Trong đó, hệthống kinh tế thế giới chia thành các nước phát triển và các nước đang phát triển trong số các nước đang phát triển có những nước chậm phát triển với 3 tiêu chí trên ở tìnhtr
Trang 1ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
(Dành cho sinh viên ngành kinh tế đầu tư)
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế 5
1.1 Các nước phát triển và các nước đang phát triển 5
1.1.1 Sự hình thành thế giới thứ ba 5
1.1.2 Phân chia các nước theo trình độ phát triển 5
1.1.3 Đặc trưng của các nước đang phát triển 5
1.2 Tổng quan về tăng trưởng và phát triển kinh tế 6
1.2.1.Tăng trưởng kinh tế 6
1.2.2 Phát triển kinh tế 6
1.2.3 Phát triển bền vững 7
1.2.4 Lựa chọn đường lối phát triển dựa trên quan điểm tăng trưởng và phát triển .7
1.3 Các chỉ tiêu phản ánh (đánh giá) tăng trưởng 7
1.3.1 Tổng sản phẩm quốc dân và tổng sản phẩm quốc nội 7
1.3.2 Sản phẩm quốc dân thuần túy (NNP) 8
1.3.3 Thu nhập quốc dân (NI) 8
1.3.4 Thu nhập cá nhân (PI): 8
1.3.5 Thu nhập khả dụng (thu nhập có thể sử dụng - DI) 8
1.3.6 Thu nhập tính bình quân đầu người (GDP – GNP/Dân số) 8
1.4 Các chỉ tiêu phản ánh (đánh giá) phát triển 8
1.4.1 Đánh giá cơ cấu kinh tế 8
1.4.2 Đánh giá sự phát triển xã hội 8
1.5 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế 9
1.5.1 Nhân tố kinh tế 9
1.5.2 Các nhân tố phi kinh tế 9
CHƯƠNG 2 11
Các mô hình tăng trưởng kinh tế 11
2.1 Mô hình cổ điển về tăng trưởng kinh tế 11
2.1.1 Các yếu tố tăng trưởng kinh tế và quan hệ giữa chúng 11
2.1.2 Phân chia các nhóm người trong xã hội và thu nhập của họ 11
2.1.3 Sự cân bằng của nền kinh tế và vai trò của chính phủ 12
2.2 Mô hình của K.Marx về tăng trưởng kinh tế 12
2.2.1 Các yếu tố tăng trưởng kinh tế 12
2.2.2 Phân phối thu nhập 12
2.3.3 Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá kết quả hoạt động 12
2.3.4 Chu kỳ sản xuất và vai trò của chính sách kinh tế 13
2.3 Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế 13
2.3.1 Nội dung cơ bản của mô hình 13
Trang 32.3.2 Mô hình Cobb –Douglas 13
2.4 Mô hình Keynes về tăng trưởng kinh tế 14
2.4.1 Sự cân bằng của nền kinh tế 14
2.4.2 Vai trò của tổng cầu trong việc xác định sản lượng 14
2.4.3 Vai trò của vốn và mô hình tăng trưởng Harrod – Domar 14
2.5 Mô hình kinh tế hiện đại với tăng trưởng kinh tế 15
2.5.1 Các yếu tố tăng trưởng kinh tế 15
2.5.2 Sự cân bằng 15
2.5.3 Vai trò của Chính phủ trong tăng trưởng kinh tế 15
CHƯƠNG 3 18
Cơ cấu kinh tế và các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 18
3.1 Một số khái niệm 18
3.1.1 Cơ cấu ngành kinh tế 18
3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành 18
3.1.3 Những vấn đề có tính quy luật trong chuyển dịch cơ cấu ngành 18
3.1.4 Xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 19
3.2 Lý thuyết phát triển theo giai đoạn của W.Rostow 19
3.2.1 Giai đoạn 1 - Xã hội truyền thống 19
3.2.2 Giai đoạn 2 - Chuẩn bị cất cánh 19
3.2.3 Giai đoạn 3 - Cất cánh 19
3.2.4 Giai đoạn 4 - Trưởng thành 20
3.2.5 Giai đoạn 5 -Tiêu dùng cao 20
3.3 Mô hình hai khu vực 20
3.3.1 Mô hình hai khu vực của Athus Levis 20
3.3.2 Mô hình hai khu vực của Harry T Ôshima 21
CHƯƠNG 4 23
Phúc lợi con người cho phát triển kinh tế 23
4.1 Tăng trưởng kinh tế và mức độ đáp ứng phúc lợi cho con người trong phát triển kinh tế 23
4.1.1 Tăng trưởng kinh tế và vấn đề đáp ứng phúc lợi 23
4.1.2 Các phương thức phân phối 23
4.2 Phát triển con người và phát triển kinh tế 23
4.2.1 Quan điểm về phát triển con người 23
4.2.2 Chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI) 23
4.3 Bất bình đẳng và phát triển kinh tế 25
4.3.1 Bất bình đẳng về phân phối thu nhập 25
4.3.2 Các mô hình bất bình đẳng về thu nhập và tăng trưởng kinh tế 27
Trang 44.4 Bất bình đẳng giới 28
4.5 Nghèo khổ ở các nước đang phát triển 30
4.5.1.Nghèo khổ về thu nhập 30
4.5.2 Chỉ số đánh giá 32
4.6 Nghèo khổ của con người (nghèo khổ tổng hợp) 32
4.7 Đặc trưng của người nghèo và chiến lược xóa đói giảm nghèo 32
CHƯƠNG 5 35
Nguồn vốn với phát triển kinh tế 35
5.1 Vốn sản xuất và vốn đầu tư 35
5.1.1 Vốn sản xuất và vốn đầu tư 35
5.1.2 Tác động của vốn sản xuất và vốn đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế 35
5.2 Các yếu tố tác động đến cầu vốn đầu tư 36
5.2.1 Lãi suất tiền vay 36
5.2.2 Các nhân tố ngoài lãi suất tiền vay 36
5.3 Các nguồn hình thành vốn đầu tư 36
5.3.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước 36
5.3.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài 37
CHƯƠNG 6 40
Lao động với phát triển kinh tế 40
6.1 Nhân lực với tăng trưởng và phát triển kinh tế 40
6.1.1 Nguồn lao động và các nhân tố ảnh hưởng 40
6.1.2 Việc làm và các nhân tố ảnh hưởng 41
6.1.3 Nhân lực với tăng trưởng và phát triển kinh tế 41
6.2 Đặc điểm thị trường lao động ở các nước đang phát triển 41
6.2.1 Thị trường lao động ở khu vực nông thôn 41
6.2.2 Thị trường lao động ở khu vực thành thị chính thức 42
6.2.3 Thị trường lao động ở khu vực thành thị phi chính thức 42
CHƯƠNG 7 45
Ngoại thương với tăng trưởng và phát triển kinh tế 45
7.1 Vai trò của ngoại thương trong tăng trưởng kinh tế 45
7.1.1 Lợi thế của hoạt động ngoại thương 45
7.1.2 Vai trò của hoạt động ngoại thương trong tăng trưởng kinh tế 45
7.2 Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô 45
7.2.1 Nội dung của chiến lược 45
7.2.2 Tác động (lợi thế của chiến lược) 46
7.2.3 Hạn chế 46
Trang 57.2.4 Giải pháp để khắc phục những trở ngại 46
7.3 Chiến lược thay thế hàng hóa nhập khẩu (chiến lược hướng nội) 46
7.3.1 Nội dung 46
7.3.2 Các hình thức bảo hộ 46
7.3.3 Hạn chế 47
7.4 Chiến lược hướng ra thị trường thế giới (chiến lược hướng ngoại) 47
7.4.1 Nội dung của chiến lược hướng ngoại 47
7.4.2 Tác động của chiến lược 48
7.4.3 Chính sách đòn bẩy để thúc đẩy xuất khẩu 48
Trang 6CHƯƠNG 1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế
Số tiết: 04 tiết (Trong đó: 03 tiết lý thuyết; 01 tiết thảo luận)
*) Mục tiêu:
- Sinh viên nắm được các kiến thức cơ bản về tăng trưởng và phát triển kinh tế Đánh giá được quá trình phát triển kinh tế trên cả 3 khía cạnh: Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các yếu tố xã hội.
- Biết cách sử dụng hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) của Việt Nam để lấy các chỉ tiêu kinh tế sử dụng vào việc phân tích và đánh giá thực trạng tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam.
- Nắm được các nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế, vận dụng vào tìm hiểu các nhân tố đang tác động tới quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
1.1 Các nước phát triển và các nước đang phát triển
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của thế giới thứ ba
Xét về mặt lịch sử, cho tới năm 1945, nhiều quốc gia Tây Âu, nhất là các nướcAnh, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Bồ Đào Nha vẫn còn kiểm soát những thuộc địa rộng lớn Sauchiến tranh thế giới II, các dân tộc bị thực dân cai trị đã không còn chịu sự đô hộ Đầutiên, làn sóng giải phóng thuộc địa bùng nổ mạnh mẽ ở châu Á Năm 1947, Gandhi đãlãnh đạo thành công cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ giành độc lập từ tay ngườiAnh Ở vùng Đông Nam Á, Indonexia giành độc lập năm 1947 sau cuộc đấu tranh vũtrang chống lại thực dân Hà Lan Sau thất bại Điện Biên Phủ ở Việt Nam, thực dânPháp phải rút khỏi Đông Dương Sau châu Á, cao trào giải phóng thuộc địa lan sangchâu Phi Năm 1954, các lực lượng đấu tranh đòi độc lập cho Angeria chuyển sang đấutranh vũ trang, đến năm 1962, Pháp phải ký hiệp định công nhận độc lập cho nướcnày Tiếp đó, tất cả các thuộc địa của Pháp ở châu Phi đều lần lượt được trao trả độclập, cùng theo đó là Công Gô (thuộc Bỉ), Nigeria (thuộc Anh), Angola vàMazambique (thuộc Bồ Đào Nha)
Về mặt chính trị, với việc giải phóng thuộc địa, một nhân tố mới đã xuất hiện
trên sân khấu chính trị quốc tế: Thế giới thứ ba Cách gọi này nhằm phân biệt với “thếgiới thứ nhất” là các nước có nền kinh tế phát triển, phần lớn là các nước ở Bắc Mỹ vàTây Âu, “thế giới thứ hai” là các nước có nền kinh tế tương đối phát triển, tập trung ởĐông Âu và đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Các nước thuộc thế giới thứ ba phầnlớn nằm ở phía Nam của bán cầu vì thế được gọi là các quốc gia phía Nam
Để tránh rơi vào khối này hoặc khối khác, nhiều quốc gia thuộc thế giới thứ ba
đã tìm cách liên kết với nhau, phủ nhận việc phân chia thế giới thành Đông – Tây.Tháng 4/1953 tại Indonexia đã diễn ra hội nghị Bandung của các nhà lãnh đạo 24 quốcgia châu á và châu Phi Tại hội nghị này đã chủ trương trung lập, không liên kết,
Trang 7những người tham gia cũng khẳng định mong muốn hình thành một nguyên tắc quốc
tế mới, giành ưu tiên cho các quốc gia nghèo, giúp các quốc gia này thoát khỏi tìnhtrạng chậm phát triển Tinh thần của hội nghị Bandung đã thổi một luồng sinh khí mớitrong các quan hệ quốc tế Nó vạch rõ khả năng phát triển theo con đường thứ ba:Không phải hướng về Đông hoặc Tây mà về phương Nam nghèo đói
Cho đến đầu những năm 60, từ thực tiễn phải đối đầu với các vấn đề tương tựnhau, các quốc gia thuộc thế giới thứ ba ngày ành liên kết lại, họ đòi hỏi phải thay đổicác quan hệ kinh tế toàn cầu Ví dụ, để khuyến khích sản xuất trong nước, các quốc gianày cần được quyền đánh thuế hoặc hạn chế một số mặt hàng nhập khẩu mà không sợ
sự trừng phạt từ các nước liên quan Năm 1963 tại hội nghị nhóm 77 quốc gia thuộcthế giới thứ ba đã yêu cầu Liên hợp quốc triệu tập hội nghị về thương mại thế giới Họnhấn mạnh cần có những quan hệ thương mại công bằng hơn giữa những nước giàu có
ở phương Bắc với các nước nghèo ở phương Nam Theo đó, năm 1964, lần đầu tiên đãdiễn ra hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển, với mục tiêu đưa thươngmại quốc tế thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia nghèo, yêu cầu các nước giàu phải
mở cửa thị trường cho hàng hóa các nước thế giới thứ ba và phải giúp các nước nàynâng cao năng lực sản xuất Tiếp đó năm 1974, Liên Hợp Quốc đưa ra tuyên bố ủng hộviệc xây dựng một “trật tự kinh tế quốc tế mới”, làm cơ sở thúc đẩy cuộc đối thoại Bắc– Nam
Về kinh tế, các nước thuộc thế giới thứ ba còn được gọi là các nước “đang phát
triển” Khái niệm này bắt đầu xuất hiện vào những năm 1960, khi đó, các nước thuộcthế giới thứ ba đều đứng trước sự cấp bách về giải quyết vấn đề phát triển kinh tế.Khái niệm này cũng được dùng để phân biệt các nước giàu ở phía Bắc, được gọi là cácnước phát triển, đây là những nước đã có thời kỳ dài công nghiệp hóa và trở thành cácnước công nghiệp phát triển
Bản thân các nước đang phát triển khi mới dành độc lập đều là các quốc gia cótrình độ phát triển kinh tế thấp kém, nền kinh tế què quặt, lạc hậu, phụ thuộc rất lớnbởi nước ngoài Tuy vậy, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, các nước đangphát triển đã có sự phân hóa mạnh mẽ, một số nước đã tìm kiếm được con đường pháttriển đúng đắn cho đất nước mình và vượt lên hàng đầu giữa các nước đang phát triểntrở thành các nước công nghiệp mới (NICs) Một số nước khác do ưu đãi của thiênnhiên đã có được những mỏ dầu lớn, tạo nguồn thu nhập lớn cho đất nước và trở thànhcác nước có thu nhập bình quân đầu người cao hơn hẳn các nước đang phát triển khác,hình thành nên một nhóm các nước, gọi là các nước thuộc tổ chức xuất khẩu dầu mỏ(OPEC)
1.1.2 Phân chia các nước theo trình độ phát triển
Có nhiều góc độ khác nhau để phân chia hệ thống kinh tế thế giới
Trang 8+ Nếu phân loại theo thu nhập, căn cứ theo tiêu chí thu nhập bình quân đầu
người (GNI/người), ngân hàng thế giới (WB) chia thành 4 nhóm nước: các nước thunhập thấp (LIC0, các nước thu nhập trung bình thấp (LMC), các nước thu nhập trungbình cao (UMC) và các nước thu nhập cao (HIC)
Ngưỡng GNI/người để phân loại được thay đổi theo từng năm theo xu hướngtăng lên Theo báo cáo phát triển thế giới năm 2010, các nước thu nhập thấp cóGNI/người là 935$ trở xuống, trung bình thấp từ 936 đến 3705$, trung bình cao từ
3706 đến 11.455$ và nhóm thu nhập cao từ 11.456$ trở lên
Theo ngưỡng này, trong số 195 quốc gia và nền kinh tế tham gia xếp loại, cókhoảng 50 nước LIC trong đó phần lớn là các nước vùng châu phi Hạ Sahara (33nước), 53 quốc gia thuộc LMC, 41 quốc gia UMC và 68 quốc gia và nền kinh tế HIC
+ Nếu phân loại theo trình độ phát triển con người, dựa trên Chỉ số phát triển
con người (HDI), trong báo cáo phát triển con người 2011, liên hợp quốc (UN) đã chiacác nước trên thế giới thành 4 nhóm: Nhóm nước có HDI thấp (từ 0,47 trở xuống đến0,14) và được coi là có trình độ phát triển con người thấp, nhóm nước có HDI trungbình (từ 0,47 đến 0,669), được xếp vào nhóm có trình độ phát triển con người trungbình, còn các nước có HDI cao (từ 9,669 đến 0,784) được gọi là có trình độ phát triểncon người rất cao
Theo các ngưỡng trên, trong số 169 quốc gia trên thế giới tham gia xếp loạiHDI năm 2010 có 42 quốc gia có HDI rất cao, 43 quốc gia có HDI cao, 42 nước cóHDI trung bình và 42 quốc gia có HDI thấp
Trang 9Màu xanh: HDI > 0,8 Màu vàng: 0.5 < HDI < 0.8 Màu Đỏ: 0.35 < HDI < 0.5 Màu đen: HDI < 0.35
Tuy vậy, trình độ phát triển kinh tế của quốc gia không chỉ đo bằng thu nhậpbình quân đầu người (GNI/người), cũng không chỉ đo bằng trình độ phát triển conngười (HDI) mà nó phải đo lường theo những nội dung và tiêu chí tổng hợp hơn Năm
2003, Liên hợp quốc đã quy định dựa vào ba tiêu chí để xác định trình độ phát triểnkinh tế của một quốc gia và một số tổ chức kinh tế quốc tế như Ngân hàng Thế giới(WB) hay Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng chấp nhận cách phân loại này, batiêu chí này là: thu nhập bình quân (tính theo GNI/người), cơ cấu kinh tế và tiêu chíphát triển con người như dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục Trong đó, hệthống kinh tế thế giới chia thành các nước phát triển và các nước đang phát triển (trong
số các nước đang phát triển có những nước chậm phát triển với 3 tiêu chí trên ở tìnhtrạng thấp kém nhất, một số nước nguyên là các nước đang phát triển nhưng có nhữngbước đột phá triên con đường phát triển, trở thành các nước có trình độ phát triển caohơn nhưng chưa đạt tới trình độ các nước phát triển, bao gồm các nước công nghiệpmới NICs và các nước thuộc tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC)
Xuất phát từ trình độ phát triển và những đặc trưng trong quá trình vận động,Ngân hàng Thế giới (WB) đề nghị sắp xếp các nước trên thế giới thành 4 nhóm:
Trang 10(1) Nhóm các nước công nghiệp phát triển – DCs: Có khoảng 40 nước bao gồm
nhóm bảy nước công nghiệp đứng đầu thế giới (thường gọi là nhóm G7 bao gồm Mỹ,Nhật, Anh, Pháp, Đức, Italia và Canada) và các nước công nghiệp phát triển khác
Những nước này nằm trong số những quốc gia có quy mô GNP lớn nhất thế giới (trên 500 tỷ USD) và GNI/người cao nhất thế giới (trên 20.000 USD/người) Riêng G7 chiếm tới 75% tổng giá trị công nghiệp toàn thế giới Các nước công nghiệp phát triển khác bao gồm phần lớn các nước Tây
Âu, Bắc Âu, Đông Âu cùng với Úc và Niudilan Các nước này đều có GNI/người đạt trên 15.000 USD
và có tỷ trọng công nghiệp cao trong nền kinh tế Đại bộ phận các nước nước đều tham gia vào tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (tiếng Anh: Organization for Economic Co-operation and Development; viết tắt: OECD) đó là một diễn đàn dành cho các
thành viên, hiện là chính phủ của 34 nước kinh tế thị trường phát triển nhất thế giớicũng như 70 nước không phải là thành viên, cùng nhau bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm
để giải quyết các vấn đề kinh tế cũng như các vấn đề chung khác Hiện OECD có 34thành viên, hầu hết trong số đó là các quốc gia có thu nhập cao
(2) Các nước công nghiệp mới – NICs: Đây là những nước ngay từ thập kỷ 60,
trong đường lối phát triển kinh tế của mình đã biết tận dụng lợi thế so sánh của đấtnước qua từng thời kỳ để sản xuất sản phẩm xuất khẩu Họ cũng tranh thủ được nguồnvốn đầu tư và công nghệ của các nước phát triển để thực hiện công nghiệp hóa, đưađấy nước thoát khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu, tiến tới nền công nghiệp hiện đại.Thu nhập bình quân đầu người của các nước này đạt khoảng trên 6.000 USD/người.Theo WB có khoảng 11 nước NICs Trong số những nước này, thế giới đặc biệt quantâm đến bốn nước NICs châu Á được mệnh danh là bốn con rồng Những nước này đãđạt được tốc độ tăng trưởng bình quân 7 – 8% liên tục trong ba thập kỷ, có thời kỳ đạtmức 11 – 12% và có mức thu nhập bình quân trên 10.000 USD/người, họ đã tạo rađược những nền kinh tế đầu sức sống
(3) Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC): Đây là những nước sau chiến tranh
thế giới thứ 2, vào giữa thập kỷ 60 bắt đầu phát hiện ra nguồn dầu mở lớn, họ đã tậndụng sự ưu đãi này của thiên nhiên, tiến hành khai thác dầu mỏ xuất khẩu Để bảo vệnguồn thu nhập từ dầu mỏ, chống lại xu hướng hạ giá dầu, các quốc gia này đã tập hợpnhau lại trong tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) Đặc biệt trong số này là các nước
Trang 11Trung Đông: Ả rập Saudi, Cô-oét, Iran, Iraq, Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất Từnăm 1973, các quốc gia này thường xuyên gặp nhau hàng năm để ấn định lượng dầu
mỏ xuất khẩu nhằm đảm bảo giá dầu mỏ có lợi cho họ Nhờ vậy, từ năm 1973 đến
1980 giá dầu mỏ tăng được gấp 8 lần và các nước này đã thu được nguồn lợi rất lớn.Một số quốc gia trở nên giàu có cũng muốn mau chóng phát triển công nghiệp, họ đãdùng những đồng đô la kiếm được từ dầu mỏ và khí đốt để trang bị các nhà máy hiệnđại Nhưng do thiếu các chuyên gia kỹ thuật, thiếu nguyên liệu và thiếu cả thị trườngtiêu thụ, các nhà máy này đã nhanh chóng xuống cấp Do vậy, mặc dù có mức thunhập bình quân đầu người cao nhưng nhìn chung các quốc gia này có cơ cấu kinh tếphát triển không cân đối và có sự bất bình đẳng lớn trong phân phối thu nhập
Bài đọc: Qatar – đất nước giàu sang và nhàn hạ nhất thế giới
Cuộc sống của người dân Qatar (thuộc bán đảo Ả Rập) hiện nay trở thành niềm mơước của biết bao người dân xứ khác Người dân sinh ra trên đất nước Qatar được khámchữa bệnh, sử dụng điện, nước miễn phí và điều đặc biệt là không phải nộp thuế chochính phủ
Qatar là một quốc gia tại Trung Đông, nằm trên bán đảo nhỏ Qatar thuộc phía ĐôngBắc của bán đảo Ả-rập Phía Nam Qatar giáp Ả-rập Xê-út, các mặt khác giáp vịnh Ba
Tư Qatar là nước mới chỉ giành được độc lập từ năm 1971
World Cup 2022 sẽ được tổ chức tại Qatar Chính phủ nước này dự tính sẽ chi 65 tỉUSD để chuẩn bị cho sự kiện thể thao lớn nhất thế giới này
Nhỏ bé về diện tích, ít ỏi về dân số nhưng Qatar hiện là đất nước đứng đầu bảng xếphạng mới nhất về “Quốc gia và khu vực giàu nhất trên thế giới” với GDP bình Quânđầu người là hơn 90.000 USD/năm
Trên bán đảo vùng vịnh này có 1,6 triệu người sinh sống và làm việc, nhưng ngườinhập cư đã chiếm đến 80% dân số
Doha – thủ đô của quốc gia Quatar là một ốc đảo xanh tươi giữa sa mạc Dù nằm giữakhí hậu sa mạc nóng và khô nhưng nhờ được chăm sóc chu đáo nên các công viên, bãi
cỏ luôn xanh ngát
Doha có rất nhiều di tích cổ như bảo tàng, pháo đài, các đền thờ cổ kính thu hút dukhách Nổi bật là Bảo tàng Quốc gia Qatar — được xây bằng đá phiến một màu vàngtrắng kiên cố như một pháo đài giữa sa mạc
Người dân Quatar tự hào nói rằng, muốn biết sự giàu có của đất nước vùng vịnh này,xin hãy vào Bảo tàng Quốc gia Qatar Gần một nửa không gian phía sau của bảo tàngđược dành để xếp những chiếc ô tô cực kỳ sang trọng cùng các đồ vàng bạc, châu báukhác
Ở khu vực nhà giàu Vịnh Ngọc Trai với hàng trăm du thuyền đậu kín dưới bến Trên
bờ là khu shopping chỉ toàn thương hiệu lớn như Hermes, Gucci, Versace, Christian
Trang 12Doha, cũng là một thiên đường mua sắm với những mặt hàng miễn thuế dạng trongcác trung tâm thương mại: City Center, Landmark, Hyatt Plaza, the Mall và the RoyalPlaza… Không chỉ có nhiều tiền, người dân Qatar cũng rất biết cách tiêu tiền Nếu nhưmuốn mua một món đồ mà Qatar không có, họ lập tức đáp máy bay tới Dubai để mua.Nếu như ở Dubai cũng không có thì họ có thể bay tới Châu Âu hoặc Mỹ để mua bằngđược
Tuy phụ nữ ở Qatar bình đẳng hơn so với các nước Ả-rập khác, thể hiện qua việc được
tự lái xe Nhưng họ vẫn phải đeo mạng che mặt, không được ngồi gần nam giới tại một
Dầu mỏ là nguồn tài nguyên quý của đất nước Qatar và đem lại cho họ cuộc sống sungtúc
(4) Các nước đang phát triển: Thuật ngữ đang phát triển được thể hiện để chỉ
xu thế đi lên của hầu hất các nước thuộc thế giới thứ ba – các nước có nền nông nghiệplạc hậu, hoặc các nước nông – công nghiệp đang từ sản xuất nhỏ tiến lên con đườngcông nghiệp hóa
Theo số liệu của Báo cáo phát triển con người, các nước đang phát triển, đó làcác nước có thu nhập thấp và trung bình, bao gồm khoảng 130 nước, có diện tích tựnhiên chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích toàn thế giới, tương ứng tỷ lệ dân số chiếm trên80%
Trong số các nước đang phát triển, theo tiêu chí của UN, có một số nước nằmtrong tình trạng chậm phát triển (LDCs) đó là các nước có mức thu nhập thấp, nguồnlực con người nghèo nàn (HDI thấp), nền kinh tế dễ bị tổn thương thể hiện ở sự lạchậu trong cơ cấu ngành kinh tế với sự chi phối cao của ngành nông nghiệp (chiếm 40đến 60% trong GDP) Theo tiêu chí xác định của UN, hiện thế giới có 48 quốc gia kémphát triển nhất
Châu Á (9 nước): Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Lào,Myanma, Nepal, Đông Timor, Yemen
Châu Phi (33 nước): Angola, Benin, Burkina Faso, Burundi, Cộng hòa TrungPhi, Chad, Comoros, Cộng hòa Dân chủ Congo, Djibouti, Guinea Xích đạo, Eritrea,Ethiopia, Gambia, Guinée, Guinea-Bissau, Lesotho, Liberia, Madagascar, Malawi,
Trang 13Mali, Mauritania, Mozambique, Niger, Rwanda, São Tomé và Príncipe, Senegal,Sierra Leone, Somalia, Sudan, Togo, Uganda, Tanzania, Zambia
Châu Đại Dương (5 nước): Kiribati, Samoa, Quần đảo Solomon, Tuvalu,Vanuatu
Châu Mỹ (1 nước): Haiti
Số liệu của Việt Nam, GNI/người đạt 1.170 USD/người năm 2010; HDI đạt0,575
1.2 Các đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển và sự cần thiết lựa chọn con đường phát triển
1.2.1 Sự khác biệt giữa các nước đang phát triển
Mặc dù các nước đang phát triển có sự tương đồng nhất định về điều kiện lịch
sử, địa lý, chính trị và kinh tế, nhưng giữa các nước này cũng có sự khác biệt cơ bản,tạo nên tính đa dạng cho các nước này Những khác biệt này chi phối đến việc xácđịnh lợi thế của từng nước
(1) Quy mô đất nước
Xem xét quy mô đất nước dưới góc độ diện tích hay dân số cũng được coi lànhững yếu tố quan trọng, xác định tiềm năng của một nước Trong khoảng 130 nướcđang phát triển, có những nước diện tích rộng lớn và đông dân cư như Trung Quốc, Ấn
Độ, Braxin Ngược lại có những nước nhỏ cả vè diện tích và dân số như Brunei,Maldives…Nước lớn thường có vị thế tài nguyên phong phú, thị trường tiềm năng.Tuy vậy, nó cũng tạo ra những khó khăn về quản lý hành chính, về sự thống nhất quốcgia trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, cũng như sự cân đối giữa các khu vực
(2) Bối cảnh lịch sử
Nguồn gốc lịch sử khác nhau của các nước đang phát triển cũng tác động đến
xu thế khác nhau trong quá trình phát triển Hầu hết các nước châu Á và châu Phi đều
có thời kỳ dài là thuộc địa của các nước tây Âu chủ yếu là Anh và Pháp, ngoài ra còn
Bồ Đào Nha, Bỉ và Tây Ban Nha Cơ cấu kinh tế cũng như nền tảng giáo dục và xã hộithông thường dựa vào mô hình của các nước đã cai trị họ trước đây, Ở châu Á, những
di sản khác nhau của thời kỳ thực dân cùng với những truyền thống văn hóa đa dạngcủa các dân tộc bản địa đã kết hợp với nhau để tạo ra mô hình xã hội và thể chế hoàntoàn khác nhau giữa các nước như Ấn Độ, Philipines, Lào, Indonesia Những nướcchâu Phi do dành độc lập muộn nên thường quan tâm đến việc củng cố các thể chếchính trị, mặc dù khả năng đa dạng về địa lý và nhân khẩu nhưng những nước này đều
có thể chế kinh tế - xã hội và văn hóa tương đối giống nhau
(3) Vai trò của khu vực nhà nước và khu vực tư nhân
Ở hầu hết các nước đang phát triển đều song song tồn tại khu vực kinh tế nhànước và tư nhân Tuy nhiên, xác định tầm quan trọng tương đối giữa hai khu vực này
Trang 14tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế - chính trị của mỗi nước Nhìn chung các nước châu
Mỹ La tinh và Đông Nam Á có khu vực kinh tế tư nhân lớn hon các nước nam Á vàChâu Phi Ở những nước châu Phi với sự thiếu hụt trầm trọng về lao động có tay nghềthì xu hướng chú trọng nhiều hơn đến hoạt động của khu vực nhà nước với hy vọngrằng nguồn lao động có tay nghề sẽ được sử dụng hiệu quả trong các hoạt động kinh tế
xã hội Tuy nhiên những thất bại về kinh tế và khó khăn về tài chính của những nướcnhư Kenia, Senegan, Zambia đã đặt ra những dấu hỏi về lập luận này Các chính sáchkinh tế tất yếu có sự khác nhau giữa các nước có khu vực nhà nước và tư nhân có quy
mô khác nhau
1.2.2 Đặc trưng của các nước đang phát triển
1.2.2.1 Hầu hết các nước đang phát triển là những nước có mức sống thấp
Ở các nước đang phát triển, mức sống nói chung đều rất thấp đối với đại đa sốdân chúng Mức sống thấp biểu thị cả về lượng và chất dưới dạng thu nhập thấp, thiếunhà ở, sức khỏe kém, ít được học hành, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao và tuổi thọthấp
Mức thu nhập thấp thể hiện rõ nhất ở mức thu nhập bình quân đầu người (GNI/người) Theo Báo cáo phát triển thế giới 2010 của Ngân hàng thế giới, tỷ lệ thu nhậptạo ra ở các nước đang phát triển chỉ chiếm 22% tổng thu nhập toàn thế giới Thu nhậpbình quân đầu người của các nước đang phát triển đạt 2.337 USD, trong đó các nướcthu nhập thấp chỉ đạt bình quân 578 USD/người/năm, các nước thu nhập trung bìnhđạt con số tương ứng là 2.872 USD/người/năm Trong khi đó, mức thu nhập bình quânđầu người trung bình toàn thế giới đạt 7.958 USD, các nước phát triển đạt tới 37.566USD/người/năm Các nhà kinh tế thế giới thường lấy mức 3.000 USD/người/năm(ngưỡng đạt thu nhập trung bình cao) làm mốc phản ánh khả năng giải quyết đượcnhững nhu cầu cơ bản của con người, đạt được mức này phản ánh sự biến đổi về chấttrong hoạt động kinh tế và đời sống xã hội Hiện nay còn khoảng 100 nước đang pháttriển có mức thu nhập bình quân dưới 2.000 USD/người trong đó có khoảng trên 50nước có mức thu nhập bình quân dưới 1.000 USD/người Điều này phản ánh khả nănghạn chế của các nước đang phát triển trong việc giải quyết các nhu cầu cơ bản của conngười
Bài đọc
OECD: Người Việt mất hơn 40 năm nữa để có thu nhập cao
Nhận định này được OECD đưa ra tại Diễn đàn Phát triển châu Á (ADF), lần đầu tiênđược tổ chức tại Hà Nội ngày 19/9/2014 Với chủ đề "Vượt qua bẫy thu nhập trung bình",diễn đàn do Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản tổ chức tập trung thảo luận về những tháchthức mà một quốc gia gặp phải khi đạt ngưỡng thu nhập trung bình, nhưng không thểvươn lên nấc thang cao hơn, thậm chí thụt lùi về tăng trưởng
Trang 15Phát biểu tại sự kiện này, Trưởng ban châu Á của OECD - Kensuke Tanake đưa ra mộtbảng dự báo về thời gian dự tính để các nền kinh tế có thu nhập trung bình châu Á trởthành nước phát triển Trong đó, Việt Nam thuộc nhóm tốn nhiều thời gian nhất, với thờigian lên hạng thu nhập cao vào năm 2058, trước Ấn Độ một năm.
Trong khi đó, các nước lân cận như Malaysia được dự báo sẽ vượt ngưỡng thu nhập trungbình vào năm 2020, Trung Quốc năm 2026 và Thái Lan năm 2031
Nói về hiện trạng phát triển, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bùi Quang Vinh nhấnmạnh Việt Nam luôn xác định mình đang là một nước có thu nhập trung bình thấp Đây làkết quả của quá trình dài 30 năm và những động lực phát triển trước đây đã gần hết dưđịa "Nếu không tìm ra phương thức tái cấu trúc thì chắc chắn Việt Nam sẽ đối diện bẫythu nhập trung bình và tăng trưởng chậm lại", Bộ trưởng Vinh nhấn mạnh
Ở quy mô rộng hơn, theo quan điểm của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), châu Á sẽđứng trước 2 kịch bản phát triển đến năm 2050 Kịch bản thứ nhất là GDP cao gấp 10 lầnnăm 2010 Kịch bản thứ hai là toàn châu lục mắc kẹt vào cái bẫy nói trên
Thu nhập bình quân đầu người của một số nền kinh tế châu Á hiện nay
Quốc gia Dân số
(triệu)
GDP (tỷ USD)
GDP đầu người (USD)
Dự báo tăng trưởng GDP
2014 (%)
Dự báo tăng trưởng GDP
Thành công của Hàn Quốc đến khá muộn Giữa những năm 1990, nước này vẫn trong quátrình tình trạng nhập siêu triền miên, kéo dài từ chục năm trước đó Đến cuối thập kỷ,
Trang 16nước này mới bắt đầu đạt được thặng dư thương mại.
Tuy nhiên, sau một thời kỳ xúc tiến xuất khẩu, mở cửa kinh tế, nền kinh tế Hàn Quốc pháttriển tăng vọt Một trong các bí quyết là đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực nghiên cứu và pháttriển (R&D) Lĩnh vực này nhận được sự hưởng ứng của Chính phủ như miễn thuế,khuyến khích mở các phòng nghiên cứu Nhờ đó, các công ty Hàn Quốc đã tạo ra đượcnhiều sản phẩm công nghệ cao như chip bộ nhớ, điện thoại di động, tivi kỹ thuật số Trong khi đó, ông Takehiko Nakao - Chủ tịch Ngân hàng phát triển châu Á đưa ra mộtchương trình 8 điểm để giúp các quốc gia châu Á đạt được GDP tăng gấp 10 lần năm
2050 bao gồm ổn định chính trị và an ninh; ổn định kinh tế vĩ mô; đầu tư vào cơ sở hạtầng; đầu tư vào y tế giáo dục và con người; chính sách thương mại và đầu tư; quản trị tốt;
sự hòa nhập cho tất cả mọi người; chia sẻ tầm nhìn phát triển chung
Nguồn: Vnexpress
1.2.2.2 Tỷ lệ tích lũy thấp
Điều hiển nhiên là để có nguồn vốn tích lũy cần phải hy sinh tiêu dùng Nhưngkhó khăn là ở chỗ, đối với các nước đang phát triển, nhất là những nước có thu nhậpthấp, đã gần như chỉ có mức sống tối thiểu, vì vậy việc giảm tiêu dùng là rất khó khăn
Ở các nước phát triển thường để dành từ 20% đến hơn hơn 30% thu nhập để tích lũy.Trong khi đó ở các nước nông nghiệp chỉ có khả năng tiết kiệm trên 10% thu nhập,nhưng phần lớn số tiết kiệm này lại phải dùng để cung cấp nhà ở và trang thiết bị cầnthiết khác cho số dân đang tăng lên Do vậy càng hạn chế quy mô tiết kiệm cho tíchlũy phát triển kinh tế
1.2.2.3 Trình độ kỹ thuật của sản xuất thấp
Ở các nước đang phát triển hoạt động kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuấtnhỏ, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, kỹ thuật sản xuất thủ công lạc hậu Lịch sử pháttriển kinh tế cho thấy rằng, nền kinh tế không thể chuyển động đi lên nếu không cócông nghiệp phát triển Sự ra đời của các phương thức sản xuất mới luôn đi đôi vớicách mạng công nghiệp Các nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đều
có nguồn gốc từ tốc độ tăng của ngành công nghiệp Trải qua giai đoạn phát triển côngnghiệp thay thế nhập khẩu, các nước đang phát triển tuy đã có được những ngành côngnghiệp mới, nhưng phần lớn vẫn là những ngành sản xuất với kỹ thuật cổ truyền, trình
độ kỹ thuật thấp, sản xuất sản phẩm thường ở dạng thô, sơ chế hoặc chế biến với chấtlượng thấp, trong khi các nước có nền kinh tế phát triển đã đạt tới trình độ công nghệtiên tiến với kỹ thuật sản xuất hiện đại, trình độ quản lý thành thạo, vượt xa trình độcông nghệ của các nước đang phát triển từ 3 – 6 thập kỷ, khoảng cách công nghệ quálớn cũng làm cho các nước đang phát triển khó tận dụng được lợi thế của các nước đisau do quá trình phân công lao động quốc tế mới đưa lại
Trang 171.2.2.4 Năng suất lao động thấp
Do sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, trình độ kỹ thuật thấp kém, tỷ lệ tích lũythấp, nên năng suất lao động thấp cũng là một đặc trưng của hầu hết các nước đangphát triển Theo số liệu tính toán từ các số liệu về GDP và lao động năm 2010, năngsuất lao động tính theo GDP/lao động của Mỹ lên tới 100.000 USD, Canada 87.000USD, Singapore 72.000 USD, trong khi đó tại các nước đang phát triển các số liệutương ứng rất thấp, ví dụ như Trung Quốc chỉ là 3.500 USD, Thái Lan khoảng 5.600USD, Việt Nam khoảng 2.000 USD Trong một tài liệu nói về năng suất lao động củanông nghiệp Việt Nam so với các nước trên thế giới thì năng suất lao động ngành nôngnghiệp của Việt Nam, Trung Quốc thấp hơn Mỹ 124 lần, Canada 100 lần, Australia 92lần, New Zealand 94 lần
Bài đọc: ADB: Kinh tế Việt Nam không sáng tạo bằng Lào
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và tổ chức nghiên cứu Economist IntelligenceUnit (EIU) vừa công bố báo cáo Chỉ số Năng suất Sáng tạo (CPI) của 22 nền kinh tếchâu Á, bổ sung Mỹ và Phần Lan (nhằm mục đích so sánh) Báo cáo này đo khả năngsáng tạo của các nước - yếu tố quan trọng trong việc củng cố nền kinh tế phát triển dựatrên tri thức
Những năm gần đây, các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á đã tăng trưởng khá tốt.Trong đó, một số nước đầu tư mạnh vào sáng tạo và nghiên cứu - phát triển (R&D).CPI sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách biết cách tăng cường sáng tạo và đột phá tạichâu Á
Chỉ số này đo khả năng sáng tạo của các nền kinh tế dựa trên “Đầu vào” và “Đầu ra”
Ở phương diện đầu vào, khả năng sáng tạo được tính theo 3 nhóm lớn: mức độ sángtạo, động cơ sáng tạo và độ thuận lợi của môi trường cho sáng tạo “Đầu ra” được cânnhắc trên cả các tiêu chí truyền thống, như số bằng sáng chế, và các tiêu chí nhằm tạo
ra tri thức
CPI chỉ tập trung vào “hiệu suất”, đo cách thức các nền kinh tế chuyển yếu tố đầu vào(kỹ năng, cơ sở vật chất) thành đầu ra (số bằng sáng chế, ấn bản khoa học) Theo đó,Nhật Bản là nước đứng đầu khu vực châu Á, theo sau là Hàn Quốc và Đài Loan(Trung Quốc) Dù chỉ xếp thứ 8 về đầu vào, nước này được đánh giá rất tốt về khảnăng tận dụng tài nguyên để chuyển thành đầu ra, như số bằng sáng chế trên đầungười
Trong bảng xếp hạng này, Việt Nam đứng thứ 16 trên 24 nước Khả năng sáng tạođược đánh giá chỉ ở mức trung bình, với cả “Đầu vào” và “Đầu ra” đứng ở nửa cuốidanh sách Tính riêng khu vực Đông Nam Á, Việt Nam xếp thứ 6, sau Lào, Singapore,Indonesia, Malaysia và Thái Lan
Các tiêu chí cần ưu tiên cải thiện về “Đầu vào” của Việt Nam là lọt top 500 trường Đại
Trang 18học, tốc độ phổ cập tài chính vi mô và khả năng trả nợ ADB nhận xét Việt Nam còngặp nhiều thách thức trong việc cung cấp nhân lực, với 27,2 điểm trên 100 Dù hơn90% dân số biết chữ, hệ thống trường lớp và chương trình học của Việt Nam đượcđánh giá đã lỗi thời Các kỹ năng của lao động trong ngành dịch vụ, IT và tài chính –ngân hàng cũng còn thiếu Bên cạnh đó, dù độ năng động của các công ty ở mức trungbình, rủi ro về bất ổn trong nhân công cũng là mối lo với các doanh nghiệp.
Tương tự, tiêu chí “Đầu ra” cần cải thiện là số bằng sáng chế, các ấn bản khoa học vàsách, do vẫn ở mức trung bình so với mặt bằng chung ADB cũng cho rằng Việt Namcần cải thiện chất lượng và phương hướng bậc giáo dục đại học
Nguồn: Vnexpress
Ngoài ra các nước đang phát triển còn đối mặt với một thách thức nữa trong quátrình phát triển đó là áp lực về dân số Dân số những nước đang phát triển vốn đãđông, sự bùng nổ về dân số ở những quốc gia này đã tạo ra một hạn chế lớn cho pháttriển kinh tế Tỷ lệ gia tăng dân số thường ở mức cao hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đãlàm cho mức sống của nhân dân ngày cành giảm Theo số liệu của Báo cáo phát triểnthế giới 2010, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân trong vòng 10 năm 2000 – 2010 củathế giới là 1,2%, các nước phát triển chỉ là 0,7%, trong khi đó các nước đang phát triển
là 1,3%, các nước chậm phát triển 2,2%, vùng Châu Phi Hạ Sahara còn lên tới 2,5%.Dân số tăng trưởng nhanh làm cho tốc độ tăng lao động lớn hơn tốc độ tăng trưởngviệc làm, điều đó dẫn đến hiện tượng thất nghiệp trở thành khá phổ biến ở các nướcđang phát triển và gánh nặng giải quyết việc làm luôn đặt lên vai Chính phủ của cácnước này
Do tốc độ tăng trưởng dân số nhanh, ngoài việc phải vật lộn với mức thu nhậpthấp, nhiều người dân ở các nước đang phát triển còn thường xuyên phải đấu tranhchống lại nạn suy dinh dưỡng, bệnh tật và sức khỏe kém Theo Báo cáo phát triển conngười 2010, tuổi thọ bình quân toàn thế giới đạt 69,3 tuổi, các nước phát triển đã lêntới con số 80 tuổi, Nhật Bản có tuổi thọ bình quân cao nhất thế giới là 83,4 tuổi Trongkhi đó, tuổi thọ bình quân các nước đang phát triển chỉ là khoảng 60 tuổi, 50 nướcchậm phát triển (LDC) tuổi thọ trung bình đạt 57,7 tuổi Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinhdưới 1 tuổi trong số 1000 trẻ em được sinh ra ở các nước kém phát triển nhất vàokhoảng 118 so với 73 ở các nước đang phát triển khác và 12 ở các nước phát triển
Cơ hội được học hành ở các nước đang phát triển cũng hạn chế Việc cố gắngtạo ra cơ hội giáo dục ở cấp tiểu học là nỗ lực lớn nhất của chính phủ các nước này.Tuy vậy, mặc dù có những bước tiến đáng kể về động viên học sinh đến trường, nhưng
tỷ lệ đến trường hiện nay ở các nước đang phát triển còn thấp Năm 2010, Báo cáophát triển con người đã thống kê hai con số về tỷ lệ đến trường, đó là tỷ lệ đến trườngbình quân của những người từ 25 tuổi trở lên và tỷ lệ đến trường kỳ vọng (tính cho
Trang 19những trẻ em đang trong tuổi đi học), các con số này ở các nước đang phát triển chỉđạt 5,2 và 9,6; các nước chậm phát triển rất thấp chỉ đạt 3,7 và 8,0 so với mức trungbình toàn thế giới là 7,4 và 12,3; các nước phát triển đạt tới 11,3 và 15,9.
Những đặc trưng nói trên đã tạo ra những rào những rào cản mang tính cố hữulàm cản trở quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển của các nước đang phát triển,những rào cản đó là sự hạn chế về vốn đầu tư, trình độ phát triển công nghệ, kỹ thuậtsản xuất và vốn nhân lực Do đó, quá trình phát triển của các nước này bị phụ thuộcnhiều bởi các nước phát triển trên nhiều phương diện
Thứ nhất, đó là sự phụ thuộc bởi nguồn vốn đầu tư, các nước đang phát triển
trung bình chỉ bảo đảm lượng tích lũy nội địa trên GDP khoảng 10 – 20% trong khi đónhu cầu đầu tư lại rất cao, so với GDP lên tới 30 – 40%, vì thế để phát triển kinh tế,các nước này hướng tới vay nợ nước ngoài và phụ thuộc nhiều vào nước chủ nợ
Thứ hai, phụ thuộc bởi công nghệ kỹ thuật và lao động có trình độ cao nước
ngoài, các nước đang phát triển thường có trình độ công nghệ kỹ thuật thấp (khoảng60% công nghệ ở mức thấp), khả năng nghiên cứu triển khai trong nước lại hạn chế dothiếu vốn, năng lực, vì vậy thường phải sử dụng công nghệ và chuyên gia nước ngoàithông qua các hình thức khác nhau như đầu tư trực tiếp, nhập khẩu, mua bán côngnghệ nước ngoài và phụ thuộc vào tốc độ và trình độ phát triển của khoa học côngnghệ của các nước phát triển
Thứ ba, phụ thuộc bởi thị trường quốc tế, nhất là thị trường cung cấp hàng hóa
trung gian, các nước đang phát triển thường xuất khẩu sản phẩm thô, nhưng lại phảinhập khẩu hàng hóa đầu vào của các quá trình sản xuất do họ không có khả năng sảnxuất ra các hàng hóa này
Điều đó gây ra những hạn chế về tính hiệu quả cũng như tính chủ động trongquá trình thực hiện các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.2.3 Sự cần thiết lựa chọn con đường phát triển
Những đặc trưng trên đây chính là những trở ngại đối với sự phát triển, chúng
có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo ra vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ, làm chokhoảng cách giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng gia tăng
Trang 20Hình 1.1: Vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ
Đứng trước tình hình này đòi hỏi các nước đang phát triển phải có biện pháp đểphá vỡ vòng luẩn quẩn Trong khi tìm kiếm con đường phát triển đã dẫn đến những xuhướng khác nhau Có những nước vẫn tiếp tục rơi vào tình trạng trì trệ, thậm chí pháttriển thụt lùi, xã hội rối ren, như một số nước châu Phi cận Sahara, hay một số nướcNam Á Có những nước đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá, đưa đất nước ra khỏivòng luẩn quẩn, nhưng rồi lại rơi vào những cuộc khủng khoảng với những vòng luẩnquẩn mới như Philipines Bên cạnh đó có những nước đã tạo được tốc độ phát triểnnhanh, rút ngắn khoảng cách thậm chí đuổi kịp các nước phát triển, đó là các nướcNICs Châu Á: Hồng Kông, Đài Loan, Singapore và Hàn Quốc Gần đây các nước TháiLan, Malaixia và Trung Quốc cũng đã chứng minh sự đúng đắn trong việc lựa chọnđường lối phát triển Vì vậy việc lựa chọn con đường đi hợp lý cho mỗi nước là điềutất yếu phải đặt ra trong quá trình phát triển của quốc gia mình
1.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu môn học
Kinh tế học truyền thống (vĩ mô và vi mô) nghiên cứu nguyên lý phát triển kinh
tế, trong đó nội dung chính là nghiên cứu cách thức phân bổ nguồn lực khan hiếm đểsản xuất hàng hóa và dịch vụ có hiệu quả cao nhất nhằm thoả mãn nhu cầu vô hạn củacon người làm sao với lượng nguồn lực nhất định Nhìn chung cách đặt vấn đề trongkinh tế học truyền thống là nền kinh tế phát triển với các thị trường hoàn hảo, chủquyền của người tiêu dùng, giá cả tự điều chỉnh, các quyết định dựa trên nền tảng lợiích biên cá nhân cũng như sản lượng cân bằng trong tất cả các sản phẩm và thị trườngtài nguyên Nó thừa nhận tính hợp lý về kinh tế và một định hướng tư lợi, chủ nghĩa cánhân, duy vật hoàn toàn đối với việc ra các quyết định về kinh tế
Kinh tế phát triển nghiên cứu trên một đối tượng khác hơn, đó là các nền kinh
tế đang phát triển Trên cơ sở những đặc trưng khác biệt so với các nước phát triển,
Thu nhập thấp
Tỷ lệ tích lũy thấp
Trình độ kỹ thuật thấpNăng suất thấp
Trang 21vấn đề của Kinh tế phát triển là nghiên cứu nguyên lý để phát triển kinh tế trong điềukiện kém phát triển.
Phấn đấu cho một xã hội phát triển, tức là phải nghĩ tới một xã hội trong đó mọingười được ăn ngon, mặc đẹp, có khả năng chủ động trong việc tiếp cận các loại tàisản, có những hoạt động vui chơi giải trí sang trọng, và được sống trong môi trườngtrong sạch và lành mạnh Hơn thế nữa, ý tưởng về một xã hội tốt đẹp còn đề cập đếncác quyền và sự tự do về mặt chính trị, về sự phát triển văn hóa, tri thức, sự bền vữngcủa gia đình…Một mức sống vật cahats cao và có thể được tiếp cận một cách côngbằng là điều kiện tiên quyết cho hầu hết các khía cạnh khác của sự tiến bộ
Xuất phát từ lẽ đó, đối tượng nghiên cứu của Kinh tế phát triển không chỉ lànhững vấn đề kinh tế như các môn Kinh tế học truyền thống, mà nó còn đề cập đến cảhai khía cạnh kinh tế và xã hội Về mặt kinh tế, nếu kinh tế học truyền thống chỉ đềcập đến nguyên lý phát triển kinh tế chung, và có hướng thiên về phân tích một nềnkinh tế phát triển cao thì Kinh tế phát triển tập trung vào việc nghiên cứu quá trình làmthế nào để nâng cao số và chất lượng cuộc sống vật chất của một quốc gia thông quaviệc duy trì một cách lâu dài tốc độ tăng trưởng thu nhập và thu nhập bình quân đầungười một cách có hiệu quả cao trong điều kiện còn nhiều hạn chế về vốn đầu tư, laođộng có tay nghề cao, công nghệ lạc hậu và các điều kiện bất lợi khác
Trong khi kinh tế học truyền thống không đặt vấn đề nghiên cứu các vấn đề xãhội với các thành phần, dân cư khác nhau, khả năng tham gia của họ vào hoạt độngkinh tế cũng như ảnh hưởng của kinh tế đến sứ mệnh phát triển con người như thế nào,thì các vấn đề này lại được đề cập trong Kinh tế phát triển Câu hỏi đặt ra là làm thếnào để kết quả của tăng trưởng mang lại những cải thiện nhanh chóng và có quy mô tolớn trong mức sống của quảng đạt người dân, nhất là người nghèo đói, suy dinhdưỡng, mù chữ
Tóm lại, Kinh tế phát triển là một môn trong hệ thống các môn Kinh tế học, nónghiên cứu nguyên lý phát triển kinh tế trong các điều kiện kém phát triển, đó là quátrình chuyển một nền kinh tế từ tình trạng trì trệ, lạc hậu, tăng trưởng thấp, tỷ lệ nghèđói và mất công bằng xã hội cao sang một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, cóhiệu quả và với các tiêu chí xã hội ngày càng được cải thiện
Mục tiêu, tôn chỉ của Kinh tế phát triển là cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễnquá trình phát triển kinh tế từ một xuất phát điểm thấp kém, giúp các nước đang pháttriển có thể vận dụng vào hoàn cảnh, đặc điểm riêng của mình trong từng giai đoạnnhất định, tìm kiến được con đường phát triển hợp lý, cải thiện tình trạng chưa tiến bộcủa từng quốc gia
Về phương pháp nghiên cứu, Kinh tế phát triển được thực hiện theo nhữngphương pháp chính sau đây:
Trang 22(1) Phương pháp nghiên cứu thực chứng và chuẩn tắc của Kinh tế học: Việc
phân tích đánh giá vấn đề dựa trên những kết quả nghiên cứu thực nghiệm (thựcchứng) sẽ là cơ sở tốt cho việc nghiên cứu tìm ra và đề xuất các chính sách, mô hìnhcũng như cách thức vận hành các hoạt động kinh tế - xã hội (chuẩn tắc) trong quá trìnhhình thành các cơ sở khoa học và thực tiễn cho quá trình chuyển nền kinh tế từ tìnhtrạng thấp lên cao
(2) Phương pháp phân tích so sánh: Để đánh giá một quá trình hay yếu tố phát
triển, cần phải dựa trên cơ sở so sánh toàn diện, bao gồm so sánh theo chuỗi thời gian(gọi tắt là so sánh chuỗi) và so sánh với những đối tượng hay quá trình có liên quangọi là so sánh chéo
1.4 Tổng quan về tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.2.1.Tăng trưởng kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm
Tăng trưởng là sự gia tăng sản lượng quốc gia trong một thời kỳ nhất định,đồng thời là sự gia tăng các nhân tố sản xuất được sử dụng trong điều kiện trạng tháikinh tế vĩ mô tương đối ổn định
1.2.1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng người ta sử dụng một hệ thống chỉ tiêu có tính chấtphối hợp và bổ sung cho nhau:
(1) Chỉ tiêu phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng:
- Quy mô sản lượng quốc gia tăng thêm: Y, Y là sản lượng quốc gia, người tathường lấy GDP hoặc GNP đề tính toán
- Tốc độ tăng của sản lượng: g (Y) = Y/Y t (%)
(2) Chỉ tiêu phản ánh quy mô và tốc độ các nhân tố sản xuất được sử dụng.(3) Chỉ tiêu thu nhập bình quân /người-năm
(4) Chỉ tiêu phản ánh tính ổn định kinh tế vĩ mô
1.2.2 Phát triển kinh tế
1.2.2.1 Khái niệm
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế, là quá trình biến đổi nhiều mặt về kinh tế, xã hội và cấu trúc theo hướng tiến bộ
Như vậy, phát triển bao gồm các nội dung cơ bản:
- Phát triển là một quá trình, bao gồm sự thay đổi số lượng và chất lượng kinh
Trang 231.2.2.2 Đo lường phát triển kinh tế
Để đo lường phát triển người ta dùng hệ thống chỉ tiêu
Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập
bình quân trên một đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượngcủa nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia vàthực hiện những mục tiêu khác của phát triển
Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phảnánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế trong một quốc gia Để phân biệt các giai đoạnphát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người
ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuốicùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyểndịch cơ cấu kinh tế mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổithọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáodục của quảng đại quần chúng nhân dân Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi vềchất xã hội của quá trình phát triển
1.2.3 Phát triển kinh tế bền vững
Từ những năm 1970 - 1980, trong khi tăng trưởng kinh tế của nhiều nước đã đạtđược quy mô và tốc độ nhất định thì tình trạng suy kiệt tài nguyên, ô nhiễm môitrường xuất hiện ngày càng nhanh Các vấn đề trên xuất hiện và chỉ có thể được giảiquyết ở phạm vi quốc gia, liên quốc gia và toàn cầu Vấn đề phát triển bền vững trởthành chương trình nghị sự của mỗi nước và cả thế giới
Năm 1987, Ngân hàng Thế giới lần đầu tiên đưa ra khái niệm phát triển bền
vững: “Là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai,…”
Quan niệm trên đây của WB chỉ mới chú trọng đến sử dụng có hiệu quả tàinguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống trong quá trình phát triển
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững ở Johannesbug (NamPhi) năm 2002 đã định nghĩa: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợpchặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: tăng trưởng kinh tế, cảithiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bềnvững là tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khaithác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượngmôi trường sống…,
Trang 241.2.4 Lựa chọn đường lối phát triển dựa trên quan điểm tăng trưởng và phát triển
1.2.4.1 Quan điểm nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế
- Nội dung: Quan điểm này cho rằng tăng thu nhập là quan trọng nhất, nó nhưđầu tầu kéo theo việc giải quyết vấn đề cơ cấu kinh tế và xã hội
- Kết quả: Dựa theo quan điểm này nền kinh tế đã đạt được nhịp độ tăng trưởngnhanh, thu nhập bình quân đầu người tăng lên
Ví dụ: Những nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã đạt được nhịp độ tăng trưởngnhanh nhờ vào việc khai thác và xuất khẩu dầu thô
Thái Lan (70 – 80) cũng đạt được nhịp độ tăng trưởng nhanh nhờ vào việc khaithác và phát triển du lịch
- Hạn chế:
+ Sự tăng trưởng quá mức nhanh chóng vì những động cơ có lợi ích cục bộtrước mắt đã đưa đến sự khai thác bừa bãi không chỉ ở phạm vu quốc gia mà còn trênphạm vu quốc tế, khiến cho nguồn tài nguyên kiệt quệ và môi trường sinh thái bị hủyhoại nặng nề Nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của các nước chậm tiến vàcác thế hệ sau
+ Cùng với sự tăng trưởng quá mức là những bất bình đẳng về kinh tế và chínhtrị xuất hiện, tạo ra những mâu thuẫn và xảy ra xung đột gay gắt:
Xung đột giữa các khu vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Nôngnghiệp không những chỉ giảm tỷ lệ tương đối mà còn bị thu hẹp cả không gian sảnxuất Đất đai bị mất, bị thoái hóa, môi trường bị hủy hoại
Xung đột giữa các giai cấp chủ và thợ gắn với nạn thất nghiệp tràn lan
Xung đột giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; xảy ra mâu thuẫn về lợi íchkinh tế - xã hội, do quá trình tăng trưởng không đều tạo nên
+ Tăng trưởng kinh tế đưa lại những giá trị mới xong nó cũng phá hủy và hạthấp một số truyền thống tốt đẹp cần phải bảo tồn và phát huy như: nền giáo dục giađình, các giá trị tinh thần, đạo đức, thuần phong mỹ tục, các chuẩn mực của dân tộc.Đồng thời với việc làm giàu bằng bất cứ giá nào thì các tội ác cũng phát triển: các
-Cải thiện các điều
Trang 25băng đảng lũng đoạn, tệ nạn sản xuất hàng giả, buôn bán chất ma túy, gái mại dâm vớiquy mô quốc tế…cũng gia tăng.
+ Sự tăng trưởng và phát triển nhanh chóng còn dẫn đến những diễn biến khólường trước, cả mặt tốt và không tốt Do vậy đời sống kinh tế - xã hội thường đảo lộn,mất ổn định, khó có thể lường trước được hậu quả
Ví dụ: Thái Lan trong những năm 90 đã rơi vào tình trạng một nền kinh tế tăngtrưởng bong bóng do quá ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế
1.2.4.2 Quan điểm nhấn mạnh vấn đề công bằng – xã hội
- Nội dung: Theo quan điểm này sự phát triển sản xuất được đầu tư dàn đều chocác ngành, các vùng và sự phân phối được tiến hành theo nguyên tắc bình quân.Những người lựa chọn quan điểm này đã hạn chế được sự bất bình đẳng trong xã hội.Đại bộ phận dân cư đều được chăm sóc về văn hóa, giáo dục, y tế của nhà nước
- Hạn chế: Nguồn lực hạn chế lại bị phân phối dàn trải nên không thể tạo rađược tốc độ tăng trưởng cao và việc phân phối đồng đều cũng không tạo được độnglực thúc đẩy người lao động
1.2.4.3 Quan điểm toàn diện trong phát triển kinh tế
- Nội dung: Đây là sự lựa chọn trung gian giữa hai quan điểm trên Vừa nhấnmạnh về lượng, vừa chú ý về chất lượng của sự phát triển Theo quan điểm này tuy tốc
độ tăng trưởng có hạn chế nhưng các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết
Việt Nam lựa chọn đường lối phát triển kinh tế dựa trên quan điểm kết hợp mộtcách hài hóa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện côngbằng và tiến bộ xã hội Cụ thể trong nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, quan điểmphát triển kinh tế trong chiến lược 10 năm là: “Phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững,tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”
1.3 Các chỉ tiêu phản ánh (đánh giá) tăng trưởng
1.3.1 Tổng sản phẩm quốc dân và tổng sản phẩm quốc nội
1.3.1.1 Khái niệm
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là toàn bộ giá trị của các hàng hóa và dịch vụcuối cùng mà công dân của một nước tạo ra có thể thu nhập trong năm, không phânbiệt sản xuất được thực hiện trong nước hay ngoài nước
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là toàn bộ giá trị của các hàng hóa và dịch vụcuối cùng được tạo ra trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốcgia
1.3.1.2 Phạm vi tính
- GDP là thước đo sự tăng trưởng kinh tế do các hoạt động sản xuất trong phạm
vi lãnh thổ quốc gia tạo ra, không phân biệt sở hữu trong hay ngoài nước đối với kếtquả đó
Trang 26- GNP là thước đo sản lượng gia tăng mà dân cư của một nước thực sự thu nhậpđược, không phân biệt sản xuất được thực hiện ở trong hay ngoài nước.
1.3.1.3 Phương pháp tính
a Tổng sản phẩm quốc dân (GDP)
+ Tính theo luồng sản phẩm: GDP = C + I + G + NX
+ Tính theo luồng thu nhập hoặc chi phí: GDP = W + r + i + + A + Te
+ Tính theo giá trị gia tăng: GDP là tổng giá trị của hàng hoá và dịch vụ cuốicùng được sản xuất ra
b Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
GNP = GDP + Thu nhập ròng từ tài sản nước ngoài
Thu nhập ròng từ tài sản nước ngoài: Các khoản thu nhập mà dân cư trong nướctạo ra ở nước ngoài trừ đi các khoản thu nhập mà người nước ngoài tạo ra ở trongnước
GNPn đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời kỳ theo giá
hiện hành (giá cả của cùng thời kỳ đó)
GNPr đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời kỳ theo giá
cố định ở thời kỳ được lấy làm gốc
Cầu nối giữa GNPn và GNPr là chỉ số giá cả, còn gọi là chỉ số lạm pháp tính theo
GNP (D).
%100
1.3.4 Thu nhập cá nhân (PI):
PI = NI - (thuế và bảo hiểm xã hội nộp cho Nhà nước + lợi nhuận không chia) + TR
1.3.5 Thu nhập khả dụng (thu nhập có thể sử dụng - DI)
DI = PI – (thuế thu nhập + các khoản thanh toán ngoài thuế) + TR.
Hoặc DI = NI -Td +TR
1.3.6 Thu nhập tính bình quân đầu người (GDP – GNP/Dân số)
- Thu nhập bình quân danh nghĩa: Đo lường thu nhập đã được điều chỉnh theo
sự biến động của dân số
- GDP (GNP) bình quân thực tế là thu nhập bình quân được chuyển đổi sang USD
trên cơ sở
Trang 271.4 Các chỉ tiêu phản ánh (đánh giá) phát triển
1.4.1 Đánh giá cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế được hiểu là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể kinh tế,thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các bộphận với nhau Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế -
xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể Nếu cácthước đo tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh
tế là thể hiện mặt chất kinh tế trong quá trình phát triển Đánh giá sự phát triển kinh tếcần xem xét một cách toàn diện các góc độ của cơ cấu kinh tế
1.4.1.1 Cơ cấu ngành kinh tế
Về lý thuyết, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện cả mặt lượng và định tính Mặt địnhlượng chính là quy mô và tỷ trọng chiếm về GDP, lao động, vốn của mỗi ngành trongtổng thể kinh tế quốc dân Mặt định tính thể hiện vị trí và tầm quan trọng của mỗingành trong hệ thống kinh tế quốc dân Các nước đang phát triển có xuất phát điểmthấp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp của các nước nàythường chiếm từ 20 – 30% GDP Trong khi đó, ở các nước phát triển, tỷ trọng thunhập từ nông nghiệp chỉ chiếm từ 1 – 7%
Trong quá trình phát triển, cơ cấu ngành kinh tế của mỗi quốc gia đều có sựchuyển đổi theo xu hướng chung là tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm đi, trongkhi đó tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên
1.4.1.2 Cơ cấu vùng kinh tế
Sự phát triển kinh tế được thể hiện ở cơ cấu kinh tế theo góc độ thành thị vànông thôn Ở các nước đang phát triển, kinh tế nông thôn chiếm tỷ trọng rất cao Trongkhi đó, các nước phát triển có hiện tượng đối ngược lại, dân số chủ yếu sống ở khu vựcthành thị
Một xu hướng khá phổ biến của các nước đang phát triển là luôn có một dòng
di dân từ nông thôn ra thành thị Đó là kết quả của cả “lực đẩy” từ khu vục nông thôn bởi sự nghèo khổ cũng như sự thiếu thốn đất đai ngày càng nhiều và cả “lực hút” từ sự
hấp dẫn của khu vực thành thị Dòng di dân ngày càng lớn đã tạo ra áp lực rất mạnhđối với chính phủ các nước đang phát triển Mặt khác, việc thực hiện các chính sáchcông nghiệp hóa nông thôn, đô thị hóa, phát triển hệ thống công nghiệp, dịch vụ nôngthôn làm cho tỷ trọng kinh tế thành thị ở các nước đang phát triển ngày càng tăng lên,tốc độ tăng dân số thành thị cao hơn so với tốc độ tăng trưởng dân số chung và đóchính là xu thế hợp lý trong quá trình phát triển
1.4.1.3 Cơ cấu thành phần kinh tế
Đây là dạng cơ cấu phản ánh tích chất xã hội học về tư liệu sản xuát và tài sảncủa nền kinh tế Xét về nguồn gốc thì có 2 loại hình sở hữu là sở hữu công cộng và sở
Trang 28hữu tư nhân Nhìn chung các nước phát triển và xu hướng ở các nước đang phát triển,khu vực kinh tế tư nhân thường chiếm tỷ trọng cao và nền kinh tế phát triển theo conđường tư nhân hóa.
Ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại 6 thành phần kinh tế là thành phần kinh tếnhà nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ, thành phầnkinh tế tư bản tư nhân, thành phần kinh tế tư bản nhà nước và thành phần kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế nói trên không có sự phân biệt về thái
độ đối xử, đều có môi trường và điều kiện phát triển như nhau, trong đó, kinh tế nhànước đóng vai trò chủ đạo
1.4.1.4 Cơ cấu khu vực thể chế
Theo dạng cơ cấu này, nền kinh tế được phân chia trên cơ sở vai trò của các bộphận cấu thành trong sản xuất kinh doanh và qua đó đánh giá được vị trí của mỗi khuvực trong vòng luân chuyển nền kinh tế và mối quan hệ giữa chúng trong quá trìnhthực hiện sự phát triển nền kinh tế
Các đơn vị thường trú trong nền kinh tế được phân chia thành 5 khu vực:
+ Khu vực chính phủ bao gồm tất cả các hoạt động được thực hiện bằng ngânsách nhà nước Mục tiêu hoạt động của khu vực này là bảo đảm các hoạt động côngcộng, tạo điều kiện bình đẳng cho các khu vực thể chế và thực hiện công bằng xã hội
+ Khu vực tài chính hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên thị trườngtài chính
+ Khu vực phi tài chính thực hiện chức năng sản xuát hàng hóa và dịch vụ trênthị trường hàng hóa và dịch vụ
+ Khu vực hộ gia đình hoạt động theo mục tiêu khác với các khu vực trên, chứcnăng và hành vi của họ là tiêu dùng, tuy vậy họ cũng có thể tham gia vào các hoạtđộng sản xuất dưới hình thức cung cấp sức lao động cho các doanh nghiệp hoặc tự sảnxuất dưới dạng các đơn vị sản xuất cá thể
+ Khu vực vô vị lợi phục vụ hộ gia đình với nguồn tài chính quyên góp tựnguyện như các tổ chức từ thiện, cứu trợ, các tổ chức giúp đỡ người tàn tật…theo đuổimục tiêu phục vụ không vì lợi nhuận, cung cấp hàng hóa và dịch vụ thẳng cho các hộgia dình không lấy tiền hoặc lấy tiền với giá không có ý nghĩa kinh tế
1.4.1.5 Cơ cấu tái sản xuất
Đây là cơ cấu kinh tế hiểu theo góc độ phân chia tổng thu nhập của nền kinh tếtheo tích lũy – tiêu dùng Phần thu nhập dành cho tích lũy tăng lên và chiếm tỷ trọngcao là điều kiện cung cấp vốn lớn cho quá trình tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế
Tỷ trọng thu nhập dành cho tích lũy ngày càng cao chính là xu thế phù hợp trong quátrình phát triển, tuy vậy việc gia tăng tỷ trọng thu nhập dành cho tích lũy tái đầu tư
Trang 29phải có tác dụng dẫn đến gia tăng mức thu nhập dành cho tiêu dùng cuối cùng trongtương lai vì đó là kết quả của quá trình tích lũy.
1.4.1.6 Cơ cấu thương mại quốc tế
Nhìn chung tất cả các nước giầu hay nghèo đều tham gia một cách đáng kể vàothương mại quốc tế Tuy vậy, thành phần hoạt động ngoại thương là dấu hiệu đánh giá
sự phát triển của mỗi nước Các nước đang phát triển thường xuất khẩu những sảnphẩm thô
1.4.2 Đánh giá sự phát triển xã hội
1.4.2.1 Một số chỉ tiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con người
Nhu cầu về phát triển con người bao gồm các nhu cầu xã hội cơ bản và nhữngnhu cầu xã hội chất lượng cao trên các lĩnh vực chủ yếu như: nhu cầu mức sống vậtchất, nhu cầu giáo dục, y tế - chăm sóc sức khỏe, nhu cầu việc làm Các chỉ tiêu cụ thểcủa từng lĩnh vực bao gồm:
+ Các chỉ tiêu phản ánh mức sống: Nhu cầu mức sống vật chất thể hiện ở nhucầu hấp thụ calori tối thiểu bình quân trên một ngày đêm của con người đảm bảo khảnăng sống và làm việc bình thường (từ 2100 – 2300 calori)
Chỉ tiêu GNI/người là thước đo chính thể hiện việc bảo đảm nhu cầu hao phívật chất cho dân cư mỗi quốc gia Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng lớn đểnâng cao mức sống vật chất cho con người
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh giáo dục và trình độ dân trí: Bao gồm các chỉ tiêunhư tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ nhập học các cấp, số năm đi học bình quân, tỷ lệ chingân sách cho giáo dục so với tổng chi ngân sách hoặc so với mức GDP
+ Nhóm chỉ tiêu vể tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khỏe, bao gồm: tuổi thọbình quân tính từ thời điểm mới sinh; tỷ lệ trẻ em chết yểu; tỷ lệ trẻ em suy dinhdưỡng; tỷ lệ các bà mẹ tử vọng vì lý do sinh sản; tỷ lệ trẻ em được tiêm phòng dịch; tỷ
lệ chi ngân sách cho y tế
+ Nhóm chỉ tiêu về dân số và việc làm: Bao gồm tốc độ tăng trưởng dân số tựnhiên; tỷ lệ thất nghiệp thành thị; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nôngthôn
Các chỉ tiêu nói trên chỉ phản ánh từng lĩnh vực khác nhau của phát triển xã hội
Để đánh giá tổng hợp và xếp loại trình độ phát triển kinh tế - xã hội chung giữa cácquốc gia hay giữa các địa phương dựa vào Chỉ số phát triển con người – HDI
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là chỉ số sosánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác củacác quốc gia trên thế giới HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển củamột quốc gia Chỉ số này được phát triển bởi một kinh tế gia người Pakistan làMahbubul Haq vào năm 1990
Trang 30HDI là một thước đo tổng quát về phát triển con người Nó đo thành tựu trungbình của một quốc gia theo ba tiêu chí sau:
1 Sức khỏe: Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, đo bằng tuổi thọ trungbình
2 Tri thức: Được đo bằng tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấpgiáo dục (tiểu học, trung học, đại học)
3 Thu nhập: Mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người
HDI được tính theo phương pháp chỉ số và nhận giá trị 0 < HDI < 1 Quốc gianào có HDI càng gần 1 thì được đánh giá là càng phát triển cao
1.4.2.2 Chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng
Các chỉ tiêu thường được sử dụng trong đánh giá nghèo đói và bất bình đẳng vềkinh tế bao gồm: tỷ lệ hộ nghèo trong xã hội; chỉ tiêu hệ số giãn cách thu nhập xácđịnh mức chênh lệch thu nhập giữa bộ phận dân cư giàu và nghèo trong xã hội
Để đánh giá mức độ bất bình đẳng kinh tế, có thể sử dụng phương pháp phântích đường cong Lozens và hệ số GINI sẽ được phân tích và làm rõ trong chương IVcủa bài giảng này
Ngoài việc đánh giá nghèo đói và bất bình đẳng về kinh tế, vấn đề bất bìnhđẳng về xã hội hiện nay được các nước và mọi tổ chức quốc tế đặc biệt quan tâm.Những tiêu thức và chỉ tiêu chủ yếu trong lĩnh vực này là: Mức độ phân biệt đối xử đốivới phụ nữ và vấn đề bạo lực trong gia đình, mức độ thực hiện dân chủ cộng đồng thểhiện ở vị thế của cộng đồng dân cư trong việc tham gia vào quá trình ra quyết định vềnhững vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ; chỉ số phát triển giới (GDI)
và quyền lực theo giới tính (GEM)…
1.5 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng và phát triển kinh tế do nhiều nhân tố quy định Các nhân tố tácđộng lẫn nhau và lồng vào nhau Do yêu cầu phát triển, giới hạn tự nhiên và đặc điểmcủa chúng mà vị trí, tác động của từng nhân tố đến tăng trưởng và phát triển sẽ khácnhau giữa các nước và các thời kỳ
Có nhiều cách phân chia các nhân tố trong nghiên cứu và quản lý Trong đócách phân chia có tính phổ biến là phân chia theo nội dung Theo cách phân chia này,các nhân tố được phân thành ba nhóm cơ bản: Các nhân tố kinh tế, các nhân tố phikinh tế, các nhân tố có tính hỗn hợp
- Các nhân tố kinh tế là những nhân tố biểu hiện bằng vật chất hoặc có thểchuyển hóa thành của cải vật chất (ví dụ tiền vốn …), tham gia trực tiếp vào hoạt độngkinh tế, tạo ra của cải và có thể trực tiếp xác định được mức đóng góp của chúng trongquá trình hoạt động kinh tế
Trang 31Các nhân tố kinh tế chủ yếu là: vốn, kỹ thuật – công nghệ, nhân lực, đất đai, tàinguyên thiên nhiên,…
- Các nhân tố phi kinh tế là những nhân tố không biểu hiện bằng vật thể, hoặcchỉ thông qua, lồng vào các nhân tố khác để phát huy tác dụng, hoặc là “dung môi”,
“điều kiện” để cho các nhân tố kinh tế hoạt động và tăng hiệu quả Người ta không thểtrực tiếp xác định tác động và đóng góp của chúng trong quá trình hoạt động kinh tế
Các nhân tố phi kinh tế chủ yếu là: diễn biến của thời, các truyền thống tậpquán, các thể chế của Chính phủ và các cộng đồng, các hình thái ý thức xã hội, môitrường văn hóa- xã hội,…
- Các nhân tố có tính hỗn hợp là những nhân tố mà bản thân chúng có sự lồngghép của cả nhân tố kinh tế và phi kinh tế.Chẳng hạn nhu cầu tiêu dùng cuối cùng, hợptác kinh tế quốc tế,…
Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu một số nhân tố chủ yếu mà không đi vào toàn
bộ các nhân tố
1.5.1 Nhân tố kinh tế
Đây là những nhân tố có tác động trực tiếp đến các biến đầu vào và đầu ra củanền kinh tế
1.5.1.1 Các nhân tố tác động trực tiếp tới tổng cung
Bao gồm 4 yếu tố nguồn lực chủ yếu là vốn (K), Lao động (L), tài nguyên đấtđai (R) và công nghệ kỹ thuật (T) theo hàm sản xuất:
+ Lao động (L) là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Trong mô hình tăngtrưởng kinh tế hiện đại nhân tố này được nhấn mạnh ở khía cạnh phi vật chất hay còngọi là vốn nhân lực đó là các lao động có kỹ năng sản xuất, lao động có thể vận hànhđược máy móc thiết bị phức tạp, những lao động có sáng kiến và phương pháp mớitrong hoạt động kinh tế Hiện nay, tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triểnđược đóng góp nhiểu bởi quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị tríchưa cao do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp
+ Tài nguyên đất đai (R): Đất đai là yếu tố quan trọng trong sản xuất nôngnghiệp và là yếu tố không thể thiếu trong việc thực hiện bố trí các cơ sở kinh tế thuộc
Trang 32các ngành công nghiệp, dịch vụ Tài nguyên thiên nhiên bao gồm nguồn tài nguyên từtrong lòng đất, không khí, từ rừng và biển, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽgóp phần tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng nhất là đối với cácnước đang phát triển.
+ Công nghệ kỹ thuật (T) được quan niệm là nhân tố tác động ngày càng mạnhđến tăng trưởng trong điều kiện hiện đại Yếu tố này cần được hiểu đầy đủ theo haidạng:
- Đó là những thành tựu kiến thức tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiêncứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệhay thiết bị kỹ thuật
- Sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằmnâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất
Cơ chế tác động của các yếu tố tổng cung đến tăng trưởng kinh tế được thể hiệnqua mô hình tổng cung – tổng cầu (AD – AS) và mô tả như sau:
Có 4 yếu tố trực tiếp cấu thành tổng cầu bao gồm:
+ Chi tiêu cho tiêu dùng cá nhân (C)
P
0
Y AD
Trang 33+ Chi tiêu của chính phủ (G)
+ Chi cho đầu tư (I)
+ Chi tiêu qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX)
Dưới sự tác động của thị trường các yếu tố của tổng cầu thường xuyên biến đổi,nếu tổng cầu bị giảm sút sẽ gây lãng phí rất lớn các yếu tố nguồn lực của quốc gia đã
có nhưng không được huy động và làm hạn chế mức tăng trưởng thu nhập còn ngượclại nếu mức tổng cầu quá cao sẽ làm cho mức thu nhập của nền kinh tế tăng nhưng giá
cả các yếu tố nguồn lực trở nên đắt đỏ sẽ đẩy mức giá chung của nền kinh tế lên
1.5.2 Các nhân tố phi kinh tế
Có nhiều nhân tố phi kinh tế có tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.Phạm vi bài giảng chỉ đề cập đến một số nhân tố sau đây:
1.5.2.1 Truyền thống, tập quán với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Truyền thống tập quán (trong sản xuất, tiêu dùng và các sinh hoạt xã hội) là kếtquả lâu dài của lịch sử - tự nhiên và xã hội, được thể hiện qua kiểu cách sản xuất vàtiêu dùng các hàng hóa dịch vụ, các hình thức sinh hoạt xã hội của các cộng đồng, cáckhu vực và vùng lãnh thổ
Quốc tế hóa và toàn cầu hóa làm cho thị trường các nhân tố được mở rộng.Trong khi đó, truyền thống và tập quán ít bị quốc tế hóa và toàn cầu hóa, nó trở thànhlợi thế để các quốc gia duy trì tăng trưởng, chuyển hóa nó vào hàng hóa, dịch vụ đápứng cầu cho cả thị trường bên ngoài
Cần chú ý rằng, truyền thống, tập quán là lợi thế, nhưng không có ý nghĩa tuỵêt
đối và vĩnh viễn Khoa học và nghệ thuật vận dụng truyền thống, tập quán là phải
phối hợp với các nhân tố khác như thế nào để nó hóa thân vào các yếu tố kinh tế và được thời đại chấp nhận Hàng hóa dịch vụ dựa trên đó phải duy trì được tính cạnh tranh ở các thị trường.
1.5.2.2 Các thể chế có tính tự nguyện của các cộng đồng
Nhân tố này cũng là kết quả của quá trình lịch sử -tự nhiên và xã hội Nó đượccác cá nhân hoặc hộ gia đình tự nguyện cùng xây dựng và thực hiện các quy ước củacác cộng đồng dân cư (hoặc dân tộc) về các hoạt động kinh tế và sinh hoạt xã hội
Với các thể chế này, một hệ thống ràng buộc, hệ thống hành lang và luật chơiđược vận hành Nó tác động tích cực và cả tiêu cực đến sự phát triển Sự tác động của
hệ thống này thường vận động ngược chiều với đà phát triển kinh tế, xã hội và sự hoànthiện của thể chế quản lý của Chinh phủ Một khi đất nước đã đi vào phát triển hiện đạicác thể chế này có thể lụi tàn, thay vào đó là hệ thống thể chế quản lý của Chính phủ
1.5.2.3 Các hình thái ý thức xã hội (các tôn giáo)
Mỗi hình thái ý thức xã hội (tôn giáo) có hệ thống các giá trị mà mỗi tín đồ vàtoàn thể giáo hội hằng theo đuổi Ứng với hệ thống giá trị đó là hệ thống các giáo luật,
Trang 34các quy ước đặt ra cho các tín đồ Một khi các hế thống trên vận hành nó sẽ tác động,ghi dấu lên quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Tín đồ đạo Hồi coi con heo là con vật dơ bẩn nên ngành nuôi và chế biến thịtheo không phát triển Trong khi đó nghĩa vụ đóng thuế được coi là giáo luật nên nguồnthu của ngân sách Chính phủ tương đối ổn định Phụ nữ không được khuyến khích đilàm nên một bộ phận tài nguyên bị lãng phí
Do vậy, chiến lược và chính sách phát triển, đặc biệt những quốc gia đa tôngiáo cần phải đặc biệt coi trọng cân bằng lợi ích của các tôn giáo
1.5.2.4 Diễn biến cùa thời tiết, khí hậu
Thời tiết, khí hậu biến đổi theo những quy luật của nó.Tuy vậy con người chỉ cóthể tiếp cận sự vận động của nó theo quy luật số lớn mà không thể biết hết mọi diễnbiến của nó trong ngắn hạn
Thời tiết có thể tạo nên những thuận lợi bất ngờ, nhưng cũng có thể đưa lạinhiều mất mát và đau khổ không lường trước cho con người Để tối đa hóa nhữngthuận lợi, tối thiểu hóa những bất lợi, ngày nay các nước đều có chiến lược phát triểnbền vững, chính sách thân thiện với thiên nhiên, chung sống với thiên nhiên
*) Câu hỏi ôn tập, thảo luận
1 Tại sao nói phát triển kinh tế là quá trình kết hợp giữa biến đổi về lượng và sự thayđổi về chất của nền kinh tế Phát triển bền vững thường nhấn mạnh yếu tố gì? Tại sao?
2 Phân tích các hướng lựa chọn con đường phát triển của các nước đang phát triển.Việt Nam trong thời kỳ đổi mới kinh tế đã lựa chọn con đường nào? Giải thích?
3 Tại sao các nước dang phát triển thường đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơncác nước phát triển?
4 Phân tích các dạng khác nhau của cơ cấu kinh tế Giải thích cơ cấu ngành kinh tế làphản ánh rõ rệt nhất trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
5 Để đánh giá sự phát triển xã hội, thường sử dụng các nhóm chỉ tiêu nào? Chỉ tiêutổng hợp để đánh giá xếp loại trình độ phát triển xã hội giữa các quốc gia hoặc các địaphương? Sự thể hiện các chỉ tiêu đó ở Việt Nam qua các số liệu thống kê
6 Để đánh giá tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng, thường sử dụng các chỉ tiêu nào?Nêu các chỉ tiêu đó ở Việt Nam qua số liệu thống kê của 3 đợt tổng điều tra thu nhập
1993, 1998 và 2002 và cho nhận xét?
Trang 357 Các nhân tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế theo hướng tiếp cận mô hìnhtổng cung – tổng cầu? Hãy tự đưa ra các tình huống và sử dụng mô hình tổng cung –tổng cầu để xử lý và minh họa bằng các đồ thị tương ứng.
8 Cho số liệu về GDP của Mỹ và Ấn Độ năm t (giả định nền kinh tế chỉ có thép, gạo
sản lượng (tỷ Rupee)
GDP
Tính GDP của Mỹ và Ấn Độ
9 Bảng sau là dự án đầu tư cho tăng trưởng kinh tế của nước A thời kỳ 2006-2010 Năm 2006, nước A có GDP/người là 1000$, dân số 20 triệu, tỷ lệ đầu tư trong GDP là 25%
Trang 36CHƯƠNG 2 Các mô hình tăng trưởng kinh tế
Số tiết: 6 tiết (Trong đó: 04 tiết lý thuyết; 02 tiết thảo luận)
* Mục tiêu:
- Sinh viên nắm rõ các mô hình tăng trưởng kinh tế: Mô hình cổ điển, Mô hình của K.Marx, Mô hình tân cổ điển, Mô hình của Keynes và Mô hình kinh tế hiện đại về tăng trưởng kinh tế.
- So sánh để làm rõ sự khác biệt giữa các mô hình này.
- Vận dụng từng mô hình vào phân tích quá trình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam qua các thời kỳ và định hướng chính sách trong tương lai gần.
Mô hình tăng trưởng kinh tế là một cách diễn đạt quan điểm cơ bản nhất về
sự tăng trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng Mụcđích của các mô hình này là mô tả phương thức vận động của nền kinh tế thông quamối liên hệ nhân quả giữa các biến số quan trọng trong quá trình tăng trưởng sau khi
đã tước bỏ đi sự phức tạp không cần thiết Những diễn đạt này có thể dưới dạng lờivăn, sơ đồ hoặc toán học Vấn đề khó khăn trong khoa học xã hội là ở chỗ tình hìnhthực tế vô cùng phức tạp Một mô hình đơn giản có thể dễ dàng hiểu được nhưng sẽgây ra sự mạo hiểm nghiêm trọng khi bỏ sót những yếu tố quan trọng trong thực tiễn.Ngược lại, một mô hình phức tạp chỉ có thể hiểu được trên cơ sở phân tích bằng toánhọc cao cấp
2.1 Mô hình cổ điển về tăng trưởng kinh tế
Adam Smith được coi là người khai sinh của khoa học kinh tế, với tác phẩm
“Của cải của các nước” Trong tác phẩm này ông giới thiệu những nội dung cơ bản :
- Học thuyết về “giá trị lao động”: Lao động chứ không phải đất đai, tiền bạc
là nguồn gốc cơ bản tạo ra mọi của cải cho đất nước
- Học thuyết “Bàn tay vô hình”: Tự người lao động chứ không phải ai khác biết
rõ nhất cái gì lợi cho họ Nếu không bị chính phủ kiểm soát, họ được lợi nhuận thúcđẩy, sẽ sản xuất các hàng hóa và dịch vụ cần thiết Thông qua thị trường, lợi ích cánhân sẽ gắn với lợi ích xã hội Ông cho rằng mọi cá nhân không có ý định thúc đẩy lợiích công cộng…Họ được bàn tay vô hình dẫn dắt để phục vụ một mục đích không nằmtrong ý định của mình
- Về vai trò của Chính phủ ông viết: “Bạn nghĩ rằng bạn đang giúp cho hệ
thống kinh tế bằng những quản lý đầy ý định tốt đẹp và bằng những hành động can thiệp của mình Không phải như vậy đâu Hãy để mặc tất cả, hãy để mọi sự việc xẩy
ra Dầu nhờn của lợi ích cá nhân sẽ làm cho các bánh xe kinh tế hoạt động một cách gần như kỳ diệu Không ai cần kế hoạch, không cần quy tắc, thị trường sẽ giải quyết tất cả…”.
Trang 37- Ông cũng đưa ra lý thuyết về phân phối thu nhập, theo nguyên tắc “ai có gì
được nấy” Tư bản có vốn thì có lợi nhuận, địa chủ có đất thì nhận địa tô, công nhân
có sức lao động thì nhận tiền lương Theo tác giả đây là nguyên tắc phân phối côngbằng, hợp lý
2.1.1 Các yếu tố tăng trưởng kinh tế và quan hệ giữa chúng
2.1.1.1.Các yếu tố tăng trưởng
Lý thuyết tăng trưởng của Ricardo đã nhấn mạnh đến 3 yếu tố trực tiếp tác độngđến tăng trưởng kinh tế, đó là vốn (K), lao động (L) và ruộng đất bao gồm cả số vàchất lượng (R) Hàm sản xuất của Ricardo được khái quát là:
Y = F (L, R, K)Trong đó K (vốn, tư bản) là một quỹ tiền, được xác định bằng tổng tiền lươngphải trả cho người lao động sản xuất sản phẩm, trước khi hàng hóa được bán đi vàphần tiền phải bỏ ra để mua máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất
R (đất đai) là số và chất lượng ruộng đất trong nông nghiệp Ruộng đất, theoquan điểm của Ricardo là không đổi, tức là có giới hạn, chính vì thế mà số và chấtlượng sẽ ngày càng giảm dần theo quy mô khai thác, sử dụng và tuân thủ theo nguyêntắc lợi tức giảm dần
L (lượng cung lao động) được xác định bằng số lượng lao động sẵn sàng làmviệc đủ thời gian với bất kể mức lương bao nhiều Lao động được giả định là cố địnhtrong ngắn hạn (khi dân số chưa thay đổi) nhưng lại trở nên “hoàn toàn co giãn” trongdài hạn Điều đó có nghĩa là khi lao động đã đến mức bão hòa so với một quy môruộng đất hạn chế thì người lao động sẽ được hưởng mức tiền lương như nhau và gọi
là “mức tiền lương tối thiểu”
Ricardo đã không “tin tưởng” đưa yếu tố kỹ thuật, công nghệ vào hàm sản xuất,
vì cho rằng nó tác động rất yếu ớt và lại không liên tục, không đủ sức khống chế đượcquy luật lợi tức giảm dần của ruộng đất
2.1.1.2 Mối quan hệ
- Giữa các yếu tố (K,L) có thể kết hợp với nhau theo một tỷ lệ nhất định (không
có khả năng thay thế giữa các yếu tố đầu vào lẫn nhau)
- Trong sản xuất nông nghiệp khi có nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất có biểuhiện của tỷ suất lợi nhuận giảm dần
- Trong sản xuất công nghiệp khi có nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất sẽ đạtđược hiệu quả sản xuất theo quy mô
2.1.1.3 Vai trò của đất đai
Ricardo đã cho rằng nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, quy môruộng đất sử dụng được chính là yếu tố quyết định đến tăng trưởng Để tìm ra câu trả
Trang 38lời nói trên, ông đã có sự phân tích theo một logic bắt đầu từ nguồn gốc của tăngtrưởng là tích lũy và đầu tư tư bản, cụ thể là:
Muốn tăng thu nhập thì nền kinh tế phải có tích lũy Tăng trưởng (g)
2.1.2 Phân chia các nhóm người trong xã hội và thu nhập của họ
2.1.2.1 Phân phối thu nhập
Tương ứng với các yếu tố tăng trưởng, Ricardo chia xã hội thành các nhómngười: địa chủ, nhà tư bản, công nhân Phân phối thu nhập của ba nhóm người này phụthuộc quyền sở hữu của họ với các yếu tố sản xuất: địa chủ có đất sẽ nhận được địa tô;công nhân có sức lao động thì nhận được tiền công; tư bản có vốn sẽ nhận được lợi
nhuận.
Do vậy, thu nhập của xã hội là tổng thu nhập của các tầng lớp dân cư, nghĩa là
bằng: tiền công + lợi nhuận + địa tô
Trong các nhóm người của xã hội, các nhà tư bản giữ vai trò quan trọng trongsản xuất và phân phối, đặc biệt họ là tầng lớp giữ vai trò chính thực hiện tích lũy chophát triển sản xuất
2.1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của nền kinh tế
Tổng thu nhập xã hội = Tiền công + lợi nhuận + địa tô
2.1.2.3 Vai trò của tư bản
Trong các nhóm người của xã hội, các nhà tư bản giữ vai trò quan trọng trongsản xuất và phân phối, đặc biệt họ là tầng lớp giữ vai trò chính thực hiện tích lũy chophát triển sản xuất
2.1.3 Sự cân bằng của nền kinh tế và vai trò của chính phủ
2.1.3.1 Sự cân bằng của nền kinh tế
Các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng, thị trường với bàn tay vô hình dẫn dắt đãgắn lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, làm linh hoạt giá cả và tiền công, hình thành vàđiều chỉnh các cân đối kinh tế, bảo đảm công việc làm đầy đủ Đây là quan điểm cungtạo nên cầu
ADO
AD1
Trang 39Hình 2: Đường Cung cầu theo mô hình trường phái cổ điển
Trong mô hình này, đường cung AS luôn là đường thẳng đứng ở mức sản lượngtiềm năng Đường cầu AD thực chất là đường biểu thị hàm cung tiền, được xác địnhbởi mức giá, không quan trọng với việc hình thành sản lượng Điều này cũng có nghĩa
là các chính sách kinh tế không có tác động đáng kể vào hoạt động kinh tế
2.1.3.2 Vai trò của Chính phủ
Các chính sách kinh tế không có tác động đáng kể vào hoạt động kinh tế, thậmchí các hính sách kinh tế nhiều khi lại hạn chế khả năng phát triển kinh tế Ví dụ chínhsách thuế, xét cho cùng thuế lấy từ lợi nhuận, tăng thuế sẽ làm giảm tích lũy hoặc làmtăng giá cả hàng hóa dịch vụ
Về chi tiêu của Chính phủ, các nhà kinh tế học cổ điển cho đó là những chi tiêu
“không sinh lời” Ricardo chia những người làm việc thành hai nhóm Những ngườilàm việc trực tiếp và gián tiếp tạo ra sản phẩm là những lao động sinh lời, còn nhữngngười khác là lao động không sinh lời Do những hoạt động không sinh lời này mà khảnăng phát triển kinh tế bị giảm bớt
2.2 Mô hình của K.Marx về tăng trưởng kinh tế
K.Marx (1818-1883) là nhà kinh tế, xã hội, chính trị, lịch sử và triết học xuấtsắc Tác phẩm nổi tiếng của ông là bộ “Tư bản” Những quan điểm của ông về pháttriển kinh tế có thể tóm lược như sau:
2.2.1 Các yếu tố tăng trưởng kinh tế
Theo Marx, các yếu tố tác động đến quá trính tái sản xuất là đất đai, sức laođộng, vốn và tiến bộ kỹ thuật
- Về yếu tố sức lao động: Tác giả cho rằng sức lao động là yếu tố duy nhất tạo
ra giá trị thặng dư Thời gian lao động của công nhân chia ra hai phần, thời gian laođộng cho mình (v) và thời gian lao động cho nhà tư bản (m) Tỷ lệ m/v phản ánh mức
độ bóc lột công nhân của nhà tư bản
- Về yếu tố kỹ thuật: Mục đích của nhà tư bản là tăng giá trị thặng dư Muốn
vậy họ phải tăng thời gian lao động, giảm tiền lương của công nhân, tìm mọi cáchnâng cao năng suất lao động Hai hình thức đầu có giới hạn trong khoảng nhất định.Cho nên, tăng năng suất lao động thông qua cải tiến kỹ thật là con đường cơ bản đểtăng khối lượng giá trị thặng dư (đồng thời cũng làm tăng quy mô kinh tế)
Marx cho rằng, tiến bộ kỹ thuật làm tăng mức trang bị kỹ thật cho công nhân, vìvậy cấu tạo hữu cơ (c/v) cũng ngày càng tăng lên
Để trang bị kỹ thuật, nhà tư bản phải đầu tư bằng cách phân chia giá trị thặng
dư thành phần tiêu dùng cho mình và phần cho tích lũy Đây là nguyên lý của tích lũy
tư bản chủ nghĩa
Trang 402.2.2 Phân phối thu nhập
- Cũng như Ricardo, Marx cho rằng, khu vực sản xuất của cải vật chất cho xãhộigồm ba nhóm người: địa chủ, nhà tư bản và công nhân Tương ứng thu nhập của banhóm người này là địa tô, lợi nhuận, tiền công
- Khác với Ricardo, Marx cho rằng phân phối này là bất hợp lý, mang tính chấtbóc lột Một phần tiền công, đáng ra người công nhân được hưởng lại bị nhà tư bản vàđịa chủ chiếm lấy Địa chủ và nhà tư bản thuộc giai cấp bóc lột Công nhân là giai cấp
bị bóc lột
2.3.3 Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá kết quả hoạt động
2.3.3.1 Căn cứ xác định chỉ tiêu
- Dựa vào tính chất hoạt động của các khu vực trong nền kinh tế
- Dựa vào tính hai mặt của lao động tác giả phân chia sản phẩm xã hội thành 2hình thái hiện vật và giá trị
- Dựa vào công dụng của sản phẩm Marx chia sản phẩm xã hội thành hai bộphận tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
2.3.3.2 Chỉ tiêu
+ Tổng sản phẩm xã hội:
- Về mặt hiện vật: TSPXH = Tổng giá trị TLSX + Tổng giá trị TLTD
- Về mặt giá trị: TSPXH = C + V + m
+ Thu nhập quốc dân:
- Về mặt hiện vật: TSPXH = Tổng giá trị TLTD + 1 bộ phận giá trị hàng hóa làTLSX dùng để tái sản xuất mở rộng
- Về mặt giá trị: TNQD = V + m
2.3.4 Chu kỳ sản xuất và vai trò của chính sách kinh tế
- Marx bác bỏ quan điểm cung tạo ra cầu và sự bế tắc của tăng trưởng do giớihạn về đất đai của các tác giả cổ điển và cho rằng, nguyên tắc cơ bản của sự vận độngcủa tiền và hàng trên thị trường là phải bảo đảm thống nhất giữa hiện vật và giá trị.Nếu khối lượng hàng hóa cần bán cách biệt quá xa với sức mua sẽ tạo ra khủng hoảng.Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản thường là khủng hoảng thừa do cung tăng lênnhanh để tối đa hóa lợi nhuận trong khi sức cầu tăng chậm bởi tích lũy tư bản Khủnghoảng là một “giải pháp” để lập lại thế cân bằng mới của quan hệ tiền – hàng Khủnghoảng diễn ra với những phân kỳ và đặc điểm của nó
- Theo Marx, chính sách kinh tế của Chính phủ có vai trò quan trọng, đặc biệt làchính sách khuyến khích, nâng cao sức cầu hiện có