Thực trạng nhân lực Việt Nam: Ngân hàng thế giới WB đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay đạt 3,79 điểm thang điểm 10, xếp thứ 11 trong số 12 nước ở châu Á tham gia xế
Trang 1BÀI THI MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Trang 2Câu hỏi: Năm 2011, GDP trên người của Mỹ gấp 35 lần GDP/người của Vietnam tính theo tỷ giá hối
đoái, nên mức sống TB của người Mỹ gấp 35 lần mức sống TB của người Việt Nam Khẳng định trên đúng
hay sai?
Đánh giá thực trạng người LĐ Việt Nam và giải pháp nâng cao chất lượng LĐ?
Bài làm:
Có 2 tiêu chuẩn để đánh giá mức độ giàu có của một quốc gia hay mức độ giàu nghèo của người dân đó là tính bình quân GDP trên đầu người và tính bình quân GDP dựa trên sức mua của đồng tiền trên đầu người Cách sử dụng thường xuyên nhất là dựa trên GDP – chỉ số đại diện cho quy mô kinh tế của mỗi quốc gia Chỉ số GDP trên đầu người là chỉ số thể hiện mức phúc lợi mà người dân nhận được nhiều hay ít, người dân giàu hay nghèo Tuy nhiên, khi thực hiện so sánh xuyên quốc gia (so sánh mức độ giàu nghèo giữa các quốc gia) thì GDP và GDP bình quân đầu người không thực sự hữu dụng khi mà GDP được tính toán ban đầu trên cơ sở tiền tệ riêng của mỗi quốc gia
Mức sống của người Mỹ
GDP bình quân đầu người: 47.084 USD
Dân số: 310 triệu dân Là một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới với 310 triệu dân Mỹ đứng ở
vị trí thứ 6 trong danh sách những nước giàu có nhất Một số ngành công nghiệp chính của Mỹ là xăng dầu, thép và ô tô
Theo một báo cáo của Cục Thống kê Mỹ đưa ra hồi tháng 9/2010, số người Mỹ sống trong nghèo đói đã tăng lên 46,2 triệu người trong năm 2010, tức là cứ 6 người thì có một người thuộc diện đói nghèo
Số liệu năm 2010 cho thấy tỷ lệ nghèo đói tại Mỹ là 15,1%, tăng mạnh so với 14,3% trong năm 2009 Số người Mỹ sống dưới ngưỡng đói nghèo đã tăng liên tục trong 4 năm qua và tỷ lệ 15,1% là cao nhất kể từ năm 1993 Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý một điều là, định nghĩa đói nghèo ở Mỹ không tương đồng với thế giới Một gia đình 4 người có thu thập bình quân hàng năm ở mức ít hơn hoặc bằng 22.314 USD hoặc một người độc thân có thu nhập năm ở mức bằng hoặc dưới 11.139 USD (30 USD/ngày) thì được xếp vào diện đói nghèo Trong khi tiêu chuẩn chung của thế giới, những người nghèo khổ là có mức sống dưới 2 USD/ngày
Mức sống của người Việt Nam
Dân số 87 triệu người, đứng thứ 13 thế giới
GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái đã tăng liên tục qua các năm (năm 1988 đạt
86 USD, năm 1990 đạt 118 USD, năm 1995 đạt 289 USD, năm 2000 đạt 402 USD, năm 2005 đạt 642 USD, năm 2011 đạt 1.375 USD)
Nhìn vào số liệu thấy mức thu nhập bình quân GDP trên đầu người của Mỹ gấp gần 35 lần mức thu nhập bình quân GDP trên đầu người của Việt Nam Điều này không có nghĩa là mức sống trung bình của người Mỹ gấp 35 lần mức sống trung bình của người Việt Nam, bởi vì:
GDP là tổng sản phẩm nội địa, là chỉ số cho phép chúng ta đo lường những gì có thể tính được bằng tiền Chỉ số đó không đánh giá hết đến chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống là gì ? Đó là những chỉ số liên quan đến các điều kiện giải trí, giáo dục, y tế, môi trường v.v
Quỹ Kinh tế Mới (NEF) đánh giá Việt Nam đứng thứ hai trong bảng xếp hạng Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc (HPI) của năm 2012.
Trang 3Theo bản báo cáo của NEF, chỉ số HPI của Việt Nam là 60,4 Chỉ số này được đánh giá dựa trên
ba tiêu chí gồm: Mức độ hài lòng với cuộc sống, tuổi thọ trung bình và dấu chân sinh thái Trong bản báo cáo gần nhất vào năm 2009, NEF xếp Việt Nam ở vị trí thứ 5
Xếp trên Việt Nam là Costa Rica với chỉ số HPI là 64 Quốc gia Trung Mỹ này tiếp tục duy trì vị trí dẫn dầu như cách đây ba năm Một điều đáng chú ý đó là ngoại trừ Việt Nam, các vị trí còn lại trong tốp 10 nước dẫn đầu về chỉ số HPI đều là những quốc gia ở Nam Mỹ và Trung Mỹ Không có một nước công nghiệp phát triển nào chen chân được vào tốp 10 Điều tương tự cũng được thể hiện ở bảng xếp hạng chỉ
số HPI hồi năm 2009
Hoa Kỳ nước giàu có nhất thế giới, thu nhập theo đầu người xếp ở vị trí thứ 4 (tính theo sức mua tương đương) và thứ 9 (tính theo danh nghĩa) lại chỉ xếp hạng 150 trên tổng số 178 nước được khảo sát
*
* * Đánh giá thực trạng người LĐ Việt Nam và giải pháp nâng cao chất lượng LĐ?
1 Thực trạng nhân lực Việt Nam:
Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước ở châu Á tham gia xếp hạng Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực Việt Nam đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 73/133 nước được xếp hạng Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện nay là 75
Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch
vụ và nhân lực của các ngành, nghề Đến nay, nguồn nhân lực nông dân có gần 62 triệu người, bằng hơn
70 % dân số của cả nước Nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu người, bằng gần 10% dân số của cả nước Nguồn nhân lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, bằng 2,15% dân số của cả nước Nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người Sự xuất hiện của giới doanh nghiệp trẻ được xem như một nhân tố mới trong nguồn nhân lực Đó là một nguồn nhân lực dồi dào, nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử dụng tốt
sẽ giải quyết được nhiều vấn đề trọng đại trong phát triển kinh tế, xã hội
Việt Nam hiện nay đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm
tỷ lệ rất thấp Nhân lực phổ thông dồi dào, nhân lực chất lượng cao còn thiếu, vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải đẩy mạnh nguồn nhân lực chất lượng cao từ nguồn nhân lực phổ thông
Có thể rút ra mấy điểm về thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam:
- Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, chưa được nâng cấp, còn đào tạo thì chưa đến nơi đến chốn, nhiều người chưa được đào tạo
- Chất lượng nguồn nhân lực thấp, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất
- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức,… chưa đồng đều, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Một bộ phận lớn LĐ chưa có việc làm hoặc có việc làm không thường xuyên
Có thể đánh giá tổng quát về nhân lực Việt Nam hiện nay là số lượng đông, chất lượng không đồng đèu, thể hiện là tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp, chưa có những tổng công trình sư, kỹ sư, nhà khoa học thật sự giỏi; có ít những chuyên gia giỏi; có ít những nhà tư vấn, nhà tham mưu giỏi; có ít
Trang 4những nhà thuyết trình giỏi; có ít những nhà lãnh đạo, nhà quản lý giỏi Người nước ngoài bình luận người Việt Nam khá thông minh, rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt và tiếp thu cái mới Tiếc rằng, lại chưa được khai thác đầy đủ, đào tạo chưa bài bản, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
2/ giải pháp nâng cao chất lượng LĐ:
Về những giải pháp phát triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020 đã được thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và được thông qua tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 đã được Chính phủ thông qua trong Quyết định số 579/QĐ-TTg, ngày 19-4-2011 Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ký tại Quyết định 1216/QĐ-TTg, ngày 22-7-2011 Đó là những văn bản pháp
lý quan trọng có tính định hướng để phát triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nâng cao chất lượng LĐ bao gồm: (Xem SGK trang 213-215)
- Nâng cao thể chất cho NLĐ: Đảm bảo mọi người được chăm sóc y tế tốt; Giáo dục về dinh dưỡng và sức khỏe, nhất là đối với phụ nữ có thai; Đảm bảo tốt môi trường sống, vệ sinh ATTP; cải thiện điều kiện thuận lợi cho người lao động…
- Phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ dân trí:
+ Xây dựng được đội ngũ giáo viên đủ mạnh, có trình độ cao, có tâm huyết và tận tụy với nghề
+ Đổi mới đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế, chủ yếu là hội nhập kinh tế quốc tế
+ Đổi mới quản lý nhà nước về đào tạo và dạy nghề từ trung ương đến địa phương; tổ chức hợp lý hệ thống cấp bậc đào tạo; thực hiện phân cấp quản lý đào tạo giữa bộ, ngành, địa phương; quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề
+ Đổi mới cách xây dựng nền giáo dục, đào tạo phục vụ nhu cầu xã hội; thực hiện đúng yêu cầu học để làm việc, giúp nước, giúp dân; xây dựng cơ sở đào tạo theo hướng đào tạo đến đâu sử dụng đến đó + Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng quốc gia để kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo; xử lý việc thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực trên phạm vi cả nước, bảo đảm phát triển hài hòa, cân đối
+ Bảo đảm và huy động nguồn vốn cho phát triển nhân lực; đẩy mạnh xã hội hóa để tăng cường các nguồn vốn cho phát triển nhân lực
+ Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ hiện đại về Việt Nam