I. KIẾN THỨC CƠ BẢN: 1. Vài nét về tiểu sử: Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (04101920 – 09122002) tại làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là một tác gia có vị trí đặc biệt quan trọng, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Namnhư Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. tại làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. 2. Nét nổi bật trong giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu: Ở tập thơ Việt Bắc, Tố Hữu hướng vào thể hiện con người quần chúng kháng chiến, trước hết là công nông binh với những phẩm chất tốt đẹp mà nhà thơ ngợi ca cảm phục. Cái tôi của nhà thơ ẩn mình đi đằng sau các hình ảnh anh vệ quốc quân, chị nông dân, anh bộ đội, người mẹ nông dân, chị phụ nữ, em bé liên lạc...Trên tất cả, tập trung và tiêu biểu cho mọi phẩm chất của dân tộc, của con người kháng chiến là hình ảnh Bác Hồ. Việt Bắc là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp, phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và những bước đi lên của cuộc kháng chiến cho đến ngày thăng lợi. Tập thơ kết tinh những tình cảm lớn của con người Việt Nam, kháng chiến, mà thống nhất mà bao trùm là tình yêu nước, một tình cảm thấm sâu vào mọi bình diện và mọi quan hệ đời sống, được biểu hiện trong nhiều trạng thái phong phú đa dạng: tình quân dân cá nước, tình hậu phương tiền tuyến, miền ngược với miền xuôi, tình nghĩa gắn bó giữa cán bộ và quần chúng, lòng kính yêu của nhân dân với lãnh tụ... Vào những năm cuối của cuộc kháng chiến, những sự kiện lịch sử trọng đại như chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình lập lại nửa nước được giải phóng...đã chắp cánh cho hồn thơ Tố Hữu bay bổng và rộng mở trong cảm hứng sử thi trữ tình mang hào khí thời đại, tiếp thu nhiều giá trị văn hoá dân gian như lối đối đáp, lối xưng hô mìnhta...và kế thừa những thành tựu thơ ca dân tộc, nhất là lục bát, mang lại cho Việt Bắc một nghệ thuật thơ nhiều tính dân tộc và đại chúng.
Trang 1VIỆT BẮC
-TỐ
HỮU-I KIẾN THỨC CƠ BẢN:
1 Vài nét về tiểu sử:
Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (04/10/1920 – 09/12/2002) tại làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
là một tác gia có vị trí đặc biệt quan trọng, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Namnhư Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
tại làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
2 Nét nổi bật trong giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu:
- Ở tập thơ Việt Bắc, Tố Hữu hướng vào thể hiện con người quần chúng kháng chiến, trước hết là công nông binh với những phẩm chất tốt đẹp mà nhà thơ ngợi ca cảm phục Cái tôi của nhà thơ ẩn mình đi đằng sau các hình ảnh anh vệ quốc quân, chị nông dân, anh bộ đội, người mẹ nông dân, chị phụ
nữ, em bé liên lạc Trên tất cả, tập trung và tiêu biểu cho mọi phẩm chất của dân tộc, của con người kháng chiến là hình ảnh Bác Hồ
- Việt Bắc là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp, phản ánh
những chặng đường gian lao, anh dũng và những bước đi lên của cuộc
kháng chiến cho đến ngày thăng lợi Tập thơ kết tinh những tình cảm lớn của con người Việt Nam, kháng chiến, mà thống nhất mà bao trùm là tình yêu nước, một tình cảm thấm sâu vào mọi bình diện và mọi quan hệ đời sống, được biểu hiện trong nhiều trạng thái phong phú đa dạng: tình quân dân "cá nước", tình hậu phương tiền tuyến, miền ngược với miền xuôi, tình nghĩa gắn bó giữa cán bộ và quần chúng, lòng kính yêu của nhân dân với lãnh tụ
- Vào những năm cuối của cuộc kháng chiến, những sự kiện lịch sử trọng đại như chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình lập lại nửa nước được giải
phóng đã chắp cánh cho hồn thơ Tố Hữu bay bổng và rộng mở trong cảm hứng sử thi - trữ tình mang hào khí thời đại, tiếp thu nhiều giá trị văn hoá dân gian như lối đối đáp, lối xưng hô "mình-ta" và kế thừa những thành tựu thơ ca dân tộc, nhất là lục bát, mang lại cho Việt Bắc một nghệ thuật thơ nhiều tính dân tộc và đại chúng
Trang 4II KIẾN THỨC CƠ BẢN:
1, Tám dòng thơ đầu
Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10/1954, khi Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ từ biệt chiến khu Việt Bắc, nhân dân Việt Bắc về Hà Nội sau gần 15 năm gắn bó
Trong cuộc tiễn đưa đầy lưu luyến bịn rịn của việt Bắc đối với người về xuôi, khúc hát chia tay đã được bắt đầu cất lên từ chính lòng người ở lại Tố Hữu như muốn nói lòng người Việt Bắc thủy chung với Cách mạng biết nhường nào Ngay từ câu thơ mở đầu trong sáu tiếng đã có tới 2 tiếng
“mình” thân thương Sự trở đi trở lại tiếng gọi đối với mình như để nói lòng người Việt Bắc không nguôi nhớ người về xuôi nhưng lại cũng như xoáy sâu vào ký ức của người về xuôi những kỷ niệm chan chứa nghĩa tình Cũng ngay từ câu thơ mở đầu những chữ “mình, ta” đã như quấn quýt với nhau, như sự gắn bó không muốn chia xa giữa người ở và người về Âm điệu của câu thơ chủ yếu được tạo bởi thanh bằng với một chữ “ta” ở cuối làm cho tình cảm nhớ thương vừa lắng vào lòng người trong cuộc chia tay lại lan ra mênh mang
Kết cấu của hai câu thơ mở đầu là kết cấu của một câu hỏi tu từ, câu hỏi khơi gợi những kỷ niệm tha thiết mặn nồng, câu hỏi bao trùm cả không gian của 15 năm ấy Câu hỏi thường có tác dụng khơi sâu vào lý trí của người nghe nhưng ở đây câu hỏi lại khơi gợi những kỷ niệm đầy xúc động của 15 năm Cách mạng đã gắn bó với Việt Bắc để làm nên một Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Bởi, Tố Hữu đã sử dụng một chữ “15 năm ấy” gợi ta nhớ tới cái
“thuở ban đầu” của tình yêu đã từng được nói tới trong hơ của Lưu Trọng Lư
“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy Nghin năm hồ dễ đã ai quên”
Người về làm sao có thể quên được 15 năm ây của mối tình đầu giữa Việt Bắc và Cách mạng Cùng với sự khơi gợi những tình cảm trong sáng, mạnh
mẽ, những tình cảm “nghìn năm hồ dễ đã ai quên” câu thơ được tiếp tục bởi những chữ “thiết tha, mặn nồng” Một câu thơ viết về 15 năm của Cách Mạng, của kháng chiến mà nồng nàn, mà tha thiết mà trữ tình biết bao
Vẫn là một câu hỏi mà người ở lại hướng tới người về xuôi, vẫn là một cách xưng hô hết sức tình tứ “mình” với “ta” nhưng ở hai dòng thơ tiếp theo lại là câu hỏi bao trùm cả không gian, không gian của cuộc chia tay, không gian của những kỉ niệm qua suốt 15 năm ấy, không gian của cả đất nước bao trùm
cả miền ngược lẫn miền xuôi, không gian của cây với núi, của sông với nguồn Một câu hỏi làm bâng khuâng cả núi rừng sông suối, cả đất trời trong khung cảnh chia tay Dường như ở đâu trong thời điểm ấy cũng có sự hòa
Trang 5hợp giữa niềm vui và nỗi nhớ vì sự chia tay giữa mình và ta là một sự kiện lớn lao trong đời sống của Đất nước
Cái đặc sắc của câu thơ không chỉ thể hiện qua kết cấu của câu hỏi, qua từ ngữ xưng hô tình tứ mà còn qua những hình ảnh như được viết ra từ thể hứng, thể phú, thể tỉ trong ca dao Đọc câu thơ
“Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”
Ta ngỡ như đọc câu ca dao:
“Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
Hay
“Qua cầu ngả nón trông cầu Câu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu”
Thơ Tố Hữu viết về những vấn đề chính trị mà vẫn thấm cái hồn của ca dao, dân ca Bốn câu thơ như một bài ca dao vậy, chất trữ tình gắn liền với những băn khoăn trăn trở của người ở lại, của Việt bắc vô cùng thủy chung với Cách mạng Tố Hữu đã chọn một cách nói để khơi nguồn cho cảm xúc xuyên suốt văn bản hết sức đặc sắc
Mạch thơ từ những câu thơ mở đầu này cứ thế tuôn chảy dào dạt
Nằm trong mạch hát đối đáp bài thơ đã dành đúng 4 dòng thơ diễn tả tâm trạng người về xuôi, tạo nên sự cân đối với 4 dòng thơ mở đầu, tạo nên sự tương xứng với sự thủy chung của Việt Bắc Ở 4 dòng thơ này như có sự nhớ thương đáp lại nhớ thương, tha thiết đáp lại với tha thiết cái bịn rịn không nỡ rời chân đáp lại cái mặn nồng của người ở lại Nằm trong mạch cảm xúc như của tiếng hát giữa đôi lứa yêu nhau, Tố Hữu buông một câu thơ rất tình tứ
“Tiếng ai tha thiết bên cồn”
Chỉ cáo một chữ “ai” đâu phải để hỏi vì muốn biết “ai” Chữ “ai” đâu cũng còn là đại từ phiếm chỉ để chỉ chung, chỉ một đối tượng không xác định bởi đây cả “ta” lẫn “mình” đang lên tiếng hát cho cuộc chia tây đầy lưu luyến Chữ “ai” chỉ là một cách nói để làm tăng thêm tình cảm yêu thương, để câu nói trở nên tình tứ mà thôi Người về xuôi trong nỗi niềm xúc động như mở rộng tâm hồn, mở rộng nỗi lòng của mình để đón nhận cái thiết tha của những tình cảm thủy chung kia để rồi bày tỏ tình cảm của mình Đó là trạng thái:
“Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi”
Những chữ “bâng khuâng” “bồn chồn” diễn tả rất chính xác trạng thái tình cảm của người về xuôi “Bâng khuâng” chính là nỗi niềm thương nhớ đối với cảnh, đối với người, đối với cuộc sống đã trở thành kỉ niệm của những
Trang 6ngày kháng chiến, những kỷ niệm còn vương vấn, còn dâng đầy trong tâm trí người về xuôi
Bước chân về xuôi mà lòng dường như vẫn còn vấn vương với Việt Bắc, còn
“bồn chồn” là một từ đã tâm trạng hóa bước đi của người về xuôi, những bước đi không nỡ rời mảnh đất yêu thương qua 15 năm ấy Mỗi bước đi lại mỗi nhớ nhung, mỗi bước đi mỗi bước không yên bởi nỗi niềm thương nhớ ấy
Với câu thơ thứ 3 ở khổ thơ này Tố Hữu đã bất ngờ làm hiện ra ý nghĩa lịch
sử của cuộc chia tay Bởi với những dòng thơ mở đầu trước đó, tiếng hát đối đáp như chỉ của mình với ta, của đôi lứa yêu nhau, đột nhiên cuộc chia tay
ấy trở thành cuộc chia tay lớn của cả Việt Bắc đối với cuộc kháng chiến Từ một hình ảnh hoán dụ
“Áo chàm đưa buổi phân li”
Cả Việt Bắc như ngẩn ngơ trong cuộc chia tay lịch sử ấy, Hình ảnh “áo chàm” dùng để chỉ hình ảnh của Việt Bắc trong thủ pháp hoán dụ Cái ngẩn ngơ của VB hiện ra ở những chữ “đưa buổi phân li” Trong khi đó câu thơ:
“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Không chỉ thể hiện cái lặng đi trong giấy phút xúc động của người về xuôi
mà còn diễn tả cái ngập ngừng, bịn rịn, lưu luyến trong bước chân của người
về xuôi qua sự đột biến của nhịp điệu câu thơ Bởi, câu thơ lục bát vốn có kết cấu của những nhịp chẵn đều đặn, mang cái dìu dặt của khúc hát chia tay
đã chuyển thành nhịp lẻ 3/3/2:
“Cầm tay nhau/biết nói gì/hôm nay”
Nhịp điệu ấy gợi ta nhớ tới cảnh chia tay trong câu thơ
“Bước đi một bước giây giây lại dừng”
Sự thay đổi nhịp điệu của câu thơ còn làm cho đoạn thơ có sự đổi mới đối với cảm xúc của người đọc câu thơ đã làm cho người đọc không rơi vào cái tiết tấu quá đều đặn qua suốt 8 dòng thơ mà trở nên mòn, chán
2, Đoạn thơ: “Mình đi có nhớ những ngày Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”
Nhắc đến Tố Hữu thì ai cũng biết ông là một trong những nhà thơ trữ tình Cách Mạng hàng đầu của nền văn học Việt Nam Thơ Tố Hữu là tiếng thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người Cách mạng và cuộc sống Cách Mạng Bài “Việt Bắc” là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác thơ của Tố Hữu nói riêng, của thơ kháng chiến chống Pháp nói chung.Có thế nói, “Việt Bắc” là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca, thế hiện ân tình sâu nặng, thủy chung của nhà thơ đối với căn cứđịa Cách Mạng cả nước Điều này càng được khắc họa rõ nét hơn trong khổ thơ:
“Mình đi,có nhớ những ngày
………
Trang 7Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”
“Việt Bắc” là tác phẩm trường thiên,dài 150 dòng,được Tố Hữu viết vào tháng 10/1954 khi Trung ương Đảng và chính phủ, Bác Hổ và cán bộ từ giã
“Thủ đô gió ngàn” để về với “Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình” Bao trùm đoạn thơ là một niềm hoài niệm nhớ thương về những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc, là nỗi nhớ da diết, tâm trạng bâng khuâng, lưu luyến của kẻ ở người đi – người miền ngược và người đi kháng chiến
Mở đầu đoạn thơ là hàng loạt câu hỏi rất ngọt ngào:
“Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mưa
Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”
Ở khổ thơ, xuất hiện một loạt cụm từ “có nhớ”, điều này gợi cho ta cảm nhận được tâm trạng của người ở lại – một tâm trạng quan tâm, lo lắng không biết: “Cán Bộ về xuôi, Cán Bộ có còn nhớ chiến khu Việt Bắc nữa không ?” Để cho Việt Bắc hỏi là vì nhà thơ muốn khơi gợi lại những ngày kháng chiến gian khổ Nhớ thiênnhiên Việt Bắc “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” , câu thơ đã đặc tả được cảnh thiên nhiên hoang sơ, thời tiết khắc nghiệt nơi núi rừng Việt Bắc, tuy khung cảnh có chút ảm đạm nhưng vẫn mang đậm chất trữ tình, thơ mộng, phóng khoáng và hùng vĩ Ngoài việc phải đối mặt với sự khắc nghiệt,khó khăn của thiên nhiên, “mình và ta” còn phải đối diện với cuộc sống thiếu thốn,đầy gian khổ “miếng cơm chấm muối” Hình ảnh hoán dụ “mối thù nặng vai”, gợi liên tưởng đến “mối thù” sâu nặng của nhân dân đối với những kẻ cướp nước, những kẻ đan tâm bán nước ta cho giặc Đồng thờ còn là lời nhắc nhở kín đáo của người ở lại về một thời rất đỗi tự hào, “mình và ta” đã cùng sát cánh bên nhau, cùng nhau tiêu điệt kẻ thù chung, giành lại độc lập tự do và đem đến cho nhân dân cuộc sống hạnh phúc, ấm no Ngệ thuật tiểu đối kết hợp với cách ngắt nhịp 2/2/2 -4/4 đều đặn khiến cho câu thơ trở nên nhịp nhàng, cân đối, lời thơ càng thêm tha thiết
Tiếp mạch cảm xúc, vẫn là những lời hỏi của Việt Bắc nhưng ẩn chứa trong vần thơ lại là lời bộc bạch tâm sự của
người ở lại, bày tỏ tình cảm lưu luyến với cán bộ về xuôi:
“Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già”
Tố Hữu đã sử dụng biện pháp hoán dụ “rừng núi nhớ ai” – “rừng núi” chính
là hình ảnh người ở lại, còn đại từ “ai” là chỉ người cán bộ về xuôi – nhằm nhấm mạnh tình cảm thắm thiết và nỗi nhớ da diết của nhân dân Việt Bắc đối với những người kháng chiến, với Đảng và chính phủ Thiên nhiên và
Trang 8con người Việt Bắc nhớ cán bộ về xuôi nhiều đến mức “trám bùi để rụng, măng mai để già” – “trám bùi và măng mai” là hai món ăn thường nhật của
bộ đội, của cán bộ kháng chiến; đồng thời cũng là “đặc sản” của thiên nhiên Việt Bắc “Mình về” khiến núi rừng Việt Bắc bỗng trở nên trống vắng, buồn
bã đến lạ thường, ngay cả khi “trám bùi – măng mai” mà cũng không ai thu hái Người ở lại đã bộc lộ tình cảm của mình thật chân thành và tha thiết Nhân dân Việt Bắc vẫn tiếp tục hỏi, nhưng ở đoạn thơ này lời hỏi được nhấn mạnh hơn, thể hiện cụ thể và rõ ràng hơn: “Cán Bộ về xuôi có nhớ cảnh vật Việt Bắc, con người Việt Bắc, nhớ những năm tháng cùng nhau kháng chiến hay không ?”
“Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, có nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh.”
Cụm từ “nhớ những nhà” – biện pháp hoán dụ - gợi cho ta cảm nhận được tâm trạng lo lắng không biết rằng: Cán bộ có nhớ những người dân Việt Bắc hay không ?Chứ nhân dân Việt Bắc nhớ cán bộ nhiều lắm,nhớ đến nỗi ”hắt hiu lau xám”.Từ láy “hắt hiu” kết hợp với hình ảnh đặc trưng của thiên nhiên Việt Bắc “lau xám” càng làm nổi bật hơn khung cảnh hoang vắng,đơn
sơ, im lặng nơi núi rừng Nhưng đối lập với khung cảnh ấy là “tấm lòng son”, tấm lòng ấm áp và chân thành của con người Việt Bắc Ngoài ra, nhân dân Việt Bắc còn muốn biết thêm rằng: Cán bộ về xuôi có nhớ “núi non”, nhớ thiên nhiên Việt Bắc hùng vĩ hay không? Có nhớ khoảng thời gian cùng nhau “kháng Nhật”, “thuở còn làm Việt Minh” hay không? Chính nghĩa tình của đồng bào Việt Bắc đối với bộ đội, với Cách Mạng; sự đồng cảm cùng san sẻ mọi gian khổ, niềm vui, cùng gánh vác nhiệm vụ nặng nề, khó khăn làm cho Việt Bắc – quê hương của Cách Mạng, cội nguồn nuôi dưỡng cho Cách Mạng – càng thêm ngời sáng trong tâm trí nhà thơ nói riêng và trong lòng người đọc nói chung Kết lại đoạn thơ là nỗi nhớ về những địa danh lịch sử:
“Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.”
Chỉ với hai câu thơ,nhưng tác giả đã gửi gắm rất nhiều tình cảm, ẩn chứa rất nhiều điều; đặc biệt là ở câu thơ sáu chữ có đến ba từ “mình” quyện vào nhau nghe thật tha thiết và chân thành Từ “mình” thứ nhất và thứ hai được dùng để chỉ người cán bộ về xuôi, còn từ “mình” thứ ba ta có thể hiểu theo nhiều cách Nếuhiểu theo nghĩa rộng, “mình” là Việt Bắc – đại từ nhân xưng ngôi thứ hai – thì câu thơ mang hàm ý: Cán bộ về xuôi, về Hà Nội không biết cán bộ có còn nhớ đến nhân dân Việt Bắc, nhớ đến người ở lại không?”
Ở nghĩa hẹp
Trang 9hơn, “mình” chính là cán bộ về xuôi – đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất – khiến cho câu thơ được hiểu theo một nghĩa khác: Cán bộ về xuôi, cán bộ có nhớ chính mình hay không? Có còn nhớ đến quá khứ của bản thân, nhớ những năm tháng chiến đấu gian khổ vì lí tưởng cao đẹp,vì độc lập tự do của dân tộc hay không?”
Với cách hiểu thứ hai này, người ở lại đã đặt ra một vấn đề có tính thời sự,
sợ rằng mọi người sẽ ngủ quên trên chiến thắng, quên đi quá khứ hào hùng của mình, thậm chí sẽ phản bội lại lí tưởng cao đẹp của bản thân Nhà thơ Tố Hữu đã hình dung trước được diễn biến tâm lý của con người sau chiến thắng, đây quả là câu thơ mang tính trừu tượng và triết lý sâu sắc
“Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.”
Ở câu thơ cuối trong khổ ba, người ở lại nhắc đến hai địa danh nổi tiếng gắn liền với hai sự kiện quan trọng đã từng diễn ra ở Việt Bắc Địa điểm thứ nhất: sự kiện “cây đa Tân Trào” (12/1944), đây là nơi đội Việt Namtuyên truyền giải phóng quân làm lễ xuất phát, lúc đầu chỉ với mấy chục thành viên nhưng sau đó trở thành đội quân Việt Nam- lực lượng chủ chốt đã làm nên chiến thắng ngày hôm nay CÒn địa điểm thứ hai là tại đình “Hồng Thái” nơi Bác đã chủ trì cuộc họp (8/1945) quyết định làm cuộc Cách Mạng Tháng 8; chính nhờ quyết định sáng suốt này mà cuộc kháng chiến chống Pháp đã thành công vang dội,có thể giành lại độc lập tự do cho nước nhà Tố Hữu lồng hai địa danh lịch sử vào trong câu thơ nhằm nhấn mạnh câu hỏi của người ở lại, đồng thời còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng: Không biết rằng cán bộ về xuôi có còn nhớ rằng Việt Bắc chính là cái nôi của Cách mạng, là nguồn nuôi dưỡng Cách Mạng hay không? Và liệu rằng cán bộ về xuôi có còn thủy chung, gắn bó với Việt Bắc như xưa không hay là đã thay lòng đổi dạ?”
Chỉ với 12 câu thơ trong khổ 3 của bài Việt Bắc, Tố Hữu đã đưa ta vào thế giới của hoài niệm và kỉ niệm, vào một thế giới êm ái,ngọt ngào, du dương của tình nghĩa Cách Mạng Cái hay nhất trong khổ thơ chính là Tố Hữu đã
sử dụng rất khéo léo và đặc sắc hai cụm từ đối lập “mình đi – mình
về”.Thông thường, đi và về là chỉ hai hướng trái ngược nhau, nhưng ở trong khổ thơ này thì “mình đi – mình về” đều chỉ một hướng là về xuôi,về Hà Nội.Với lối điệp cấu trúc kết hợp nhịp thơ 2/2/2 - 4/4 đều đận, khiến cho âm điệu thơ trở nên nhịp nhàng, cân xứng giống như nhịp chao của võng đong đưa, rất phù hợp vối phong cách thơ trữ tình –chính trị của Tố Hữu.“Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc” của Tố Hữu đã góp phần tạo nên sự thành công cho bài Việt Bắc Những chi tiết về ánh sáng và tình người, từ “miếng cơm chấm muối, trám bùi,măng mai, mái nhà hắt hiu lau xám ” đến “mối thù” hai vai chung gánh, những
Trang 10“tấm lòng son” sẽ không bao giờ phai nhạt,sẽ sống mãi trong lòng nhà thơ
và trong tâm trí của người dân Việt Bắc,của những cán bộ về xuôi
3 Đoạn thơ:
“Ta với mình, mình với ta
Chày đêm, nên cối đều đều suối xa”
a Người ra đi khẳng định lòng chung thủy và tình cảm thiết tha với cội nguồn cách mạng:
“Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”
- Ở đoạn đầu của bài thơ, người Việt bắc trong nỗi niềm của người ở lại: Sợ người ra đi trở về thành thị sẽ quên mất mình (Sáng đèn có nhớ mảnh trăng giữa rừng) Niềm phấp phỏng ấy được diễn tả bằng một câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ”, “Mình đi có nhớ “ Vì vậy 4 câu thơ trên là câu trả lời,
sự khẳng định của người ra đi
- Lời thơ óng ả, dịu dàng, tình tứ với lối xưng hô thân mật, ngọt ngào của ca dao, dân ca “ta - mình” Nỗi nhớ của người cách mạng về quê hương Biệt Bắc giống như nỗi nhớ của những đôi lứa yêu nhau Sự sắp xếp từ liền đôi, thành cặp trong câu đã có đảo trật tự từ “Ta với mình, mình với ta” vừa gợi
ra sự bịn rịn, lưu luyến, quấn quýt không muốn rời xa của “ta” và “mình”, vừa khéo léo khẳng định tấm lòng của “ta” cũng giống như “mình”
- Những từ ngữ chỉ thời gian mãi mãi “sau, trước” chỉ tình cảm trước sau như một, không nhạt phai, đinh ninh “mặn mà” xuất hiện liên tiếp trong một câu thơ đã khẳng định một cách chắc chắn lòng son sắt của những người kháng chiến về xuôi Câu thơ “Lòng ta sau trước mặn mà” đinh ninh vừa là lời an ủi, vỗ về vừa là lời thề thủy chung sâu nặng
- Mượn cách so sánh, ví von quen thuộc của ca dao để giãi bày nỗi nhớ da diết, không vơi cạn:
“Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”
b Nỗi nhớ thiên nhiên, con người Việt Bắc được diễn tả cụ thể qua nhiều kỉ niệm:
“Nhớ gì như nhớ người yêu
Chày đêm nện cối đều đều suối xa”
* Nỗi nhớ thiên nhiên Việt Bắc: