Từ việc ra các chính sách tài chính, tiền tệ… đến việc hỗ trợ về vốn, công nghệ, đào tạo nhân lực nhằm thúc đẩy quá trình tích

Trang 18

-Nhà nước còn có vai trò định hướng phát triển làm tiền đề cho quyết định của các tập đoàn và các tổ chức kinh tế khác hoạt động có hiệu quả

Trên thực tế, khi chính phủ định hướng chiến lược phát triển ở đâu thì

ở đó có các Tập đoàn phát triển mạnh Ta có thể thấy rõ rệt điều này qua việc phát triển của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc của một

số nước châu Á khác như : Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản

Vai trò của Nhà nước ở các nước khác nhau là không đồng nhất Ví

dụ, mặc dù Mỹ rất coi trọng sự phát triển của các tập đoàn kinh tế lớn những chính phủ chỉ tác động như một chất xúc tác chứ không chi phối sự hoạt động phát triển của chúng (tức là giảm thiểu sự can thiệp vào tiến trình phát triển của các tập đoàn kinh tế) Trong khi chính phủ ở các nước thậm chí chi phối cả chiến lược hoạt động của các tập đoàn kinh tế, vì những mục tiêu phát triển chung của nền kinh tế quốc dân Tuy vậy, từ các phân tích trên đây, có thể thấy vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng đối với sự hình thành của các tập đoàn kinh tế

Trang 19

cá nhân sáng lập đã đưa ngày càng nhiều hơn số lượng, các thành viên trong gia đình vào các vị trí quan trọng của các hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 20

(điều mà sau này phương Tây gọi là “Chủ nghĩa Tư bản thân thiện kiểu châu Á”) Như vậy chính trong quá trình phát triển công nghiệp, các tập đoàn kinh doanh lớn (gọi là những Chaebol) được hình thành Hàn Quốc coi đây

là những đầu tàu kéo nền kinh tế phát triển với tốc độ cao, tạo điều kiện cho nước này vươn lên khai thác và chiếm lĩnh thị trường khu vực và thế giới

Chaebol là tên của các tổ hợp công nghiệp thuộc sở hữu của các nhóm gia đình của Hàn Quốc, các Chaebol Hàn Quốc thực chất là các cônglômerát gia đình, trong đó các thành viên của một gia đình đóng vai trò chủ đạo Về bản chất chúng vẫn là những doanh nghiệp kiểu gia đình phong kiến Các dòng họ sáng lập bắt đầu từ những tộc trưởng tạo dựng công ty dựa trên cơ cấu đẳng cấp của tập đoàn.Để có thể hiểu rõ hơn về các chaeol chúng ta có thể xem xét chúng dưới các giác độ sau :

2.1.1 Đặc điểm về qui mô

Tiềm lực của các chaebol lớn mạnh đến mức họ có thể kiểm soát cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và nhiều lĩnh vực phi kinh tế khác Đầu thập kỷ 90, 30 chaebol lớn nhất Hàn Quốc chiếm tới 90% GDP của nước này và 4 chaebol lớn nhất là Hyundai, Samsung, LG và Daewoo chiếm tới 84% GDP và 60% giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc.Xét về qui mô, các chaebol không chỉ gây ảnh hưởng trong nước mà còn trên phạm vi toàn cầu Ngay thời kỳ đầu thực hiện công nghiệp hóa, nhiều chaebol đã vươn ra thị trường quốc tế và khẳng định vai trò và vị trí của chúng Ví dụ : Huyndai có

45 công ty chi nhánh ở nước ngoài, số tài sản 54,6 tỷ USD, doanh số kinh doanh 75 tỷ USD (1995) là một tập đoàn sản xuất ô tô lớn nhâts, đóng tàu lớn nhất và là một trong những công ty xây dựng hàng đầu của Hàn Quốc; còn Samsung là một tập đoàn lớn thứ 12 trên thế giới, có 140 chi nhánh ở nước ngoài và sản xuất trên 3 nghìn mặt hàng khác nhau, là công ty sản xuất chất bán dẫn, đIện tử, thương mại, bảo hiểm lớn nhất Hàn Quốc; Daewoo có

Trang 21

khoảng 1 nghìn chi nhánh ở nước ngoài hiện chiếm khoảng 10% thị phần các sản phẩm điện tử, ô tô trên thị trường thế giới và phát mạnh ở khắp các châu lục khác nhau

Nếu so sánh số lượng các công ty chi nhánh của chaebol với Keiretsu (Nhật Bản) và Jitianque (Đài Loan) một loại tổ hợp công nghiệp lớn có những đặc điểm tương tự như loại hình chaebol của Hàn Quốc, ta thấy 10 chaebol lớn nhất của Hàn Quốc có tổng số 294 chi nhánh ở trong nước, trung bình mỗi chaebol có 29 chi nhánh Như vậy tính trung bình có 41 chi nhánh chaebol và có mựt ở tất cả các ngành công nghiệp khác nhau Trong khi đó, số công ty chi nhánh thuộc Keiretsu trung bình là 33, còn mỗi Jituanque trung bình là 8 Sáu Keiretsu lớn nhất của Nhật Bản trung bình có

112 chi nhánh Mười Jituanque lớn nhất Đài Loan trung bình có 18 chi nhánh Qua sự so sánh trên cho thây, quy mô hoạt động của các chaebol có

số chi nhánh ít hơn so với Keiretsu của Nhật Bản, nhưng quy mô hoạt động của chúng lại rộng hơn và số lượng chi nhánh cũng nhiều hơn so với các Jituanque của Đài Loan

Bảng 1 : Mức độ đa dạng hoá của 10 chaebol hàng đầu (1982)

Tên Chaebol Số công ty chi

nhánh

Số lượng các ngành công nghiệp chaebol hoạt động

Chỉ số đa dạng hoá (H*)

Trang 22

H* : tính từ 0-1 : số càng cao, mức độ đa dạng hoá càng rộng

Nguồn : Korea Observer, 1994

Các chaebol hầu hết đều có nguồn gốc từ kinh doanh gia đình quy mô nhỏ, trong một ngành công nghiệp cụ thể Các nhà kinh doanh Hàn Quốc với quan niệm rằng mỗi chaebol có ít chi nhánh mà lại có mặt ở tất cả các ngành công nghiệp thì phạm vi quốc tế hóa sẽ rộng hơn rất nhiều so với các chaebol có nhiều chi nhánh mà tập trung vào một số ngành công nghiệp

2.1.2 Đặc điểm về cơ cấu sở hữu :

Các công ty thuộc chaebol có cơ cấu sở hữu khác với các công ty không thuộc chaebol Cơ cấu sở hữu của các chaebol được duy trì theo chế

độ “sở hữu theo dòng máu”(tức là do các nhà kinh doanh sáng lập ra nó và con cháu ông ta quản lý, kiểm soát và chi phối) Hiện nay 65% các công ty kinh doanh Hàn Quốc đều do các cá nhân sáng lập ra nó kiểm soát và tuân theo hình thức “cha truyền con nối” Tức là chaebol được biết đến chủ yếu một phần do tập trung quyền kiểm soát vào tay của các gia đình sở hữu Nhưng so với các nước Đông Á khác thì Hàn Quốc vẫn đứng đâu đó ở giữa,

Trang 23

xét về mức độ tập trung của hiện tượng gia đình trị Nếu nhìn vào tỷ lệ phần trăm tổng mức vốn hóa thị trường do 5 gia đình lớn nhất kiểm soát, thì con

số này là 29% ở Hàn Quốc, trong khi đó cao hơn nhiều là ở Inđônêsia (41%, Philippin (43%), TháI Lan (32%) Tỉ trọng này khá thấp ở Singapore (20%, ĐàI Loan (15%) và Malaysia (17%), còn ở Nhật Bản con số này là chưa đầy 2% Chỉ khi chúng ta nhìn vào tỉ trọng của gia đình đứng đầu thì Hàn Quốc mới bắt đầu trông giống Inđônêsia hoặc Philippines hơn : gia đình Chung Ju-Yung của hãng Hyundai là gia đình lớn nhất không chỉ có tài sản sở hữu

ở Hàn Quốc mà còn có ở tất cả Đông Á, với tài sản sở hữu trị giá 48 tỉ đôla

2.1.3 Đặc điểm về lĩnh vực và thị trường hoạt động kinh doanh

Phạm vi hoạt động của các chaebol là vô cùng rộng lớn và đa dạng, nó hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế, sản xuất, kinh doanh từ những sản phẩm nhỏ nhất như :cái kim, sợi chỉ đến những ngành công nghiệp bậc cao, các ngành công nghiệp điện tử, hàngk hông, vũ trụ đến các ngành tài chính bảo hiểm Các chaebol thực hiện chiến lược đa dạng hoá nhanh chóng lớn mạnh

và trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế vượt bực của Hàn Quốc trong vài thập kỷ qua Có thể nói sự phát triển theo định hướng đa dạng hoá từ rất sớm khi mà các chaebol thu nhận về tay mình các công ty thuộc sở hữu nhà nước trong quá trình tư nhân hoá và mua các công ty tư nhân yếu kém Cho đến nay các chaebol vẫn tiếp tục định hướng đa dạng hoá, không ngừng mở rộng hoạt động kinh doanh bằng chính chiến lược đa dạng hoá của mình.Với đặc điểm sản xuất kinh tế hướng vào xuất khẩu, các chaebol chính là hình thức tổ chức sử dụng công nghệ hiện đại nước ngoài để phát triển kinh tế Ngày nay các sản phẩm của các chaebol chiếm được vị trí đáng kể trên thị trường thế giới và 4 chaebol Hàn Quốc đều nằm trong số 50 công ty lớn nhất trên thế giới

2.1.4 Đặc điểm cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý

Trang 24

Mỗi chaebol đều có một cơ quan điều hành riêng Cho dù tên gọi khách nhau, các cơ quan này đều chung một chức năng : giúp chủ tịch tập đoàn phối hợp hoạt động của công ty chi nhánh, điều hành nhân sự, tài chính đầu tư Bằng việc hùn vốn, phân bổ nhân sự, tư bản, các cơ quan điều hành góp phần nâng cao tính hiệu quả của tập đoàn nói chung, các công ty riêng lẻ nói riêng Việc giải quyết mâu thuẫn nội bộ của chaebol được thực hiện thông qua Hội đồng chủ tịch Do quan hệ đẳng cấp, chủ tịch chaebol có vai trò chi phối các thành viên khác của Hội đồng Vấn đề không nhất trí không xuất hiện ở Hội đồng chủ tịch chaebol, nơi tồn tại vị trí đứng đầu là chủ tịch hội đồng Cho dù các thành viên có đồng ý giải quyết xung đột theo hướng

đó hay không, chủ tịch vẫn có quyền giải quyết bằng mệnh lệnh Do đó có thể thấy rõ rằng Hội đồng chủ tịch chaebol mang tính độc đoán và đạt kết quả cao trong giả quyết tranh chấp

Qua một số đặc điểm trên của các chaebol, xét về mặt tích cực, có thể thấy các chaebol chính là bộ xương sống quy mô lớn, tiếp thu công nghệ từ các quốc gia tiên tiến (chủ yếu là từ Mỹ và Nhật Bản) và được sự giúp đỡ của chính phủ, các chaebol đã có sức cạnh tranh quốc tế trong một số ngành công nghiệp phát triển nhất định Với đặc đIểm sản xuất kinh tế hướng vào xuất khẩu, các chaebol chính là hình thức tổ chức sử dụng công nghệ hiện đại nước ngoài để phát triển kinh tế Ngày nay, sản phẩm của các chaebol chiếm được vị trí đáng kể trên thị trường thế giới và 4 chaebol lớn nhất Hàn Quốc đều nằm trong số 50 công ty lớn nhất thế giới và đã gia nhập OECD năm 1996 Sự thành công của chaebol cũng như những đóng góp của chaebol đối với nền kinh tế Hàn Quốc là không thể chỗi cãi Tuy nhiên sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của các chaebol đã làm khuynh đảo nền kinh tế Hàn Quốc, đưa mô hình công nghiệp hóa đất nước này vừa mang tính độc đáo, vừa mang tính khắc nghiệt

Trang 25

2.2 CÁC CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC

CHAEBOL TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

2.2.1 Khái quát quá trình phát triển công nghiệp của Hàn Quốc

Hàn Quốc trở thành con rồng châu Á từ một nền kinh tế bị tàn phá nặng nề trong Chiến tranh thế giới thứ hai và trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Triều Tiên Quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc xuất phát từ một nước công nghiệp nghèo nàn, có thu nhập đầu người chỉ đạt 80 USD vào năm

1960, thấp hơn mức 94 USD của Thái Lan, kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng 1/11 lần của Thái Lan Tuy nhiên, chỉ trong vòng ba thập kỷ kể từ năm 1950, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp hiện đại, với GDP đầu người gấp 4 lần và xuất khẩu vượt 3 lần Thái Lan Tính đến cuối năm 1996 Hàn Quốc đã trở thành quốc gia có nền công nghiệp lớn thứ 11 trên thế giới Với thu nhập đầu người đạt 11.000 USD

Tất cả các thành công đạt được là bởi sự thay đổi, sau khi Tổng Thống Pắc Chung Hy lên cầm quyền, Hàn Quốc mới bắt đầu có chiến lược phát triển công nghiệp rõ rang thông qua một loạt kế hoạch 5 năm Chính sách phát triển công nghiệp của Hàn Quốc được chia thành các giai đoạn khác nhau.Quá trình công nghiệp hoá của Hàn Quốc được bắt đầu kể từ năm

1962, kể từ đó con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đều tuân thủ theo các nguyên tắc chủ đạo của các kế hoạch 5 năm Kế hoạch lần thứ nhất nhằm hướng tới xây dựng một cơ cấu công nghiệp tự chủ, không mang khuynh hướng tiêu dùng và phụ thuộc như trong những năm 1950 Kế hoạch lần thứ hai (1967-1971) nhằm hiện đại hóa cơ cấu công nghiệp bằng việc xây dựng các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu như sắt thép, cơ khí, hóa chất Kế hoạch lần thứ ba (1972-1976) nhằm xây dựng một cơ cấu công nghiệp hướng về xuất khẩu thông qua thúc đẩy công nghiệp nặng và hóa

Trang 26

chất dựa vào lợi thế so sánh Tuy nhiên, nguyên tắc chủ đạo của chiến lược công nghiệp hóa trong giai đoạn 1962-1976 là hướng định lượng và phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài Sau cú sốc dầu mỏ năm 1973, cơ cấu công nghiệp ở Hàn Quốc trở nên mất cân đối Trước tình hình đó, kế hoạch lần thứ tư (1977-1981) hướng tới sự thay đổi cơ cấu công nghiệp thúc đẩy cạnh tranh quốc tế Mặc dù chính phủ tăng cường điều chỉnh cơ cấu công nghiệp, nhưng sự mất cân đối về cơ cấu cũng như là khả năng cạnh tranh kém của các ngành công nghiệp nặng và hóa chất so với các nước khác cùng qui mô kinh tế vẫn diễn ra Vào cuối những năm 1970, lạm phát ở tốc độ cao chưa từng có Chính phủ đã phải chuyển hướng chiến lược công nghiệp hóa sang các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh trong kế hoạch lần thứ năm (1982-1986) Điều đó có nghĩa là chuyển các ngành công nghiệp nặng và hóa chất sang hướng ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp tập trung nhiều công nghệ Kể từ đó, nền kinh tế Hàn Quốc chuyển sang một giai đoạn mới : công nghiệp hóa dựa trên công nghệ cao và tiến dần tới quốc tế hóa các ngành công nghiệp

Trong 40 năm xây dựng con đường công nghiệp hóa, Hàn Quốc đã đưa nền kinh tế của mình cất cánh Đối với một nước khan hiếm tài nguyên như Hàn Quốc, thành công này thật to lớn Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hàn Quốc kể từ năm 1962 có thể khái quát như bảng 1

Bảng 2 : Các kế hoạch phát triển kinh tế Hàn Quốc

trong thời kỳ (1962-1996)

Kế hoạch Mục tiêu của kế hoạch Các mục tiêu cơ bản

Kế hoạch lần Tăng trưởng, tự túc - Điều chỉnh những diễn biến xấu

Trang 27

thứ nhất

(1962-1966)

của nền kinh tế và xã hội

- Xây dựng cơ sở nền tảngg cho một nền kinh tế độc lập, tự túc

- Phát triển nông nghiệp và nghề

- Thời kỳ tăng trưởng xuất khẩu

- Xây dựng các ngành công nghiệp nặng và hóa chất

- Thúc đẩy công bằng xã hội

- Phát triển công nghệ và cảI tiến năng suất

- Đổi mới công nghệ

- Cải thiện chất lượng cuộc sống

- Thay đổi chức năng của Chính phủ

Kế hoạch lần

thứ sau

(1987-1991)

Tự chủ, ổn định, phúc lợi

- Tăng cường sự công bằng và cân đối trong quản lý kinh tế

- Cải thiện chất lượng đời sống và

Trang 28

phát triển kinh tế công bằng

- Tự do hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế

Kế hoạch lần

thứ bảy

(1992-1996)

Cạnh tranh, công bằng, quốc tế hóa

- Tự do hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế

- Thúc đẩy đầu tư R&D và SOC

- Cải thiện sự công bằng xã hội

Nguồn : Far Eastern Economic Review, 3/4/1997

-Giai đoạn 61-79 là thời kỳ phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu

và ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và hoá chất

Năm 1961, Tổng Thống Park Chung Hee lên nhậm chức và đã nhấn mạnh : phát triển kinh tế là một ưu tiên hàng đầu để hiện đại hóa đất nước ông đã lập ra các kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm nhằm đưa Hàn Quốc trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới Giai đoạn từ 1962-1979 được coi như là một giai đoạn quan trọng nhất trong phát triển kinh tế hiện đại của đất nước, bởi vì nó đạt được những tiến bộ quan trọng trong xây dựng và phát triển cơ sở công nghiệp, đạt được những thay đổi cơ bản trong các chiến lược phát triển của quốc gia thông qua cải cách chính sách và thay đổi thể chế

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, chính phủ tập trung phát triển cơ

sở hạ tầng (đường sá, cầu cống, thủy điện) đồng thời chuẩn bị các cơ sở cho quá trình đẩy mạnh xuất khẩu Bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cũng là quá trình công nghiệp hóa, được thực hiện từ công nghiệp nhẹ Các lĩnh vực phát triển chủ yếu trong công nghiệp là điện, phân bón, sợi hóa

Trang 29

học, lọc dầu và xi măng, trong đó sợi hóa học, lọc dầu phát triển thông qua liên doanh với nước ngoài chủ yếu là dựa vào vốn của Mỹ

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1967-1971), mục tiêu chủ yếu là hiện đại hóa cơ cấu công nghiệp hướng ngoại Chính sách thay thế nhập khẩu trong kế hoạch 5 năm đầu được thay thế bằng chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở sử dụng nhiều lao động, có lợi thế trong cạnh tranh với nước ngoài Các ngành sợi nhân tạo hóa dầu, thiết bị điện và các ngành công nghiệp nhẹ như vải, cao su, gỗ dán được coi là ngành xuất khẩu chủ yếu.Do biết tận dụng nguồn lao động dư thừa, có kỹ năng và chi phí rẻ cho quá trình sản xuất các sản phẩm hướng về xuất khẩu, Hàn Quốc trong những năm

1960 đã khắc phục được sự thiếu thốn nghiêm trọng về mặt tài nguyên, vượt qua được những sức ép về thị trường nhỏ bé trong nước để hướng ra xuất khẩu, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế Tỷ lệ xuất khẩu trong GNP đã tăng từ 2,4% năm 1961 lên 6,8% vào năm 1966 và 11,2% vào năm 1971 (xem bảng 2)

Bảng 3 : Một số kết quả đạt được trong thời kỳ 1962-1971

1962 1971 Thay đổi hàng

năm (1962-1971) GNP (tỷ W) 3.555 34.191 -

Trang 30

Cơ cấu kinh tế (lấy 2 năm 1965 và 1970) (% GNP)

+ Nông, lâm, ngư 38,4 28,0 -

Trang 31

nghiệp

+ Công nghiệp 19,8 22,8 -

Nguồn : Uỷ ban Thương mại bình đẳng Hàn Quốc

- Giai đoạn 80-97 là thời kỳ điều chỉnh cơ cấu và tự do hóa nền kinh tế

Mặc dù thành tích phát triển công nghệ hai thập kỷ trước là ngoạn mục nhưng nền kinh tế Hàn Quốc đã xuất hiện những vấn đề mất cân đối cơ cấu và những ngành công nghiệp phát triển ở thập kỷ 70 do quá dựa vào bảo

hộ tín dụng ưu đãi của nhà nước nên sức cạnh tranh yếu, chất lượng hàng hoá không cao Do đó chính sách chủ yếu trong giai đoạn này là ổn định kinh tế, khuyến khích sáng kiến của khu vực kinh tế tư nhân và cạnh tranh, tăng cường phúc lợi quốc gia, công bằng xã hội và tự do hóa kinh tế

Nội dung điều chỉnh cơ cấu trên bốn khía cạnh : điều chỉnh cơ cấu công nghiệp, tự do hóa và mở cửa nền kinh tế, từng bước tư nhân hóa ngành công nghiệp và mở rộng thị trường, thúc đẩy cạnh tranh Giai đoạn này là thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ tư và chuẩn bị bước vào kế hoạch

5 năm lần thứ năm và sáu Hai kế hoạch 5 năm lần thứ năm và sáu xem xét thêm nhiều nội dung xã hội, các yếu tố phúc lợi xã hội, đời sống dân cư Do vậy bản kế hoạch đổi tên thành kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Trong chiến lược phát triển kinh tế, chính phủ tiến hành tự do hóa có lựa chọn Cùng với tự do hóa, từ năm 1979 chính phủ tập trung sự can thiệp vào ba lĩnh vực : cơ cấu lại ngành công nghiệp, hỗ trợ phát triển công nghệ và thúc đẩy cạnh tranh Chính phủ đã đóng vai trò tích cực trong ba lĩnh vực đó

Trang 32

Bảng 4 : Một số kết quả đạt được trong thời kỳ 1980-1989

1980 1987 1988 1989 Thay đổi

hàng năm (1980-1989) GNP (tỷ W) 368.570 1.097.26 1.313.713 1.479.416 -

Trang 34

+ Công nghiệp 40 47,1 - 44,7* -

+ Dịch vụ 45 41,4 - 46,2* -

Ghi chú : * số liệu năm 1990

Nguồn : Stattistical Yearbooks, Bộ Tài chính và Kinh tế Hàn Quốc

* Giai đoạn 1990-1996 là thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế mới

và toàn cầu hoá

Trong tháng 12/92, Tổng thống Kim Young Sam lên nhậm chức và cùng với việc nhậm chức của ông là việc thay đổi, tiến hành các biện pháp chống tham nhũng trong các cấp lãnh đạo, ban hành các sắc lệnh về trong sạch tài chính và thay đổi cơ chế cầm từ quân sự sang dân sự Trong khi đó nền kinh tế vẫn tăng trưởng với tốc độ cao do mở rộng mức cầu trong nước, mặc dù có sự gián đoạn xuất khẩu trong giai đoạn 1990-1991 Trong suốt sáu năm (1985-1991), nền kinh tế tăng trưởng trung bình ở mức 10,4% Điều này vượt quá tiềm năng tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc, vì vậy dẫn đến lạm phát cao (khoảng 9% trong các năm 1990-1991), mức lương thực tế

có xu hướng giảm dần, giá cả tiêu dùng tăng, ngân sách có xu hướng bội chi Cũng chính vì lý do đó mà chính phủ Hàn Quốc đã nỗ lực tăng cường

sự ổn định hoá kể từ cuối năm 1991 Các biện pháp kiểm soát cung tiền tệ và chi tiêu tài chính trở nên chặt chẽ hơn Chính phủ đưa ra những biện pháp giới hạn tài chính xây dựng nhà cửa và tài chính tiêu dùng, nhấn mạnh các biện pháp kích thích đầu tư theo ngành Tình hình kinh tế-xã hội đã có những cải thiện rõ rệt Tuy nhiên giai đoạn 1992-1996 là giai đoạn khó khăn hơn trong điều chỉnh cơ cấu do phải cắt giảm lao động trong các ngành công nghiệp đang được trợ cấp và hoạt động thiếu hiệu quả Nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào các chaebol, trong khi các công ty vừa và nhỏ bị bóp

Trang 35

nghẹt hoạt động sản xuất Năm 1995, Hàn Quốc có 13.992 công ty vừa và nhỏ bị phá sản, sáu tháng đầu năm 1996 con số này là 6.425 Nền kinh tế Hàn Quốc tính đến đầu năm 1997 đứng trước một sự lựa chọn giữa một bên

là nền kinh tế thực ôn hoà và một bên là những áp lực ngày càng tăng của thị trường tài chính Các chaebol cần phải nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế, trong khi các công ty vừa và nhỏ không sinh lợi nhuận vẫn tồn tại Hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế giảm là một hậu quả tất yếu Cuộc cải cách cơ cấu đã không theo kịp những cải cách tài chính song song Do vậy, tỷ lệ tăng trưởng GNP đã không ổn định trong giai đoạn 1990-1996, lạm phát tăng, trong khi thất nghiệp đạt ở mức thấp –2,5% - so với tiêu chuẩn gia nhập OECD Năm 1996, thâm hụt tài khoản hiện hành là 23,7 tỷ USD (5% GDP) Trong khi đó, hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi của Hàn Quốc đã không đem lại tác dụng và chính sách tiền tệ tỏ ra không thích hợp trong môi trường mở cửa của thị trường vốn Cuối năm 1997, nền kinh tế Hàn Quốc rơi vào tình trạng suy thoái

- Giai đoạn từ 97 đến nay là thời kỳ của khủng hoảng và phục hồi kinh tế

Vào ngày 3/11/1997, sự phá giá mạnh của đồng won và sự chao đảo

dữ dội trên thị trường chứng khoán là dấu hiệu đầu tiên đưa cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Hàn Quốc vào tình trạng tồi tệ nhất kể từ ba thập

kỷ qua, kéo theo sự sụp đổ toàn diện của nền kinh tế Hàn Quốc Tỷ lệ GDP tăng trưởng thực tế năm 1997 chỉ đạt 5,5% so với 7,1% của năm 1996 và 8,9% của năm 1995 là mức thấp nhất kể từ năm 1970 Năm 1998, tăng trưởng GDP thực tế ở mức –5,8% Kể từ tháng 1/1997, 8 chaebol tuyên bố phá sản, đẩy số nợ không có khả năng thu hồi của các chaebol lên đến mức

52 tỷ USD, chiếm 17% tổng số tiền cho vay của các ngân hàng Sự phá sản hàng loạt của các công ty lớn, vừa và nhỏ ở Hàn Quốc trong cuộc khủng

Trang 36

hoảng tài chính-tiền tệ vừa qua, cùng với lệnh đóng cửa 14 ngân hàng không

có khả năng thanh toán là đòn giáng nặng nề đối với nền kinh tế Hàn Quốc vốn quen với tỷ lệ tăng trưởng cao và sự bành trướng kinh tế mạnh mẽ

Đứng trước tình trạng nguy ngập này, chính phủ Hàn Quốc cùng với những sự hỗ trợ từ bên ngoài đã có những biện pháp giải quyết một cách tích cực tình trạng này như : cải cách trong khu vực công ty, cải cách trong khu vực thị trường lao động, cải cách trong khu vực ngân hàng

Từ mức tăng trưởng GDP là 6,7% năm 1997 nền kinh tế Hàn Quốc nền kinh tế Hàn Quốc đã phục hồi mức tăng trưởng của năm 1998 là 10,7% với tỷ lệ lạm phát 0,8% vào năm 1999 Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 8,7% trong thời gian khủng hoảng xuống còn 4,1% vào tháng 4/2000 Dự trữ ngoại tệ của Hàn Quốc đã tăng từ 3,9 tỷ USD năm 1997 lên 84,6 tỷ USD vào tháng 4/2000 và tính đến tháng 8/2003 thì dự trữ ngoại tệ của Hàn Quốc đã lên tới 137,8 tỷ USD, giữ vị trí thứ tư trên thế giới sau Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan

2.2.2 Các chính sách của chính phủ đối với các chaebol

2.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1997

Thành công trong phát triển kinh tế của Hàn Quốc trong 4 thập kỷ qua

có sự đóng góp hàng đầu của chính phủ Cũng nhờ có sự hỗ trợ đặc biệt của chính phủ với các chính sách chủ yếu trên đã góp phần tạo ra một hệ thống các tập đoàn kinh tế lớn ở Hàn Quốc với cái tên – chaebol

Trong chiến lược phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc, với đặc điểm sản xuất kinh tế hướng vào xuất khẩu, các chaebol chính là hình thức tổ chức tốt nhất để có thể phát triển kinh tế đất nước Để có thể thực hiện được mục tiêu của mình, chính phủ đã đưa ra những chính sách thích hợp trong từng thời kỳ để nhằm khuyến khích các chaebol phát triển hoạt động của mình

Trang 37

- Chính sách công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu

Đối với chính phủ Hàn Quốc công nghiệp hoá là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để phát triển kinh tế Và cũng là đối với Tổng thống Park Chung Hee, người có quan điểm bị ảnh hưởng nhiều từ Nhật Bản, coi Nhật Bản như

là một khuôn mẫu về sự phát triển kinh tế và chính vì vậy ngay từ đầu, công nghiệp nặng của Hàn Quốc chính là đích nhắm của ông trong việc thực hiện một ước mơ to lớn hơn là xây dựng các ngành công nghiệp bề thế của Hàn Quốc Cũng vì để phát triển một ngành công nghiệp vững mạnh trong đó lấy công nghiệp nặng là then chốt, chính quyền Park cho rằng, không thể trông chờ vào việc thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển bởi lo sợ một sự thôn tính kiểm soát quá sâu vào nền công nghiệp trong nước Bắt đầu từ công nghiệp nhẹ, tiến sang công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất, rồi công nghiệp điện tử và đến công nghiệp cao Các chaebol là những tổ chức được hưởng lợi chủ yếu từ chính sách công nghiệp hoá của chính quyền Park Bởi vì vào những năm 70 khi chính phủ đề xướng công nghiệp hoá tập trung vào hai ngành thì chính phủ đã gặp phải sự chống đối từ khu vực tư nhân vì để có thể đầu tư vào hai ngành này thì đòi hỏi một lượng vốn rất lớn

mà hầu như là không một công ty nào có thể đáp ứng được, đồng thời đầu tư vào các ngành đều có mức độ rủi ro cao hơn các ngành khác Do đó chính phủ đã đưa ra những ưu đãi đối với các công ty tham gia vào các ngành này, đồng thời cũng ràng buộc các công ty nếu như còn tham gia vào ngành này thì còn có sự ưu đĩa còn nếu không tham gia thì sự ưu đĩa là cũng chấm dứt Chính sách này của chính phủ đã là động cơ để các chaebol phát triển kinh doanh của mình vào các ngành công nghiệp trọng điểm Cũng chính từ ý này

mà chính quyền Park đã chủ trương huy động vốn từ bên ngoài, và lựa chọn các doanh nghiệp có quy mô lớn thuộc khu vực kinh tế tư nhân- các chaebol

là người thực hiện chính sách phát triển công nghiệp đồng thời sử dụng công

Trang 38

cụ tài chính như là một công cụ chính để kiểm soát các hoạt động của các công ty này (các chaebol) và buộc họ đem lợi ích về cho quốc gia

- Chính sách hỗ trợ về tín dụng - Cấp tín dụng với lãi suất thấp cho

các ngành công nghiệp ưu tiên Bắt đầu từ những năm 60, sản xuất hướng về xuất khẩu là bộ phận chiến lược quan trọng của Hàn Quốc để phát triển kinh

tế Do vậy sự giúp đỡ tín dụng lãi suất thấp cho hàng xuất khẩu là đặc biệt

có ý nghĩa Tín dụng lãi suất thấp tạo khả năng đáp ứng được những thay đổi

cơ hội trên thị trường quốc tế của các công ty Sự linh hoạt này đã đưa các nhà xuất khẩu mà lực lượng chính ở đây là các chaebol đến khai thác những

cơ hội mới và đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu của họ Đồng thời lãi suất thấp là đòn bẩy cho sự phát triển và tăng trưởng của các ngành kỹ thuật cao, góp phần cải thiện cơ cấu kinh tế Bí quyết tăng trưởng nhanh của nền kinh

tế Hàn Quốc không chỉ là yếu tố nhân lực mà còn là yếu tố tiền vốn Do vậy trong điều kiện đó, sự lựa chọn tốt nhất cho các công ty là chuyển hướng hoạt động kinh doanh của công ty mình sang những ngành là mục tiêu điều tiết của chính phủ Bởi vì khi các công ty tham gia vào các ngành này thì sự tồn tại và phát triển của công ty sẽ được đảm bảo hơn nếu không muốn nói

là được đảm bảo 100% trong thời kỳ này Các công ty sẽ được vay vốn thông qua hệ thống ngân hàng nhà nước với mức lãi suất thấp và được hưởng những điều kiện ưu tiên khi vay vốn nước ngoài Cũng trong trường hợp các công ty mất khả năng thanh toán thì chính phủ sẽ can thiệp để công

ty vẫn có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình Chính sách này của chính phủ chính là động cơ để các chaebol phát triển kinh doanh vào những ngành công nghiệp trọng điểm Sự tham gia vào ngành này sẽ là một miếng bùa hộ mệnh cho các chaebol, bảo vệ tài sản cũng như hoạt động kinh doanh

Trang 39

+ Trong giai đoạn 1966-1972, lãi suất tín dụng xuất khẩu là 6,1%/năm, trong khi lãi suất chung là 22,3%/năm, lạm phát là 12,3%/năm Như vậy, lãi suất thực dành cho xuất khẩu là âm (-6,2%/năm) Tổng khối lượng trợ cấp tín dụng cho xuất khẩu cũng tăng từ 4,5% trong tổng tín dụng ngân hàng (1961-1965) lên 7,6% trong giai đoạn 1973-1981 Tiền trợ cấp đạt cao nhất vào năm 1967, khi tổng trợ cấp tín dụng chiếm 2,3% tổng giá trị xuất khẩu

+ Trong giai đoạn 1972-1979, trước tình hình có nhiều sự thay đổi chính phủ đã áp dụng chính sách tín dụng có lựa chọn Chính sách này thể hiện sự tăng cường việc kiểm soát với việc cấp tín dụng Chính sách tín dụng được áp dụng đối với các đối tượng có lựa chọn hơn

Dưới đây là bảng số liệu về Lãi suất tín dụng xuất khẩu (%)

Bảng 5: Lãi suất tín dụng xuất khẩu qua các thời kỳ (%)

1961-65 1966-72 1973-81 1982-86 1987-95 Tiền vay nợ xuất

khẩu/tổng vay nợ ngân

Nguồn : Ngân hàng Hàn Quốc, “Phân tích quản lý công ty”, 1998

Trang 40

và Bảng : Phân bổ các khoản vay của Ngân hàng tiền gửi và Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc để có thể thấy rõ hơn nỗ lực đạt được mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu đồng thời tác động rõ rệt của nó đến các chaebol trong khuyến khích sản xuất kinh doanh :

Bảng 6 : Phân bổ các khoản vay của Ngân hàng tiền gửi và Ngân

12,2 5,9 4,2 2,1 10,7 100,0

18,7

2,7 45,7 21,5 24,2

16,7 3,8 10,7 2,1 15,9 100,0

12,4

2,4 47,5 21,6 25,9

16,4 7,8 5,3 3,3 21,3 100,0

9,2

1,6 56,2 27,9 28,3

20,3 8,2 6,5 5,6 12,7 100,0

7,1

1,0 55,8 19,6 36,2

22,0 10,5 4,7 6,8 14,1 100,0

Nguồn : Kazuhita ITO, 1986 Viện Kinh tế phát triển Tokyo

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Trịnh Thanh Huyền (1998), “Các chaebol Hàn Quốc trước thách thức của cuộc khủng hoảng”, Tạp chí tài chính số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chaebol Hàn Quốc trước thách thức của cuộc khủng hoảng
Tác giả: Trịnh Thanh Huyền
Năm: 1998
15. Vũ Huy Từ (2002), Mô Hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô Hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Vũ Huy Từ
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
17. Dong Jin Shim (1998), Master of Business Administration Government - Business relationship in Korea. Historical Look into the Evolution of Government - Chaebol Relationship Sách, tạp chí
Tiêu đề: Master of Business Administration Government - Business relationship in Korea. Historical Look into the Evolution of Government - Chaebol Relationship
Tác giả: Dong Jin Shim
Năm: 1998
1. Nguyễn Vân Anh , Tập đoàn kinh doanh ở các nước phát triển châu á. Tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới, số 1/1995 Khác
2. Báo cáo khảo sát doanh nghiệp Nhà nước Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương (1998) Khác
3. Báo cáo khảo sát về tổ chức, quản lý doanh nghiệp Nhà nước và tập đoàn kinh tế theo hình thức công ty đa sở hữu và quản lý vốn Nhà nước Khác
ở công ty đa sở hữu tại Hàn Quốc và Đài Loan, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương (2002) Khác
4. Báo cáo trong Hội thảo khoa học của Viện ngày 27/12/2003 tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương (2003), Dự thảo Đề án hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế trên cơ sở Tổng công ty Nhà nước Khác
5. Chủ biên Ngô Xuân Bình – Dương Phú Hiệp (2002), Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy. NXB Thống Kê Khác
9. Hoa Hữu Lân (2002), Hàn Quốc –câu chuyện về một con rồng. NXB Chính trị Quốc gia Khác
10. Chủ biên Võ Đại Lược (1997), Đổi mới DNNN ở Việt Nam. NXB Khoa học xã hội Khác
12. Lê Trọng Quang (2002), Cơ sở khoa học hình thành tập đoàn thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Viện Nghiên cứu Thương mại Khác
13. Chủ biên Nguyễn Thiết Sơn (2003), Các công ty xuyên quốc gia : Khái niệm, đặc trưng và những biểu hiện mới. NXB Khoa học xã hội Khác
14. TS.Vũ Phương Thảo, Khuynh hướng đa dạng hoá của các Chaebol Hàn Quốc và các giải pháp điều chỉnh; Tạp chí Kinh tế Châu á-TBD số 4/2002 Khác
16. Thành lập tập đoàn kinh tế – một giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả kinh doanh của các DNNN ở nước ta. Tạp chí kinh tế & Phát triển, số 36, năm 2000.Tiếng Anh Khác
18. Fields, Karl J (1991), Development Capitalism & Industrial Organization : Chaebol and the State in Korea. Paper presented at the Conference on Political Authority and Economic Exchange in Korea Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Mức độ đa dạng hoá của 10 chaebol hàng đầu (1982) - Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 1 Mức độ đa dạng hoá của 10 chaebol hàng đầu (1982) (Trang 21)
Bảng 3 : Một số kết quả đạt được trong thời kỳ 1962-1971 - Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3 Một số kết quả đạt được trong thời kỳ 1962-1971 (Trang 29)
Bảng 4 : Một số kết quả đạt được trong thời kỳ 1980-1989 - Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 4 Một số kết quả đạt được trong thời kỳ 1980-1989 (Trang 32)
Bảng 5: Lãi suất tín dụng xuất khẩu qua các thời kỳ (%) - Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 5 Lãi suất tín dụng xuất khẩu qua các thời kỳ (%) (Trang 39)
Bảng 6 : Phân bổ các khoản vay của Ngân hàng tiền gửi và Ngân - Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 6 Phân bổ các khoản vay của Ngân hàng tiền gửi và Ngân (Trang 40)
Bảng 7 : Hiệu quả của vốn vay nợ nước ngoài - Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 7 Hiệu quả của vốn vay nợ nước ngoài (Trang 42)
Bảng 9 : Chín chaebol nợ nhiều nhất Hàn Quốc (tính đến 12/1995)  Tên tập đoàn  Vốn (tỷ - Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 9 Chín chaebol nợ nhiều nhất Hàn Quốc (tính đến 12/1995) Tên tập đoàn Vốn (tỷ (Trang 53)
Bảng 10 : Mức phân bổ thu nhập ở Hàn Quốc (1965-1985) - Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 10 Mức phân bổ thu nhập ở Hàn Quốc (1965-1985) (Trang 58)
Bảng 11 : Các cuộc tranh chấp của tầng lớp lao động (1975-1989) - Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 11 Các cuộc tranh chấp của tầng lớp lao động (1975-1989) (Trang 59)
Bảng  12  :  Một  số  chỉ  tiêu  kinh  tế  cơ  bản  của  Hàn  Quốc  và  Việt  Nam - Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với sự hình thành và phát triển của các Chaebol và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
ng 12 : Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Hàn Quốc và Việt Nam (Trang 67)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w